PHAÀN 1
LYÙ THUYEÁT
ANTEN
CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM TRƯỜNG ĐIỆN
TỪ
oOo
I. Đặc điểm sóng điện từ.
Toàn bộ lý thuyết anten được xây dựng trên cơ sở của sóng điện
từ. Điện trường và từ trường đồng thời tồn tại trong không gian thống
nhất tạo thành trường điện từ.
Trường điện từ là một dạng vật chất cơ bản, chuyển động với
vận tốc c trong mỗi hệ quy chiếu quán tính trong chân không; nó thể
hiện sự tồn tại và vận động qua những tương với một dạng vật chất
khác là những hạt hoặc những môi trường chất mang điện.
Trường điện từ có mang năng lượng và nhiệt độ:
)DHBE(
2
1
W +=
(
3
m
J
)
Trường điện từ đặc trưng bởi các đại lượng sau :
E
: vector cường độ điện trường (
m
V
)
∂
∂
+=
(1.2)
ρ=Ddiv
(1.3)
0Bdiv =
(1.4)
Ngoài ra còn có phương trình liên hệ :
EED
r
εε=ε=
ο
(
2
m
C
) (1.5)
HHB
r
µµ=µ=
ο
(
T
m
Vs
2
=
) (1.6)
m
A
)
Đối với môi trường chân không
)
m
F
(
36
10
9
π
=ε=ε
−
ο
101
r
÷=ε
:các điện môi thông thường
1
r
=ε
: không khí
43
r
1010 ÷=ε
: một số muối senhet
:µ
hệ số từ thẩm của môi trường (
m
)
Tương tự :
B
=
Bo
cos( t -
)
V
x
Eo
,
Bo
, phụ thuộc điều kiện đầu.
Hàm
E
( x,t ) và
B
( x,t ) là các hàm sóng, như vậy điện trường
và từ trường lan truyền trong không gian dưới dạng sóng .
Vậy sóng điện từ là trường điện từ biến thiên truyền đi trong
không gian. Sự lan truyền của sóng điện từ thể hiện qua sự lan truyền
năng lượng điện từ, các cường độ trường (sóng E, sóng H )và các thế
(sóng A, sóng ϕ).
Theo dạng các mặt phẳng đồng pha của sóng điện từ mà ta có
sóng điện từ phẳng, sóng trụ hoặc sóng cầu Sóng điện từ phẳng là
sóng điện từ có mặt đồng pha là mặt phẳng, phương truyền của sóng
phẳng ở mọi nơi đều vuông góc với một mặt phẳng xác đònh.
Sóng điện từ được gọi là đơn sắc hay đều hòa nếu các vector
cường độ điện trường, từ trường biến đổi hình sin theo thời gian với một
tần số wxác đònh.
theo nhau).
β
ω
=
p
v
(1.8)
trong đó β gọi là hệ số pha (rad/m)
f. Năng lượng và năng thông.
- Năng lượng sóng điện từ là năng lượng của trường điện từ.
Năng lượng này tồn tại trong vùng không gian có sóng điện từ.
- Năng thông là năng lượng truyền đi một đơn vò diện tích trong một
đơn vò thời gian.
Đònh nghóa :Vectơ Poynting.
Là vector mật độ dòng công suất điện từ, vector đó bằng công suất
điện từ chảy qua một đơn vò diện tích đặt vuông góc với dòng chảy
ExH=δ
III. Sóng điện từ trong môi trường bán dẫn điện đồng chất:
Ta có điện dẫn suất của môi trường γ
≠
0 khi đó hệ thống các
phương trình Maxwell là:
rot
H
=
Eγ
+
t
D
Từ sự tương ứng trên sau khi khảo sát người ta rút ra kết luận :
1. Sóng thộc loại sóng ngang.
2. Vectơ cường độ điện trường và từ trường vuông góc với nhau và cả
hai đều vuông góc với phương truyền sóng.
3. Sóng lan truyền bò môi trường hấp thụ làm suy giảm biên độ. Mức độ
suy giảm theo hàm mủ đặc trưng bởi thừa số với σ =
ρ
λ
π
=ρ
2
c
w
(1.10) là hệ số hấp thụ.
4. Điện trường và từ trường truyền đi với vận tốc giống nhau v= c/n
(m/s).
5. Ở một điểm trong không gian từ trường lệch pha với điện trường một
góc.
