ĐỀ ÁN
NGHIÊN CỨU XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG
MALAYSIA
MỤC LỤC
A.LỜI MỞ ĐẦU 4
B.NỘI DUNG 5
1.Thực trạng lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 5
1.1Thực trạng cung lao động 5
1.1.1Cung lao động dưới giác độ số lượng 5
1.1.2Cung lao động trên giác độ chất lượng 6
1.2Thực trạng cầu lao động 7
1.3Giá lao động 8
2.Tình hình xuất khẩu lao động ở Việt Nam 8
2.1Khái niệm xuất khẩu lao động 8
2.2. Sự cần thiết của XKLĐ- lợi ích từ hoạt động XKLĐ 8
2.3. Thuận lợi của Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu lao động 9
2.4. Những khó khăn trong hoạt động XKLĐ 10
2.5. Tình hình xkld sang Malaysia và một số nước khác 11
2.5.1. Malaysia 11
2.5.2. Một số thị trường châu Á khác 11
3. Thị trường lao động Malaysia 13
3.1. Khái quát 13
3.2. Yêu cầu về trình độ lao động 13
3.3. Tình hình nhập cư lao động nước ngoài của Malaysia: 13
3.4. Rào cản khi xuất khẩu lao động sang Malaysia 14
4. Phân tích lợi thế cạnh tranh của Việt Nam 15
4.1 Giới thiệu mô hình Kim cương của Michael Porter 15
4.2. Ứng dụng vào dịch vụ xuất khẩu lao động của Việt Nam 15
4.2.1.Yếu tố thâm dụng 15
4.2.2. Những điều kiện về nhu cầu 16
nước, chúng ta đã mất đi hầu hết thị trường tiếp nhận lao động truyền
thống trước đây. Tuy nhiên với sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước ta và trước
hết là những cố gắng tự thân không ngừng của các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động, hoạt động xuất khẩu lao động của ta đã được khôi phục trở
lại và không ngừng phát triển trong những năm qua. Hiện nay, thị trường
xuất khẩu lao động của ta đã mở rộng đến trên 40 nước và vùng lãnh thổ.
Đông và Đông Nam Á là khu vực thị trường xuất khẩu lao động chủ yếu
của nước ta hiện nay. Khu vực này hàng năm tiếp nhận khoảng trên
40.000 lao động Việt Nam, chiếm gần 80% số lao động đi làm việc tại
nước ngoài của ta. Hiện tại khu vực này gồm có 5 thị trường đã mở cửa
tiếp nhận lao động của ta là Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và
Malaysia tuy nhiên dự báo trong tương lai số lượng thị trường của ta tại
khu vực này chắc chắn không dừng lại ở con số 5 như trên
־ Với nội dung bài tiểu luận này,nhóm nghiên cứu xin chọn đề tài về Xuất
khẩu sang thị trường Malaysia,thị trường xuất khẩu lao động lớn nhất của
Việt Nam nhằm làm rõ hơn về những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trên
lĩnh vực này.
3
B.NỘI DUNG
1. Thực trạng lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Cùng với những thay đổi trong đời sống kinh tế- xã hội sau gần 3 thập
kỉ đổi mới, thị trường lao động với tư cách là một bộ phận cấu thành quan
trọng hệ trong hệ thống thị trường các yếu tố sản xuất đã được chính thức
công nhận và thể chế hóa bằng luật pháp. Mặc dù được công nhận cách
đây không lâu nhưng thị trường lao động nước ta đã và đang có những
bước phát triển tích cực, tạo công ăn việc làm cho người dân. Tuy nhiên,
thị trường lao động VN đang chịu những áp lực lớn về dân số và tăng cung
lao động. Việc thống kê cung và cầu trên thị trường hiện nay vẫn chưa
được thu thập xử lí đầy đủ nên việc theo dõi phân tích thực trạng và động
thái phát triển của thị trường này là không đơn giản.
15-59*
(triệu) 26,63 34,76 44,58 55,38 64,543
Tỷ lệ gia tăng P (%) 2,0 1,7 1,37 1,16 -
Tỷ lệ gia tăng P
15-59
(%) 2,66 2,49 2,71 1,18 -
(Nguồn:
- Tính toán kết quả tổng điều tra dân số 1979; 1989; 1999.
- Tổng cục Thống kê. Kết quả Điều tra biến động dân số - kế hoạch hoá gia
đình 2007)
Những con số trên cho thấy Việt Nam đang có một lưc lượng lao động
lớn và tỉ lệ tăng hằng năm của số người trong độ tuổi lao động là rất cao.
