BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU TẠO CỦ IN VITRO VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH
TRƢỞNG, NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG KHOAI SỌ TH3 VÀ GIỐNG
KHOAI MÔN TH1 ĐƢỢC NHÂN BẰNG PHƢƠNG PHÁP IN VITRO Giảng viên hƣớng dẫn : GS.TS. NGUYỄN QUANG THẠCH
: ThS. NGUYỄN THỊ HƢƠNG
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ TRANG
Lớp : KS. CNSH 07 - 05 HÀ NỘI - 2011
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
2,4-D : 2,4-Dichlorophenoxyacetic acid
BA : 6-Benzyladenine
BAP : N
6
-Benzyl aminopurine
CT : Công thức
DC : Đối chứng
IAA : Indole-3-acetic-acid
MS : Murashige and Skoog
NAA : Naphthalene acetic acid
PP
333
: Paclobutrazol
TDZ : Thiadiazuron
TE : Dịch chiết khoai môn – sọ
TB : Trung bình
KLTB : Khối lượng trung bình
B9 : Daminozide
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
2.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 20
2.2.1. Nội dung 20
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 23
2.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu 23
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi 23
PHẦN III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. Các thí nghiệm tạo củ in vitro 24
3.1.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ đường đến khả năng tạo củ
khoai môn sọ in vitro 24
3.1.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của quang chu kì khác nhau đến khả năng
tạo củ khoai môn sọ in vitro 27
3.1.3. Ảnh hưởng của chất kìm hãm sinh trưởng đến sự hình thành củ
khoai môn sọ 30
3.1.4. Ảnh hưởng của tuổi cây đến sự hình thành củ khoai môn sọ 34
3.2. Đánh giá khả năng sinh trƣởng phát triển của cây khi đƣa ra trồng
in vitro 36
3.2.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển của khoai
môn sọ 36
3.2.2. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng phát triển
khoai môn sọ 40
3.2.3. Ảnh hưởng của phương pháp ngắt chồi đến việc tạo củ môn sọ in vivo 43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
I. Kết luận 46
II. Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
v
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Phân loại cây khoai môn sọ 7
Hình 2: Ảnh hưởng của nồng độ đường đến khối lượng củ con trên giống
TH1 27
Hình 3: Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến khả năng tạo củ trên
giống TH3 29
Hình 4: Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến sự hình thành củ ở TH1 30
Hình 5: Ảnh hưởng của chất kìm hãm sinh trưởng đến sự hình thành tạo củ
trên giống TH1 33
Hình 6: Ảnh hưởng của chất kim hãm sinh trưởng đến sự hình thành củ trên
giống TH3 33
Hình 8: Ảnh hưởng của tuổi cây đến sự hình thành củ trên giống TH1 35
Hình 9: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sự sinh trưởng và phát triển của
giống TH1 39
Hình 10: Ảnh hưởng của mật độ đến số củ khoai môn sọ 39
Hình 11: Ảnh hưởng của công thức bón phân đến sự sinh trưởng và phát
triển của giống TH1 42
Hình 12: Ảnh hưởng của công thức bón phân đến số củ khoai môn sọ 43
Hình 13: Ảnh hưởng của phương pháp ngắt chồi đến sự sinh trưởng và phát
triển của giống TH1 44
Hình14: Ảnh hưởng của phương pháp ngắt chồi đến số củ khoai môn sọ 45 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
trên giống TH3 37
cứu di truyền, chọn giống, bảo tồn nguồn gen đối với loại cây trồng này ở
nước ta còn ít.
Trong thực tế sản suất việc nhân giống khoai môn – sọ vẫn chủ yếu sử
dụng là ở các dạng củ. Vì thế việc tạo ra số lượng lớn củ giống sẽ giúp việc mở
rộng quy mô sản suất khoai môn - sọ dễ dàng hơn rất nhiều.