ϕ = arctg
n
ρ
(độ)
6. Biên độ cường độ điện trường và từ trường có quan hệ với nhau bởi
biểu thức :
H
m
=
π
ρ+
lan (tốc độ kí hiệu là c). Sóng có bước sóng 2m chuyển động với tốc độ
10m trên giây phải dao động với tần số là 5 chu kì trên giây.Mối quan
hệ giữa các yếu tố như sau:
Tốc độ bằng tần số x bước sóng
Hoặc C = f x λ (1.11)
Bằng cách suy luận từ sóng biển có thể chứng minh được sự thật xa
hơn. Một hòn đá ném xuống hồ cho thấy sóng sẽ truyền lan ra với tốc
độ cố đònh ở mọi hướng nếu như nó không bò cản trở.
Sóng vô tuyến có đầy đủ các đặc tính vừa mô tả khác nhau về bản
chất ở chổ sóng vô tuyến là sóng điện từ nó tạo nên bởi trường điện và
trường từ, mà không phải là chấn động cơ học. Sóng điện từ có đặc tính
với sóng ánh sáng, mặc dù bước sóng của chúng dài hơn yếu tố này
ảnh hưởng rất lớn đến đặc tính của chúng. Khi nói đến chúng người ta
thường dùng khái niệm điện hơn khái niệm từ, cường độ của chúng
đựơc đo bằng vol/
m
, công suất đo bằng oat/
2
m
. Sự tồn tại của năng
lượng trong sóng điện từ được chứng minh bởi một sự thực là nó cảm
ứng dòng điện trong vật chất mà nó tiếp xúc. Sóng vô tuyến có trục
điện và trục từ vuông góc nhau. Sự đònh hướng các trục này trong
không gian gọi là phân cực và chúng đựơc biểu diễn theo hướng của
trục điện. Bước sóng của sóng vô tuyến hiện nay thường nằm trong
khoảng 20.000m đến 4mm . Tốc độ của chúng trong không gian tự do
là cố đònh khoảng 300 triệu mét hoặc 161800 hải lý trên giây. Giá trò
này được sử dụng rộng rãi khi xét sự truyền lan của sóng trong khí
quyển. Vì tốc độ là cố đònh, khi tần số tăng thì bước sóng giảm. Ví dụ
dưới đây chỉ rõ công thức đưa ra ở trên được sử dụng như thế nào để
ánh sáng tùy thuộc vào bản chất môi trường mà chúng đi qua và những
mục tiêu mà chúng tiếp xúc.
2. Sự đònh hướng.
Ta chỉ xét thời điểm mà lúc sóng bắt đầu truyền trong không gian.
Kích thước cần thiết của bộ phản xạ để tập trung sóng vô tuyến
vào một chùm tia với độ rộng cho trước, phụ thuộc vào bước sóng được
sử dụng, bước sóng càng dài thì bộ phản xạ càng rộng. Vì vậy để có
một bộ phản xạ có kích thước thích hợp, để nhận được một chùm tia
hẹp phải sử dụng sóng có bước sóng rất ngắn. Với bước sóng 3cm bộ
phản xạ rộng 5 fút thì sẽ cho một chùm tia rộng khoảng 1.5 độ với bộ
phản xạ rộng 10 fút sẽ cho chùm tia rộng 0.75 độ.
Độ chính xác của việc do hướng chỉ cần thiết trên mặt phẳng
ngang tức là phương vò. Chúng ta dễ nhận thấy rằng, ở bất kỳ phương vò
nào chùm tia càng rộng thì cường độ của nó càng yếu.
Bộ phản xạ phát năng lượng đi theo một chùm tia hẹp với góc độ
nhất đònh, năng lượng ấy được phát từ tiêu điểm mặt phản xạ thì bộ
phản xạ cũng tập trung tất cả năng lượng từ nguồn bên ngoài đi đến nó
rồi phản xạ về cùng một tiêu điểm ấy theo cùng góc độ như lúc nó phát
đi. Điều đó nói lên rằng anten có tính đònh hướng cho cả thu và phát.
Nó không những có lợi cho độ chính xác của việc do hướng mà còn làm
tăng cường độ của sóng thu được.
Sự suy giảm cường độ tín hiệu theo khoảng cách: cường độ của tín
hiệu thu được ở một điểm sẽ biến đổi khi thay đổi khoảng cách của
điểm đó đến máy phát như sau:
+ Cường độ trường( đo bằng vol/
m
) tỉ lệ nghòch với khoảng cách.