Chúng ta đang trong thời kì “cơ cấu vàng” về dân số, tức là số người trong
độ tuổi lao động cao hơn số người phụ thuộc. Đây thực sự là một cơ hội
“vàng” cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Tỷ lệ tham gia lao động
Thực tế là không phải mọi người trong “độ tuổi lao động” đều tham gia
hoạt động kinh tế mà trong số đó tồn tại một tỷ lệ những người có nhu cầu
làm việc nhưng chưa tìm được việc làm, đó là tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên,
để đánh giá về tình hình lao động và việc làm trong nền kinh tế, chúng ta
cần biết thêm một tiêu chí khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm. Đây là tiêu
chí quan trọng được tính cho cả lao động ở khu vực nông thôn và thành thị
nhưng chưa được công bố từ trước đến nay. Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động
thiếu việc làm thường cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp; trong đó tỷ lệ
thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị. Với cách hiểu như vậy,
tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam năm 2008 là 4,65%, tăng 0,01% so với năm
2007. Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện nay là 5,1%, tăng
0,2% so với năm 2007. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn lên tới
6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%. Vấn đề dân số thực
sự trở thành một sức ép lớn đối với nền kinh tế, nhiều lao động, nhất là ở
Đại bộ phận người lao động hiện nay của ta còn chưa được đào tạo về
kỉ luật lao động công nghiệp. Phần lớn trong số họ là lao động xuất thân
từ nông nghiệp hoặc nông thôn, còn mang nặng tác phong sản xuất của
nền kinh tế tiểu nông lạc hậu, tùy tiện về giờ giấc và hành vi. Người lao
động chưa được trang bị kiến thức và kỹ năng làm việc nhóm, không có
khả nănghợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẽ
kinh nghiệm làm việc. điều này thể hiện rỏ qua hiện tượng các xí nghiệp,
công ty có vốn đầu tư nước ngoài, phải mất hàng tháng để đào tạo tác
phong cho công nhân mới được tuyển.
1.2. Thực trạng cầu lao động
Cầu lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một điạ
phương, một ngành hay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác
định. Nhu cầu này thể hiện qua khả năng thuê mướn lao động. Xét từ giác
độ số lượng, trong điều kiện năng suất lao động không đổi, cầu về lao động
xã hội tỷ lệ thuận với qui mô và tốc độ sản xuất. Nếu qui mô sản xuất không
6
đổi, cầu về lao động tỉ lệ nghịch với năng suất lao động. Còn xét từ giác độ
chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, qui mô, tiền vốn, tri
thức của doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi nâng cao cầu về chất lượng lao
động.
Theo báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH, hiện nay, tổng số việc làm chỉ đáp
ứng được cho 75% tổng số lao động. Như vậy có nghĩa là một phần tư số
lao động không thể tìm được việc làm trong nước. Thêm vào đó, khủng
hoảng kinh tế kéo dài từ năm 2008 đến nay khiến cho hàng loạt người lao
động bị thất nghiệp. Điều này càng khiến cho khoảng cách giữa cung và
cầu ngày càng lớn.
1.3. Giá lao động
Trên thị trường lao động, giá cả lao động được thể hiện dưới dạng
tiền lương. Cũng giống như các loại hàng hóa khác, giá cả sức lao động
không chỉ bị qui định bởi giá trị của nó mà còn chịu ảnh hưởng của quan hệ
cần một lực lượng lớn lao động trong khi dân số và tỉ lệ lao động của họ lại
tăng không đáng kể. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, hoạt động XKLĐ đóng
một vai trò quan trọng là di chuyển lao động từ nơi thừa sang nơi thiếu.
Từ năm 2001 đến hết năm 2008 đã có hơn 500 nghìn lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài, trong đó, chỉ riêng 3 năm (từ 2006 đến hết
năm 2008), đã có khoảng 250.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài (bình quân khoảng 83.000 người/năm), chiếm khoảng 5% tổng số lao
động được giải quyết việc làm hàng năm. Hiện nay có khoảng gần 500 nghìn
lao động Việt Nam đang làm việc ở trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30
nhóm ngành nghề các loại. Như vậy, XKLĐ thực sự là một biện pháp hữu
hiệu để giái quyết sức ép lao động dư thừa của nước ta.
Xuất phát từ vấn đề kinh tế
Ngoài ra, XKLĐ còn mang lại một lợi ích lớn về mặt kinh tế. Không có
hoạt động XKLĐ thì một bộ phận lao động dư thừa không thể tìm được việc
làm trong nước hay nếu có thì mức lương lại quá thấp. Vì vậy họ không đem
lại một lợi ích kinh tế nào cho quốc gia, chưa kể những hệ lụy xấu từ việc thất
nghiệp. Khi tham gia XKLĐ, những người lao động tìm được việc làm cho
mình với thu nhập cao hơn, không những thế họ còn góp phần làm tăng
trưởng đáng kể cho thu nhập quốc dân. Theo ước tính của Cục quản lí lao
động ngoài nước, mỗi năm, lực lượng lao động nước ngoài đem về cho đất
nước từ 1.6 đến 2 tỷ USD. Thu nhập bình quân của người lao động ngoài
nước cũng cao hơn trong nước trung bình từ 5 đến 7 lần. Ví dụ như ở Hàn
Quốc thu nhập trung bình là hơn 12 triệu đồng/người/tháng; Trung Đông là 7-
10 triệu đồng/người/tháng.