Mặt khác việc nuôi cấy và giữ cây khoai môn - sọ in vitro cũng đã gặp
không ít những khó nhăn như: thời gian giữ giống thấp nên tốn công sức
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
2
cấy chuyển. Khi số lần cấy chuyển tăng lên thường rất dễ xảy ra các biến dị
soma ảnh hưởng không tốt cho việc bảo quản giống. Ngoài ra kích thước
cây khoai môn – sọ in vitro khá lớn cũng đã gây ra những khó khăn nhất
định khi cấy chuyển chúng. Việc bảo tồn và lưu giữ nguồn gen trong nuôi cấy
in vitro ngày càng được quan tâm. Những năm vừa qua Viện Sinh học Nông
nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã thu thập và hoàn thiện quy trình
nhân giống in vitro của hơn 10 giống khoai môn sọ trong nước. Tuy nhiên việc
tạo củ in vitro còn cần được nghiên cứu để hoàn thiện quy trình nhân giống
khoai môn sọ trong phòng thí nghiệm, đồng thời việc đánh giá các đặc tính nông
sinh học ngoài đồng ruộng của các giống này vẫn còn bỏ ngỏ.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên
cứu tạo củ in vitro và đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất của giống
khoai sọ TH3 và giống khoai môn TH1 được nhân bằng phương pháp in
vitro”
II. Mục đích, yêu cầu
1. Mục đích
- Xác định được phương pháp tạo củ in vitro của 1 số giống khoai môn sọ
bản địa thu thập được
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất của 1 số giống khoai môn sọ
bản địa được nhân bằng phương pháp in vitro.
Khoai môn củ là một nguồn tuyệt vời của chất bột, tinh bột đa số là trong
đó có 17 -28% là amylase, và phần còn lại là amylopectin (Oke, 1990). Kích
thước của tinh bột khoai môn hạt là một phần mười của khoai tây và tiêu hóa của
nó đã được ước tính là 98,8%. Bởi vì nó dễ dàng đồng hóa, nó phù hợp cho
người có vấn đề tiêu hóa. Nên khoai môn sọ đặc biệt hữu ích cho những người dị
ứng với ngũ cốc và có thể được tiêu thụ bởi trẻ em người rất nhạy cảm với sữa,
và như bột khoai môn đó được sử dụng trong các công thức thức ăn cho trẻ sơ
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
4
sinh và các loại thực phẩm đóng hộp bé (Lee, 1999). Khoai môn củ ít chất béo
và protein, tuy nhiên, những protein trong củ khoai môn cao hơn so với khoai
mỡ, sắn và khoai lang. Nó giàu protein và một số axit amin thiết yếu, nhưng ít
tryptophan, isoleucine và methionine (Onwueme, 1978). Khoai môn lá có chứa
hàm lượng protein cao hơn và cũng là nguồn tuyệt vời về carotene, kali, canxi,
sắt, phốt pho, riboflavin, thiamine, niacin, vitamin A, vitamin C và chất xơ
(Onwueme, 1978, Lambert, 1982; Hanson và Imamuddin, 1983; Bradbury và
Holloway, 1988; Opara, 2001). Nó cũng có số lượng vitamin B lớn hơn so với
sữa nguyên chất (Lee, 1999). Cây khoai môn tươi lá và cuống lá có chứa 80% và
94% độ ẩm.
Bảng 1. Thành phần các chất trong củ khoai môn – sọ (khối lƣợng tƣơi)
Thành phần
Tỷ lệ
Nước
63 – 85 %
Cacbon hydrat (tinh bột)
13 – 29 %
Protein
1,4 – 3,0 %
Chất béo
• Rễ
Rễ chùm mọc từ đốt mầm xung quanh thân củ. Rễ ngắn, hướng ăn ngang
và mọc thành từng lớp theo hướng đi lên thuận với sự phát triển của đốt, thân củ.
Số lượng rễ và chiều dài rễ phụ thuộc vào từng giống và đất trồng. Rễ phát triển
thành nhiều tầng, phụ thuộc vào số lá của cây, mỗi lớp rễ trung bình có từ 25 –
30 rễ.