+ Công suất( đo bằng oat/
2
m
n
(A/m) gọi là trò hiệu dụng của vectơ cường độ điện trường
và từ trường .
Trong đơn vò đo lường hợp pháp
H = E/120 ( A/m )
khi đó (1.13) được viết lại
S =
π
120
2
E
(W/
2
m
) Eh =
r
p30
(V/m)
Trong thực tế người ta dùng những hệ thống bức xạ có tính
phương hướng. Mức độ đònh hướng được đánh giá bởi hệ số phương
trình D, hệ số D là một hệ số đặc trưng cho mật độ tập trung năng
lượng bức xạ của anten theo một hướng nào đó. Có thể hiểu một cách
đơn giản như sau: một anten có hướng công suất bức xạ P và có hệ số
tính phương hướng ở một hướng nào đó là D sẽ tạo ra điểm thu ở
hướng đó một cường độ trường có trò sẽ giống như một anten về hướng
có công suất PD tạo ra. Như vậy việc sử dụng anten có hướng sẽ tương
đương với việc tăng công suất bức xạ lên so với anten vô hướng khi đó:
Eh =
r
PD90
theo một nữa hình cầu, trò số D sẽ tăng gấp đôi và cường độ trường sẽ
tăng lên
2
lần.
VI. Phân loại sóng theo vô tuyến điện theo băng sóng và theo
phương thức lan truyền .
Các sóng vô tuyến điện chia thành 5 băng sóng.
1. Sóng cực dài: sóng có bước sóng lớn hơn 10.000 m (tần số thấp hớn 30
Khz ).
2. Sóng dài: là sóng có bước sóng từ 10.000 m đến 1.000 m.
3. Sóng trung: là sóng có bước sóng từ 1.000 m đến 100m ( tần số
300Khz đến 3 Mhz ).
4. Sóng cực ngắn : là sóng có bước sóng 10m đến 1mm (tần số 30 Mhz
đến 300.000 Mhz ).
Những phương thức lan truyền của sóng vô tuyến điện
a. Những sóng vô tuyến điện lan truyền ở mặt đất sẽ lan truyền theo
đường thẳng với vận tốc không đổi. Do sự có mặt của mặt đất là dẫn điện,
một mặt gây phản xạ sóng, làm biến dạng cấu tạo của sóng và gây ra hấp
thụ sóng trong đất, mặt khác bò cuốn đi theo độ cong mặt đất do hiện
tượng nhiễu xạ. Những sóng này gọi là sóng đất. Vậy sự lan truyền sóng
đất có thể bao gồm tất cả các băng sóng đã nêu ở trên.
b. Tầng đối lưu là một lớp khí quyển nằm trực tiếp sát mặt đất lên đến
độ cao khoảng 10 – 15 km. Đó là một môi trường không đồng nhất.
c. Những sóng vô tuyến điện được truyền đi do sự khuếch tán trong
tầng đối lưu gọi là sóng tầng đối lưu. Những sóng với bước sóng ngắn hơn
10 m mới có thể truyền đi theo dạng này. Tầng điện ly là một miền của
khí quyển cao nằm từ độ cao 60 km đến 500 km trên mặt đất. Tầng điện
ly là môi trường bán dẫn điện và sóng có thể phản xạ, từ đó ở những sóng
dài hơn 10 m. Ở tầng điện ly là môi trường không đồng nhất nên nó có
khả năng khuếch tán sóng truyền đến những sóng ngắn hơn 10m.
trời (sầm sét, giông bảo, sự phóng điện của khí quyển ) nên không được sử
dụng
2. Đặc điểm truyền của sóng trung :
Sóng trung được ứng dụng chủ yếu trong truyền thanh, nó thể
lan truyền bằng sóng đất như sóng điện ly.
Cự ly truyền lan của sóng trung bằng phương thức sóng đất không
vượt quá 500km đến 700 km , với cự ly lớn hơn phải truyền lan bằng
tầng điện ly .
Sự biến đổi điều kiện truyền sóng về ban đêm và ban ngày.
- Ban đêm sóng trung truyền lan bằng cách phản xạ trên lớp E
(lớp E mật độ điện tử tương đối lớn ) nên về ban đêm có thể thực hiện
bằng cả sóng đất lẫn sóng trời.
- Ban ngày do sự xuất hiện của lớp D (có mật độ điện tích nhỏ )
nên sóng này sẽ cho truyền qua và chòu sự hấp thụ rất mạnh. Ban
ngày chỉ có hiệu quả đối với sóng đất.