Xuất phát từ vấn đề công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
Trước khi tham gia XKLĐ, người lao động được đào tạo tay nghề.
Nếu như tại thời điểm cuối năm 2003, số lượng lao động được đào tạo nghề
trước khi đi làm việc ở nước ngoài mới đạt khoảng 35%, thì đến cuối năm
2008 tỷ lệ này đã đạt trên 50%. Người lao động sẽ học được tác phong công
nghiệp hiện đại cũng như trình độ tay nghề được nâng cao. Với những kinh
từng tháng một. Đầu năm nay cả nước đưa được gần 13.000 người đi nước
ngoài làm việc, thì qua tháng 2 số lao động xuất khẩu hạ xuống còn 5.300,
đến tháng 3 vừa qua, chỉ còn 3.700 lên đường xuất ngoại. Một số thị trường
quốc tế lâu nay tiếp nhận lao động Việt Nam , nay quyết định ngưng nhận
thêm người nước ngoài để bảo vệ công ăn việc làm cho người bản xứ như
Malaysia hay cộng hòa Czek. Bi kịch hơn nữa đó là những người xuất khẩu
lao động chủ yếu là người nông dân nghèo, để có tiền đặt cọc cho các công ty
để được đi nước ngoài họ phải cầm cố, bán đất, vay lãi. Thế nhưng khi đã
sang nước ngoài, lại bị trả về nước, bị hủy hợp đồng do công ty cắt giảm nhân
công hoặc vi phạm kỉ luật lao động. Như vậy, toàn bộ thiệt hại người lao động
phải gánh chịu và hầu như chưa có một tổ chức cũng như bộ luật hoàn chỉnh
nào để bảo vệ quyền lợi của họ.
Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lao động nước ta gặp phải sự cạnh tranh
gay gắt từ các nước xuất khẩu lao động trong khu vực, trong khi chất lượng
lao động xuất khẩu của ta còn nhiều hạn chế, thể hiện ở khả năng ngoại ngữ, ý
thức chấp hành kỷ luật lao động yếu; tình trạng lao động tự ý bỏ hợp đồng ra
ngoài làm việc, cư trú bất hợp pháp ngày một gia tăng ở một số thị trường
trọng điểm, ảnh hưởng xấu đến việc giữ vững và phát triển thị trường, thậm
chí dẫn đến nguy cơ mất thị trường.
9
Một hạn chế nữa đó là thiếu biện pháp thẩm tra chặt chẽ thực lực của
các đơn vị xin cấp phép xuất khẩu lao động, chưa chú trọng quản lý hoạt động
của các doanh nghiệp đã được cấp phép và thẩm định các hợp đồng cung ứng
lao động do các doanh nghiệp đăng ký. Số liệu của Cục quản lý lao động
ngoài nước cho thấy trong số 164 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động xuất
khẩu lao động, chỉ có 30% số doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Nhiều doanh
nghiệp chủ yếu tìm hợp đồng thông qua lực lượng môi giới, thiếu trách nhiệm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động ở nước ngoài, giá dịch
vụ thiếu minh bạch. Về phía người lao động, do ít tìm hiểu pháp luật, lại thêm
tâm lý cần việc làm chi phối, nên dễ bị nhà môi giới lợi dụng.
còn có Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Đông.
Đài Loan
Đài Loan là nơi tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam với khoảng 30.000
người, theo số liệu của Bộ LĐ–TB&XH. Tuy nhiên, thị trường này thời gian
gần đây đã cắt giảm đến 70% nhu cầu tiếp nhận lao động. Không chỉ vậy, đến
giờ đã có khoảng 1.500 lao động làm việc phải về nước trước thời hạn vì
không có việc làm. Với tình hình trên, hoạt động xuất khẩu lao động Việt
Nam sang vùng lãnh thổ Đài Loan chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng khá mạnh do
đây là thị trường hàng đầu mà các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt nam
nhắm tới. Mặc dù có thu nhập không cao như Hàn Quốc, và một số nước
Đông Âu nhưng đây là thị trường khá ổn định và có nhu cầu lớn lao động
nhập cư. Môi trường làm việc, khí hậu dễ chịu, phong tục, tập quán khá gần
gũi với người Việt Nam cũng là thế mạnh của thị trường Đài Loan.
Nhật Bản
Ðến nay, đã có hơn 40.000 tu nghiệp sinh (TNS) được đưa sang tu
nghiệp tại các xí nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản. Hiện nay, số TNS đang tu
nghiệp tại Nhật Bản là gần 10.000 người, số thực tập sinh là 6.740 người.