• Thân củ
Khoai môn sọ đều có phần gốc phình to thành củ được gọi là than củ chứa
tinh bột. Củ cái chính được coi là cấu trúc than chính của cây, nằm trong đất.
Trên thân củ có nhiều đốt, mỗi đốt có mầm phát triển thành nhánh. Sau khi dọc
lá lụi đi thì trên thân củ thêm một đốt và thân củ dài thêm ra. Đỉnh của củ cái
chính là điểm sinh trưởng của cây. Sự mọc lên của cây đều bắt đầu từ đỉnh củ
cái, toàn bộ phần dọc lá trên mặt đất tạo nên thân giả của cây môn sọ.
• Lá
Lá là phần duy nhất nhìn thấy trên mặt đất, lá quyết định chiều cao của cây.
Lá của cây môn sọ có diện tích tương đối lớn. Mỗi một lá được cấu tạo bởi một
cuống lá và một phiến lá.
Cuống lá (dọc lá): mập có bẹ ôm chặt dưới gốc tạo nên thân giả. Chiều dài
của dọc lá biến động phụ thuộc vào kiểu gen từ 35cm – 160cm. Màu dọc lá biến
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
6
đổi từ xanh nhạt tới tím đậm, đôi khi có sọc màu tím hoặc xanh đậm. Dọc và lá
không phải khi nào cũng cùng màu. Gần lúc thu hoạch củ, dọc lá ngày càng
ngắn lại và phiến lá cũng nhỏ đi.
Phiến lá: có dạng hình khiên, gốc hình tim, có rốn ở giữa. Phiến lá nhẵn
chiều dài biến động từ 15cm – 50cm. Kích thước lá chịu ảnh hưởng rất lớn của
điều kiện ngoại cảnh và đạt kích cỡ lớn nhất ở giai đoạn sắp ra hoa. Màu có thể
biến động từ xanh nhạt đến đỏ thẫm tùy thuộc vào kiểu gen. Trên phiến lá có 3
tia gân chính, 1 gân chạy thẳng từ điểm nối dọc lá với phiến lá tới đỉnh lá. Hai
Hình 1: (A) C. esculenta var. esculenta (dasheen) có một củ cái trung tâm.
(B) C.esculenta var. antiquorum (eddoe) có một củ cái nhỏ với
nhiều củ con xung quanh.
Ngoài ra còn có 1 nhóm mang đặc tính trung gian giữa 2 nhóm kể trên.
Chính vì vậy gọi nhóm cây khoai môn sọ là chính xác nhất.
1.2.3. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
1.2.3.1 Giai đoạn ra rễ mọc mầm
Sự hình thành rễ xảy ra ngay sau khi trồng, tiếp theo là sự phát
triển nhanh chóng của chồi (mầm) củ. Khi chồi mầm ra khỏi mặt đất thì
rễ đã dài từ 3 – 5cm. Sự phát triển của rễ tương ứng với sự phát triển của
lá, cứ 1 lá lại sinh ra 1 lớp rễ. Từ khi chồi mầm nhú lên khỏi mặt đất đến
khi phát triển lá thứ nhất mất khoảng 15 – 20 ngày, sau đó 10 – 12 ngày
xòe 1 lá. Từ lúc nhú đến lúc nở hoa hoàn toàn mất 4 – 5 ngày. Tuổi thọ
của lá khoảng 32 – 37 ngày. Khi ra lá thứ tư, thứ năm thì lá thứ nhất bắt
đầu héo, sau đó cứ 2 – 3 lá thì có một lá héo.