Sự nhiễu loạn của điện ly không có ảnh hưởng đến
sóng trung vì sóng phản xạ ở lớp E là lớp rất ít bò
phá hoại trong thời gian bảo điện ly.
Hiện tượng fading của sóng trung :
Ở cự ly ngắn hiện tượng fading là hiện tượng giao thoa gọi là sóng
đất và sóng trời.
Ở cự ly xa hiện tượng fading là do giao thoa giữa sóng trời và sóng
trời tại điểm thu. Do mặt tầng điện ly thay đổi theo chiều cao, phản xạ
của sóng cũng biến đổi dẩn đến sự thay đổi quãng đường đi của sóng.
3. Đặc điểm truyền lan của sóng ngắn :
Sóng ngắn có thể truyền lan bằng sóng đất và sóng điện ly.
Khi tần số tăng sự hấp thụ của mặt đất đối với sóng mặt đất sẽ tăng.
Vì vậy, đối với sóng ngắn nếu dùng đài phát có công suất trung bình
a. Anten vô hướng: là anten có bức xạ công suất một cách đồng nhất
trong một góc khối 4π.
b. Anten có hướng: là anten mà nó tập trung công suất theo một
hướng nhất đònh vì vậy nó phụ thuộc vào hệ số hướng tính D( θ,φ ) và
độ lợiG( θ,φ ).
D( θ,φ) mô tả kiểu bức xạ, G( θ,φ ) cho ta biết sự tổn hao( nhiệt hay
công suất bức xạ vào các búp phụ )
Tuy nhiên phần tử phát xạ chính và thu chính chính là phần tử đối
xứng và không đối xứng.
Thông thường giửa anten phát và anten thu không nối trực tiếp với
nhau mà được ghép với nhau qua đường truyền năng lượng điện từ, gọi
là fiđe. Anten phát có nhiệm vụ biến đổi sóng điện từ ràng buộc trong
fiđe thành sóng điện từ do bức xạ ra không gian. Anten thu thì có
nhiệm vụ ngược với anten phát là tiếp nhận sóng điện từ tự do từ không
gian bên ngoài và biến đổi chúng thành sóng điện từ ràng buộc. Sóng
này được truyền theo các fiđe.
Yêu cầu của thiết bò anten – fiđe là phải thực hiện việc truyền và
biến đổi năng lượng với hiệu suất cao nhất và không gây méo dạng tín
hiệu.
- Chấn tử đối xứng là một trong những nguồn bức xạ được sử
dụng khá phổ biến trong kỹ thuật anten. Nó gồm hai dây dài bằng
nhau(hình trụ, chóp, elipsôit) giữa dây fiđe như hình (2.1). Thường
dùng nhất là chấn tử đối xứng có chiều dài bằng nửa bước sóng và
được gọi là chấn tử nữa bước sóng.
- Chấn tử không đối xứng có một đầu dây nối và một đầu của máy
phát(hay máy thu )còn đầu còn lại của máy phát (hay máy thu ) thì
được nối đất hình (2.2).
Hình 2-1.Chấn tử đối xứng. Hình 2-2.chấn tử không đối xứng.
Tùy theo ứng dụng của anten trong các hệ
thống thông tin vô tuyến, vô tuyến truyền thanh,
j
jKr−
=
θ
θ
30
)
(2.1)
Với K=
:,
2
λ
λ
π
bước sóng
Ta thấy cường độ trường phụ thuộc vào toạ độ
khảo sát, dòng điện trên lưỡng cực và bước sóng.
II. Lưỡng cực từ.
Vòng dây có diện tích s <<
2
λ
. Trên đó có một dòng xoay
chiều Iv tạo nên một trường điện từ xung quanh nó. Ta xem vòng dây
này là một lưỡng cực từ với dòng từ Im. Cường độ điện trường ở khu
xa của vòng dây và lưỡng cực này hoàn toàn giống nhau. Có khái
niệm như vậy làm cho bài toán bớt phần phức tạp.
Theo nguyên lý đổi tần, thường bức xạ của lưỡng cực là :
θ
ϕ
r
Pbx
(2.3)
Người ta thường xác đònh Rbx ở đoạn anten mà dòng điện có
biên độ cực đại hoặc ở các đầu vào.