TNS Việt Nam tại Nhật Bản tu nghiệp, làm việc chủ yếu trong các lĩnh vực
dệt, may, điện tử, cơ khí, chế biến, xây dựng, thủy sản. Số lượng TNS Việt
Nam tăng qua các năm, nhưng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 do khủng
hoảng kinh tế toàn cầu và Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng nặng vì 40% GDP của
Nhật Bản phụ thuộc vào xuất khẩu, do vậy số lượng TNS sang Nhật năm
2008 chỉ tăng 5% và sáu tháng đầu năm 2009 giảm 13,4% so với cùng kỳ
năm trước. TNS Việt Nam được phía Nhật Bản đánh giá cao về tay nghề, tính
cần cù, chịu khó và khả năng tiếp thu nhanh về kỹ năng, kỹ thuật. Thu nhập
bình quân của TNS Việt Nam khoảng từ 700 đến 1.100 USD/tháng. Cá biệt,
có trường hợp thu nhập đến hơn 1.700 USD/tháng.
Hàn Quốc
Hiện có khoảng trên 27.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại Hàn
Quốc theo chương trình EPS. Nếu tính cả số tu nghiệp sinh sau khi kết thúc
Malaysia là một quốc gia Á châu giàu có. Với thu nhập bình quân 13
ngàn đôla/người/ năm, Malaysia là nước công nghiệp hóa mới, và đang có
mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2020. Nền kinh tế của
Malaysia, với tốc độ phát triển cao trên 5% mỗi năm suốt thập niên qua, đòi
hỏi một lượng nhân công lớn mà trong nước không thể thỏa mãn nổi. Vì vậy,
nước này phải nhập khẩu lao động nước ngoài. Thành công kinh tế của
Malaysia không thể thiếu một phần đóng góp vô cùng to lớn của lao động
nước ngoài. Có thể nói không ngoa rằng kinh tế Malaysia phụ thuộc rất nhiều
vào công nhân nhập ngoại.
Nước này đang thiếu khoảng ba triệu nhân công và theo thống kê của
Công đoàn Malaysia, con số lao động nhập cư hợp pháp ở đây là khoảng hai
triệu. Tuy nhiên, cũng có một lượng lớn không có thống kê lao động bất hợp
pháp, những người không có giấy tờ chính thức. Nếu tính cả số người này, thì
từ 30%-50% lực lượng lao động ở Malaysia là người nước ngoài, chủ yếu
hoạt động trong ngành gia công sản xuất, xây dựng và dịch vụ.
3.2. Yêu cầu về trình độ lao động
Có thể nói rằng Malaysia là một thị trường rất dễ xâm nhập. họ không
đòi lao động phải có trình độ chuyên môn cao, thậm chí sẵn sàng đào tạo khi
12
người lao động không có bất cứ tay nghề gì. Những công việc cần tuyển lao
động nước ngoài tại Malaysia chủ yếu là các công việc phổ thông, đòi hỏi cơ
bắp. Người lao động nhập cư ở Malaysia thường làm những công việc được
gọi là 3D, tức dirty, dangerous and difficult - bẩn thỉu, nguy hiểm và khó
khăn. Vì vậy, mức lương tại thị trường này khá thấp.
3.3. Tình hình nhập cư lao động nước ngoài của Malaysia:
Malaysia là nước có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài lớn, hiện có
khoảng 2,3 triệu lao động nước ngoài, trong đó 1,9 triệu lao động hợp pháp,
chiếm 21% trong lực lượng lao động hùng hậu gần 11 triệu người của nước
này, chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực nhà máy, nông nghiệp, giúp việc gia
đình, xây dựng và dịch vụ. Lĩnh vực sản xuất và dịch vụ chiếm hơn 50% số
nói riêng đó là khả năng ngoại ngữ. Người lao động trình độ đã thấp, lại
không thể giao tiếp được với chủ của mình, do đó bị thiệt thòi về nhiều mặt.
Mặt khác, chi phí để đi xuất khẩu lao động là quá cao so với khả năng
của những người dân nghèo muốn đi tìm một vùng đất mới. Để đi làm việc tại
Nhật Bản phải tốn khoảng 2.000 USD và khoảng 6.000-10.000 USD đặt cọc.
Đi Hàn Quốc chi phí từ 6.000-7.500 USD. Làm công nhân tại Đài Loan nếu
như năm 2002 chỉ tốn khoảng 1.500 USD, thì nay đã lên đến 4.800- 5.600
USD. Ngay cả thị trường Malaysia, mỗi LĐ cũng phải chi khoảng 17 triệu
đồng.