A
B
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
8
1.2.3.2 Giai đoạn sinh trưởng thân lá
Đặc trưng bởi sự phát triển thân lá và hình thành củ cái. Khi tốc độ ra lá
nhanh, cũng là lúc diện tích lá tăng nhanh nhất. Sự hình thành củ cái thường bắt
đầu xảy ra sau khi trồng được 3 tháng. Sự hình thành củ con được xảy ra sau đó
1 thời gian ngắn. Trong giai đoạn này cây cũng bắt đầu đẻ nhánh phụ. Sự phát
triển của chồi và lá sẽ chỉ giảm mạnh vào khoảng sau trồng 5 – 6 tháng cùng với
đó lá mọc ra chậm lại, chiều dài của dọc cũng giảm, giảm tổng diện tích lá trên
cây và giảm cả về chiều cao cây trung bình trên đồng ruộng. Hiện tượng này
phát triển của cây môn sọ.
1.3.4 Đất đai
Cây môn sọ là loại cây có thể thích ứng được với nhiều loại đất khác nhau
và được trồng nhiều ở loại đất tương đối chua, thành phần tương đối nhẹ và
nhiều mùn. Năng suất cao hay thấp phụ thuộc vào giống và phân bón nhiều hay
ít. Tuy nhiên khoai môn nước cũng thích ứng tốt với loại đất nặng ngập nước
hoặc đất phù sa, có độ ẩm. Khoai sọ đồi được trồng nhiều ở xứ nhiệt đới. Ở miền
Bắc nước ta thường được trồng nhiều ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Bắc Cạn,
Lạng Sơn…
1.3.5 Chất dinh dưỡng
Cũng như các loại cây trồng lấy củ khác, khoai môn sọ yêu cầu đất tốt,
đầy đủ NPK và các nguyên tố vi lượng để cho năng suất cao. Những nơi đất quá
cằn cỗi cần bón nhiều phân hữu cơ mới phù hợp để trồng khoai môn sọ. Phân
bón rất có ý nghĩa trong việc tăng năng suất củ và thân lá của cây khoai môn sọ.
Cây môn sọ phát triển tốt nhất trên đất có pH khoảng 5,5 – 6,5. Một đặc
tính quý của chúng là một số giống có tính chống chịu mặn cao. Chính vì vậy ở
Nhật và Ai Cập cây khoai môn sọ được sử dụng như cây trồng đầu tiên để khai
hoang đất ngập mặn. Điều này cho thấy tiềm năng sử dụng cây môn sọ để khai
thác 1 số vùng sinh thái khó khăn, nơi những cây trồng khác không thể trồng
được, hoặc kém phát triển.
1.4. Tình hình nghiên cứu nuôi cấy invitro cây khoai môn - sọ trên thế giới
và Việt Nam
1.4.1 Tình hình nghiên cứu nuôi cấy invitro cây khoai môn – sọ trên thế giới
Để tiến hành nuôi cấy khoai môn - sọ, người ta thường sử dụng củ khoai
môn - sọ để vào mẫu. Củ khoai môn - sọ là bộ phận sử dụng chủ yếu, chúng nằm
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
10
trong đất nên thường dễ bị nấm bệnh tấn công. Cũng chính vì vậy việc vào mẫu
nuôi cấy cũng đã gặp không ít khó khăn. Trước tình hình đó nhiều tác giả đã
mg/l NAA và 2 mg/l kinetin và bổ sung thêm 10
-4
– 10
-3
mol/l spermine hoặc
tiền chất của axit amin arginine và ornithine. Cây con được tái sinh trực tiếp từ
chồi đỉnh, chồi nách và protocorm. Tần số tái sinh cây con, tốc độ sinh trưởng
phát triển của cây con từ chồi đỉnh cao hơn khi môi trường có arginine và
ornithine. Các cây con thứ cấp phát triển từ chồi nách và dạng protocorm được
cảm ứng bởi spermine và arginine.
Tuia và V. S. (1997) đã nghiên cứu hiệu quả từ việc vi nhân giống khoai
môn - sọ bằng protocol trên môi trường MS với 30 g/l sucrose, 7,75 g/l agar và
chất kích thích sinh trưởng TDZ và BAP. Tiến hành nhân giống trong 3 nồng độ:
0,5 mg/l TDZ trong 4 tuần; 0,8 mg/l BAP trong 3 tuần; 0,005 mg/l TDZ trong 3
tuần. Ban đầu tiến hành nuôi cấy trong môi trường MS lỏng trong 2 – 4 tuần, sau
đó cấy chuyển sang môi trường MS rắn.