Rbx phụ thuộc vào kích thước của anten so với bước sóng, hình
dạng anten và các yếu tố khác. Điện trở bức xạ là một hàm theo (l;λ )
đối với chấn tử đối xứng, nó chỉ phụ thuộc vào độ dài chấn tử chứ
không phụ thuộc đường kính của chấn tử.
Bảng (1). Điện trở bức xạ của chấn tử đối xứng có đội dài khác nhau:
L/λ RΣb l/λ RΣb l/λ RΣb
0.250
0.300
0.350
0.400
0.450
0.500
0.550
0.600
6.4
13
23
36
54
73.1
96
120
0.650
0.700
0.750
0.800
thao (Rth). Rth biểu thò năng lượng tổn hao vào việc nung nóng dây
dẫn và vật cách điện.
Ra =Rbx +Rth (2.4)
Nếu tính tổng trở đối vối dòng điện ở các đầu cắm anten thì
gọi là điện trở vào của anten (Ra vào).
Rth phụ thuộc vào kết cấu anten và dải sóng làm việc. Khi
bước sóng giảm thì Rth giảm. Ở các dải sóng ngắn thường có thể bỏ
qua Rth.
3.Hiệu suất của anten.
Hiệu suất của anten là quan hệ giữa công suất bức xạ (Pbx)với
toàn bộ công suất đưa vào anten. Toàn bộ công suất đưa vào anten
được bằng công cộng với công suất tổn hao (Pth ).
Rbx
Rth
RthRbx
Rbx
PthPbx
Pbx
A
A
A
+
=
+
=
+
=
1
1
Điện trường trung bình suy ra từ công suất bức xạ:
Stbr
2
4
ο
πρ
=
∑
(2.7)
Stb :mật độ công suất bức xạ trung bình .
Stb=
π
240
2
Etb
(2.8)
Suy ra: Etb=
2
60
ο
ρ
r
∑
(2.9)
Vậy: D=
∑
ρ
θ
ο
ηε
.D=
(2.11)
ε: biểu thò mật độ công suất bức xạ ở một điểm quan sát náo đó lớn hơn
bao nhiêu lần so với trường hợp công suất vào Pv của anten được phân
bố đều trong không gian.
9. Độ dài hiệu dụng.
Độ dài hiệu dụng là chiều dài của một cạnh hình chữ nhật, có
diện tích bằng tích của biên độ dòng điện tại điểm cấp điện và độ dài
ấy. Từ đây ta có thể nói: độ dài hiệu dụng của anten là độ dài của
một anten dây giả đònh có dòng điện phân bố đồng đều với biên độ
bằng biên độ dòng điện tại điểm cấp điện của anten khảo sát. Độ dài
hiệu dụng của anten có giá trò khác độ dài hình học, và phụ thuộc vào
bước sóng. Đối với dây dẫn có độ dài l=
2
λ
thì độ dài hiệu dụng có giá
trò
π
λ
nghóa là chỉ bằng 0.637l. Trường hợp dây dẫn có độ dài rất nhỏ
so với bước sóng thì độ dài hiệu dụng tiến đến độ dài hình học của
anten.
Anten có kết cấu hình học khác nhau nhưng nếu có cùng chiều
cao hiệu dụng như nhau thì mức độ thu như nhau.
B. Giới thiệu thông tin vệ tinh.
I. Giới thiệu chung.
Chúng ta đang sống trong thời kỳ quá độ tới một xã hội đònh
hướng thông tin tiên tiến nhờ có các công nghệ mới trong nhiều lónh
bằng chu kỳ quay của quả đất xung quanh trục của nó theo hướng đông
cùng với hướng quay của quả đất, bởi vậy vệ tinh dường như đứng yên
khi quan sát từ mặt đất. Do vậy nó được gọi là vệ tinh đòa tónh. Bởi vì
một vệ tinh đòa tónh có thể bảo đảm thông ổn đònh liên tục nên có nhiều
ưu điểm hơn vệ tinh quỹ đạo thấp dùng làm vệ tinh thông tin.
Nếu ba vệ tinh đòa tónh được đặt ở các vò trí cách điều nhau bên trên
xích đạo thì có thể thiết lập thông tin hầu hết các vùng trên quả đất
bằng cách chuyển tiếp qua một hoặc hai vệ tinh.
Cấu hình cơ bản nhất của một hệ thống thông tin từ trạm mặt đất
qua vệ tinh đến trạm mặt đất khác được trình bày như hình (2.5):
Hình 2-5. Cấu hình cơ bản của một hệ thống thông tin.