Và thêm một vấn đề nữa đó là thủ tục giấy tờ. nhiều nước đang cố gắng
cắt giảm lao động nước ngoài bằng cách đưa ra nhiều thủ tục xuất cảnh rườm
rà, phức tạp cho người lao động. tại Malaysia, từ tháng 4, các doanh nghiệp
phải quảng cáo tuyển dụng nhân lực trong nước trong vòng hai tháng, trước
khi xin được giấy phép tuyển lao động nước ngoài. Các doanh nghiệp phải trả
thuế thường niên 1.800 ringgit (510 USD) với mỗi lao động nước ngoài họ
thuê.
4. Phân tích lợi thế cạnh tranh của Việt Nam
4.1 Giới thiệu mô hình Kim cương của Michael Porter
Khi phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành XK lao động Việt Nam
bằng mô hình kim cương của Michael Porter, chúng ta lưu tâm đến 4 biến số
chính và 2 biến số phụ.
4 biến số chính là :
o Yếu tố thâm dụng
o Điều kiện nhu cầu
o Các ngành liên quan bổ trợ
o Cấu trúc, chiến lược của công ty và cạnh tranh của ngành.
2 biến số phụ là
o Cơ hội,may rủi
o Chính phủ
4.2. Ứng dụng vào dịch vụ xuất khẩu lao động của Việt Nam
động. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, chưa có doanh nghiệp XKLĐ nào bị rút
giấy phép dù sai phạm đã rành rành.
Địa điểm:
Việc làm thời vụ tại nước ngoài chỉ phù hợp với lao động các vùng lân
cận, đi lại dễ dàng, không mất phí visa và vận chuyển.Với vị trí địa lý của
mình,Việt Nam sẽ rất thuận tiện cho việc xuất khẩu lao động ra các nước
trong khu vực đang cần lưc lượng lao động lớn như:Malaysia,Đài Loan,Hàn
Quốc…
4.2.2. Những điều kiện về nhu cầu
Đối với thị trường nội địa:
Tình hình chung sau khủng hoảng kinh tế,nhu cầu về lao động của
các doanh nghiệp Việt Nam đều tăng. Chẳng hạn như tại TPHCM, các doanh
nghiệp cần phải tuyển thêm khoảng 100.000 lao động. Qua tính toán sơ
bộ(8/2009), cơ cấu lao động cần tuyển dụng sẽ bao gồm: lao động phổ thông
chiếm ít nhất là 50%, lao động có trình độ đại học - cao đẳng khoảng 30%, còn
lại 20% là công nhân lành nghề, thợ bậc cao. Tuy nhiên,đối với các ngành thâm
dụng lao động, khó có thể nói rằng nhu cầu sử dụng nhân lực của các doanh
15
nghiệp tăng lên, mà chủ yếu là chỉ nhằm bù đắp vào những thiếu hụt do lao động
nghỉ việc và dòng luân chuyển lao động giữa các doanh nghiệp đang diễn ra khá
mạnh mẽ.
Nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt lao động hiện nay là do hạn chế về kỹ
năng của người lao động, cùng với tình trạng giá nhân công chưa tương xứng.
Rất nhiều doanh nghiệp đã phải “chữa cháy” bằng cách tuyển lao động “trắng”,
tức hoàn toàn chưa có tay nghề, đưa về đào tạo.
Và theo đánh giá chung, tồn tại nhiều tình trạng, người tuyển dụng thì
tìm lao động “đỏ mắt” còn người lao động tìm việc lại ra về tay không. Có
nhiều lý giải cho vấn đề nay, song một thực tế cần phải nhìn nhận, dù có nhu
cầu tuyển dụng nhiều nhưng chính sách ưu đãi tại các doanh nghiệp dành cho
người lao động, đặc biệt là lao động phổ thông vẫn thiếu hấp dẫn. Với mức
4.2.3 Những ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan:
Bên cạnh hỗ trợ về vay vốn, ngành LÐ-TB và XH cần tăng cường phối
hợp ngành giáo dục tổ chức đào tạo những nghề khó, thợ tay nghề cao, có tính
đặc thù mà thị trường đang cần, đào tạo theo địa chỉ cụ thể, đáp ứng nhu cầu
thực tế của thị trường. Các cơ quan ngoại giao tăng cường phối hợp và đưa ra
dự báo về biến động thị trường XKLÐ để định hướng cho các doanh nghiệp,
nhất là việc mở rộng thị trường mới.
4.2.4. Cấu trúc, chiến lược của công ty và cạnh tranh trong ngành:
Cấu trúc, chiến lược của công ty
Hình thức hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao đông Việt
Nam hiện nay là tuyển lao động trực tiếp hoặc khoán trắng ,môi giới.Quy mô
các doanh nghiệp còn nhỏ,thiếu chuyên nghiệp.
Xu thế hiện nay số lượng đơn vị khoán trắng cho chi nhánh hoặc trung
tâm thực hiện hợp đồng; tuyển chọn lao động thông qua môi giới, liên kết tràn
lan, công tác tuyển dụng qua môi giới, tư vấn nhiều hơn doanh nghiệp tuyển
trực tiếp.
Với "mô thức" khoán trắng, nhiều Cty XKLĐ đã dựng lên các cơ sở
đào tạo và cho tư nhân núp bóng, thuê biển hoạt động. Điều đáng nói là chính
các công ty mẹ đôi khi cũng không "quản" được các chi nhánh con khi đã
khoán, đã cho thuê giấy phép theo kiểu - mua đứt - bán đoạn.Vì thế, giá dịch
vụ không thống nhất, kinh phí tuyển dụng và các khoản đóng góp thiếu minh
bạch. Thậm chí, tại nhiều chi nhánh, chi phí cho đi lao động xuất khẩu gấp
tăng gấp 1,5 đến 2 lần, thậm chí có thị trường gấp đến 10 lần so với thông báo
của các doanh nghiệp tuyển dụng.
Cạnh tranh trong ngành
Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam không chỉ cạnh tranh với nhau
trong nhận hợp đồng xuất khẩu, mà còn phải cạnh tranh gay gắt với các doanh
nghiệp nước ngoài trong thị trường xuất khẩu lao động rộng lớn.
Mặc dù được nhiều thị trường đánh giá cao, nhưng sức cạnh tranh của
lao động Việt Nam còn chưa cao, chủ yếu cạnh tranh do mức lương thấp,
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên
tịch 31 hướng dẫn Quyết định 71/2009/QĐ-TTg về phê duyệt đề án “Hỗ trợ các
huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động, góp phần giảm nghèo bền vững giai
đoạn 2009-2020” với tổng kinh phí lên đến 4.715 tỷ đồng, trong đó, phần vốn hỗ
trợ người lao động là 1.542 tỷ đồng, Chỉ tiêu này trong giai đoạn 2016 – 2020
được nâng lên hơn 70.000 lao động xuất khẩu, góp phần giảm khoảng 19% số hộ
nghèo của 61 huyện nghèo:
Theo đó, lao động thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số được hỗ trợ 100% phí
học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức theo mức học phí được Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội quy định. Người lao động cũng được hỗ trợ tiền ăn, sinh
hoạt phí trong thời gian học với mức 40.000 đồng/người/ngày, tiền ở 200.000
đồng/người/tháng. Ngoài ra còn có tiền trang cấp đồ dùng cá nhân, tiền tàu xe và
được hỗ trợ chi phí làm thủ tục trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo các mức
quy định hiện hành. Riêng với người lao động thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số
tốt nghiệp từ bậc tiểu học trở lên nhưng trình độ văn hoá chưa đáp ứng yêu cầu
sẽ được bổ túc thêm văn hoá với thời gian học tối đa không quá 12 tháng. Học
phí, tài liệu học tập, sách giáo khoa, vở viết, dụng cụ học tập được hỗ trợ toàn
bộ.
Các chính sách hỗ trợ của đề án bao gồm: hỗ trợ người lao động học bổ túc
văn hóa, học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết để tham gia xuất
khẩu lao động; cho người lao động vay tín dụng ưu đãi với lãi suất bằng 50% lãi
18
suất cho vay hiện hành của Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng cho đối tượng
chính sách đi xuất khẩu lao động; các cơ sở dạy nghề cho XKLĐ cũng sẽ được
vay vốn tín dụng ưu đãi để đầu tư tăng quy mô đào tạo.
Trường hợp người lao động có thời gian làm việc thực tế dưới 12 tháng
phải về nước thì được hỗ trợ bằng 1 lượt vé máy bay khi gặp một trong các lý do:
vì sức khỏe không phù hợp với yêu cầu công việc, vì chủ sử dụng lao động gặp
khó khăn trong sản xuất, kinh doanh nên người lao động bị mất việc làm, vì chủ
sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Tính đến những tháng đầu năm 2009, khi tác động của khủng hoảng ngày
càng toàn diện và sâu rộng,thông tin chưa đầy đủ cho thấy số lượng lao động
Việt Nam đã phải về nước trước hạn cho đến nay phải đến 4-5 nghìn người.
19
Mặc dù có được vài hỗ trợ từ nước nhập khẩu(cấp vé máy bay và bồi
thường 1 tháng lương cơ bản theo hợp đồng một năm làm việc )nhưng việc phải
quay về nước ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống cũng như gia đình người
lao động.Người dân Việt Nam mong muốn sang nước ngoài để kiếm đồng lương
khấm khá hơn, trang trải,nuôi sống gia đình thế nhưng thực tế biến họ thành gánh
nặng,nợ nầng chông chất.Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế
Việt Nam,tỷ lệ người nghèo,thất nghiệp tăng.Xét trong lĩnh vực xuất khẩu lao
động,cung dư thừa,trong khi đó cầu lại ảm đạm.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động: bị đặt vào hoàn cảnh hết
sức khó khăn, một mặt là do nhiều thị trường giảm nhu cầu nhận lao động, mặt
khác phải tốn nhiều công sức và kinh phí để thanh lý hợp đồng đối với lao động
về trước hạn,đặc biêt trở ngại lớn khi thỏa thuận đối tác hoàn lại ngay một phần
tiền môi giới cho người lao động.