Đường hướng từ trạm mặt đất phát đến vệ tinh được gọi là
đường lên và đường hướng từ vệ tinh đến trạm mặt đất thu gọi là
đường xuống. Hầu hết, các tần số trong khoảng 6 GHz và/hoặc 14GHz
được dùng cho đường lên và các tần số ở khoảng 4GHz hoặc 11GHz
được sử dụng cho đường xuống.
Quỹ đạo của vệ tinh nhân tạo có ba thông số quan trọng:
khoảng cách từ quỹ đạo vệ tinh đến mặt đất, hình dạng và góc nghiêng
so với mặt bình độ. Một thông số chung là mặt phẳng chuyển động của
vệ tinh phải đi qua tâm quả đất. Thời gian vệ tinh đi hết một đường quỹ
đạo tỉ lệ thuận với căn bậc ba của phân nửa trục quỹ đạo. Có ba dạng
quỹ đạo cơ bản được dùng cho vệ tinh: quỹ đạo êllip, quỹ đạo đồng bộ
con, quỹ đạo đòa tónh.
Đối với quỹ đạo êlip và quỹ đạo đồng bộ con, thời gian đi của
vệ tinh hết một quỹ đạo khác với thời gian quay quanh trục của vệ tinh,
nghóa là vệ tinh chuyển động nhanh hơn khi càng gần mặt đất. Các vệ
tinh viễn thông đầu tiên được đặt trên các quỹ đạo thấp, từ 200 đến
500km. Chúng quay vòng quanh trái đất trong khoảng hai tiếng đồng
hồ. Các vệ tinh chụp ảnh, hay quan sát mặt đất, cũng như các tàu con
thoi và phòng thí nghiệm vũ trụ, luôn luôn được đặt trên quỹ đạo thấp.
Trong đó: E = PIRE (dBW): công suất đẳng hướng bức xạ tương
đương PIRE được tính theo công suất của máy phát sóng và độ lợi của anten:
PIRE = 10log(
)GP
t
(2.13)
Với mật độ công suất trên diện tích phía bên trong hình cầu là
2
t
R4/P π
(W/
)m
2
.
G: độ lợi anten (dB).
A: sự suy giảm chung (dB).
T. nhiệt độ tiếng ồn của anten và đầu thu SHF(
)K
ο
.
B: độ rộng dải tần F của máy thu (MHz).
với 10logK=+226.6 dB (hằng số
Boltzmann).
Tỉ số C/N = 6:quá ồn chất lượng xấu.
8:mức giới hạn, một vài vệt nhiễu.
10: thu tốt, màu sắc đẹp.
12: thu rất tốt, chất lượng truyền hình bằng cáp
Để đảm bảo tỉ số tín hiệu trên nhiễu tại điểm thu cần đảm bảo
các thông số sau:
- Độ tăng tích của anten: khoảng 48.5dB (đối với anten thu
, vì vậy vùng thu
tín hiệu trên mặt đất giới hạn giữa 60
ο
kinh tuyến bắc-nam và 60
ο
vó
tuyến đông- bắc. Các vùng rừng núi, thung lũng góc ngẩng tối thiểu
phải là 30
ο
.
Các vệ tinh cùng công tác trong một dải tần số phải được đặt
trong quỹ đạo đòa tónh với góc chênh lệch nhau 2
οο
−3
và đảm bảo vò
trí vệ tinh sao cho anten phát luôn hướng đúng về vùng phủ sóng trên
mặt đất.Điều này rất quan trọng vì anten phát trên vệ tinh có tính đònh
hướng cao. Nếu không đảm bảo tốt điều kiện này thì vùng phủ sóng
của anten sẽ lệch sang một số nước lân cận.
Góc ngẩng (E) và góc phương vò (Az) sẽ đònh vò anten thu để
thu bất kỳ một quả vệ tinh nào, các quả vệ tinh khác nhau thì hai thông
số trên của anten phải được tính toán đúng vò trí của anten phát trên vệ
tinh có kinh độ khác nhau trên từng vệ tinh.
Anten thu sẽ có các giá trò góc ngẩng và góc phương vò tương
ứng khác nhau, phù hợp với quả vệ tinh cần thu.
Ta có thể dùng một gương anten thu cùng 3 quả vệ tinh đồng thời và
có ưu điểm:
- Tiết kiệm được gương anten thu.
- Nâng cao hiệu quả thu xem chương trình được nhiều kênh
hơn.