Tuy nhiên,giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế đang gượng dậy,xuất
khẩu lao động có chiều hướng sáng sủa hơn mặc dầu đòi hỏi chất lượng lao động
khắt khe hơn.
4.3. Đối thủ cạnh tranh.
4.3.1. Lợi thế cạnh tranh của Philippin.
Từ lâu, Philippin vẫn nỗi tiếng là một trong những nước xuất khẩu lao
động nhiều và chuyên nghiệp nhất thế giới. Hiếm có quốc gia nào có nhiều
công dân sống và làm việc ở nước ngoài và nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn
nhân lực xuất khẩu lớn như Philippines. Đó là cả một ngành công nghiệp
“xuất khẩu nhân lực” bài bản và hiệu quả, trong đó chú trọng vào việc tạo
thương hiệu cho đội ngũ lao động bằng uy tín và chất lượng, những người biết
tôn trọng kỷ luật và cũng được bảo vệ quyền lợi tối ưu. Nếu đem ra so sánh
thí nước ta còn thua xa họ về lĩnh vực này, họ không chỉ hơn ta về số lượng
trộn một cách hoàn hảo giữa phương Tây và phương Đông. Nền tảng của văn
hoá Philippines dựa trên các truyền thống văn hoá của nhiều nhóm dân bản
địa trong vùng, gồm Tagalogs, Ilokanos, Visayans, Bikolanos và các nhóm
khác. Tuy nhiên, nó cũng bị ảnh hưởng lớn từ các văn hoá của người Trung
Quốc, người Tây Ban Nha, người Mỹ, và các nền văn hoá khác tuy ở mức độ
nhỏ hơn. Ảnh hưởng văn hoá Hoa Kỳ đối với Philippines chỉ bắt đầu từ hơn
một thế kỷ nay. Di sản lớn nhất là việc sử dụng rộng rãi tiếng Anh.Với một
nền văn hoá hoà trộn giữa Đông và Tây một cách hoàn hảo, có thể thấy khả
năng hoà nhập của lao động Philippin là rất tốt, lợi thế này rất có giá trị với
xuất khẩu lao động của Philippin.
Nhân lực Philipin còn có một yếu tố lợi thế khác đó là khả năng ngoại
ngữ của nhân lực rất tốt. Tại Philippin, ngoài tiếng Philipines(tiếng Tagalog)
thì tiếng Anh được coi là ngôn ngữ chính thức tại Philippin. Chỉ thế thôi, cũng
đủ để thấy lợi thế ngoại ngữ của họ. Nhưng họ không chỉ có vây, người
Philipin còn có thể dùng tiếng Tây Ban Nha, tuy số lượng người dùng tiếng
Tây Ban Nha đã giảm sút song, con số này vẫn không nhỏ, đây có thề là một
di sản để lại sau 350 năm là thuộc địa của Tây Ban Nha. Theo cuộc điều tra
dân số năm 1990, có 2.658 người nói tiếng Tây Ban Nha và 292.630 người
nói tiếng Chavacano, một một ngôn ngữ lai Tây Ban Nha. Hàng nghìn từ vay
mượn từ tiếng Tây Ban Nha đã được chấp nhận trong ngôn ngữ của
Philippines, và có khoảng 13 triệu tài liệu bằng tiếng Tây Ban Nha trong các
thư viện tại Philippines. Toà án vẫn chấp nhận các tài liệu được viết bằng
tiếng Tây Ban Nha. Tuy nhiên, người dân nói chung không còn coi tiếng Tây
Ban Nha là thứ ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt và lao động hàng ngày ở
Philippines. Đây chỉ là số người dùng, chưa kể số ngươi biết sử dụng tiếng
Tây Ban Nha là rất lớn.
21
Một hệ thống pháp luật tốt quy định nghiệp về việc xuất khẩu nhân lực
cũng là thành công của Philippines trong việc thúc đẩy nền công nghiệp nhân
lực phát triển. Trong khi tỷ lệ người lao động xuất khẩu ở Philippines phần
đảm bảo phúc lợi cao cho lao động làm việc ở nước ngoài như: Đào tạo trước
khi đi lao động, các kế hoạch hưu trí và bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế, hỗ
trợ học phí cho người lao động và gia đình họ, hỗ trợ vốn vay khẩn cấp…
Ngoài ra là các hoạt động tăng cường sợi dây liên hệ của người lao động với
quê hương như tài trợ cho các chuyến biểu diễn nghệ thuật hay thành lập
trường học tại vùng có nhiều người Philippines sinh sống, tập trung vào “giá
trị của người Philippines” trong cộng đồng người xa quê hương. Gần đây,
Chính phủ nước này còn quyết định cho phép người đi XKLĐ có quyền bầu
cử với điều kiện họ sẽ về nước trong vòng 2 năm tiếp theo.Kinh nghiệm ở
Philippines cho thấy, ngoài một hệ thống quản lý XKLĐ hết sức thuận tiện
22
nhưng cũng rất chặt chẽ, đảm bảo thu nhập tối thiểu cho người đi XKLĐ cũng
như chất lượng lao động khi đi làm việc ở nước ngoài, còn có những lớp học
về đất nước, con người, phong tục tập quán, pháp luật ở những nước mà
người lao động sẽ tới làm việc để tránh những xung đột lao động và văn hóa
có thể xảy ra, đặc biệt tránh được những hậu quả nghiêm trọng làm ảnh
hưởng tới hình ảnh đất nước cũng như quan hệ ngoại giao. So với nhiều nước
ở khu vực Đông Nam á, đầu vào của họ không giỏi nhưng hơn hẳn về tính
chuyên nghiệp.
4.3.2. Những diễn biến xuất khẩu lao động của Philipin trong thời
gian qua
Theo thống kê chính thức của Chính phủ Philippines, từ năm 1990 đến
2001, riêng số tiền kiều hối gửi về chiếm 20,3% thu nhập xuất khẩu của cả
nước. Thời điểm cuối tháng 12-2008, khoảng 9 triệu người, chiếm gần 10%
dân số Philippines đang sống và làm việc ở 140 nước. Một nửa số này là lao
động hợp đồng, thường tập trung ở Saudi Arabia, Nhật Bản, Hong Kong,
UAE, Đài Loan, một nửa còn lại chủ yếu di cư ở các nước như Mỹ, Canada,
Australia, Nhật Bản, Anh quốc.Philippin có hơn 8 triệu lao động làm việc ở
nước ngoài vào năm 2007, đã gửi về nước11,8 tỷ USD kiều hối qua các kênh
cắt giảm trong nước và 150.000 lao động làm việc hàng ngày ở Singapore
đang bị cắt giảm dần do Singpore bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế).
Một khó khăn đến từ chính nguồn cung lao động của chúng ta, hiện tại
thị trường Malayxia đang dần dần mất tính hấp dẫn với người lao động xuất
khẩu.Hiện ở trong nước vẫn tồn tại thông tin sang làm việc tại Malaysia thu
nhập không cao, tiềm ẩn nhiểu rủi ro đã tác động mạnh đến tâm lý người lao
động, khiến họ quay lưng lại với thị trường Malaysia. Nhiều doanh nghiệp
xuất khẩu lao động đã than phiền: có nhiều trường hợp đã đăng ký, được cấp
calling visa, hoàn tất thủ tục xuất cảnh, thậm chí đến giờ bay người lao động
vẫn hủy hợp đồng. Có những doanh nghiệp xuất khẩu lao động trước đây mỗi
năm cung ứng hơn 1.000 lao động sang Malaysia như Airseco, Châu Hưng,
Hiteco, Sovilaco thì nay đều rơi vào tình trạng khó tuyển lao động.Vấn đề
này đôi khi xuất phát từ một vài công ty xuất khẩu lao động của ta, cũng như
từ chính sách xuất khẩu lao động của ta chưa thật sự chuyên nghiệp theo lối
“đem con bỏ chợ”, sau khi có tiền thì không đoái hoài đến lợi ích của công
nhân Việt ta nữa.Tình hình này kéo dài có thể gây ra việc trì trệ xuất khẩu lao
động dẫn đến mất luôn thị trường ổn định và dể tính như Malayxia.
5.2. Thuận lợi.
Tuy có nhiều khó khăn nhưng bên cạnh đó ta cũng có nhiều điều thuận
lợi. Trước mắt, theo như thông tin thì hiện Chính phủ Malaysia đang có kế
hoạch đầu tư, phát triển hành lang kinh tế phía Bắc và vùng duyên hải, rất cần
nhiều lao động nước ngoài sang làm việc đến năm 2015. Đây là thời cơ rất
thuận lợi cho việc tiếp nhận lao động Việt Nam sang làm việc.Về phía Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội, đã chỉ đạo các công ty chuyên đưa lao động
sang làm việc tại thị trường Malaysia, khi ký hợp đồng cung ứng lao động cho
phía bạn phải đảm bảo mỗi lao động thu nhập không dưới 19
Ringit/ngày/người.
Thuận lợi tiếp theo đến từ việc khôi phục mạnh mẽ sau khủng hoảng
của nền kinh tế các nước châu Á, trong đó có Malayxia. Nền kinh tế khôi
phục thì nhu cầu lao động của Malayxia lại khôi phục mạnh, những khó khăn