Tác giả H. Chand và cộng sự (1999) đã tiến hành nhân nhanh in vitro
khoai môn - sọ Colocasia esculenta trên môi trường MS có bổ sung chất điều
tiết sinh trưởng là BA và TDZ. Mẫu cấy sử dụng trong thí nghiệm là đỉnh chồi
và mắt ngủ. Sau khi khử trùng, mẫu cấy được cắt với kích thước 5 – 10 mm, sâu
5 mm đối với mắt ngủ và 15 – 30 mm đối với đỉnh chồi, cấy mẫu trên môi
trường: MS + 30 g/l saccarose + 150 ml/l nước dừa. Sau đó khảo sát sự nhân
nhanh trên các môi trường:
MS + BA (0; 0,03; 0,13; 0,63; 1,13; 2 mg/l)
MS + TDZ (0; 0,03; 0,13; 0,63; 1,13; 2 mg/l)
Với cách bố trí thí nghiệm với 5 mẫu/CT, chồi xuất hiện sau 4 tuần vào mẫu
ở các nồng độ từ 0,13 – 1,13 mg/l. Trong đó công thức thí nghiệm với BA hệ số
nhân cao nhất ở nồng độ 1,13 mg/l. Sau 12 tuần nuôi cấy hệ số nhân cao nhất thu
được ở thí nghiệm với BA và TDZ đều là ở nồng độ 1,13 mg/l. Sau khi tổng kết
thí nghiệm tác giả đã tìm ra môi trường nhân nhanh thích hợp là:
2
rồi đưa vào khử trùng trong
dung dịch HgCl
2
0,5% có chứa vài giọt Tween 20 trong 8 phút và sau được rửa
lại 4 – 5 lần bằng nước cất vô trùng. Mẫu cấy được đưa vào nuôi cấy trên môi
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
13
trường MS có bổ sung BA với các nồng độ là 2; 4; 6; 8 mg/l và IAA với các
nồng độ khác nhau là: 0,5; 1; 2; 3 mg/l (Chien-Ying Ko và cộng sự, 2007). Qua
quá trình theo dõi các tác giả đã thấy rằng: các mẫu được cấy trong môi trường
MS + 5 mg/l BA + 2 mg/l IAA sau 1 tuần đã có mầu xanh trở lại và sau 4 tuần
nuôi cấy cho hệ số nhân cao nhất. Các chồi sau đó được chuyển sang môi trường
MS + 0,25 mg/l αNAA + 1,5 g/l than hoạt tính + 30 g/l saccarose để tạo rễ.
Nghiên cứu ảnh hưởng của TDZ và BA đến hệ số nhân của chồi khoai
môn - sọ H. Chand và M. N Pearson (1998) đã đưa ra kết luận: việc nuôi cấy
khoai môn - sọ trong môi trường MS có bổ sung 2,6 µM TDZ (0,6 mg/l) cho hệ
số nhân của chồi cao hơn so với việc cấy chúng trong môi trường MS có bổ sung
BA. Khi bổ sung vào môi trường 4,3 µM TDZ (1mg/l TDZ) sau 4 tuần nuôi cấy
co hệ số nhân đạt tới 15 – 20 lần, so với môi trường bổ sung BA là 4 lần.
Hầu hết trong sản xuất khoai môn - sọ đều được trồng bằng củ. Việc tạo
củ giống nhiều và sạch cũng sẽ mở ra hướng phát triển cho khoai môn - sọ.
Năm 1999, Su P. Zhou và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tạo củ in vitro
cây khoai môn - sọ. Ban đầu cây con được nuôi cấy trên môi trường MS lỏng có
bổ sung 8 – 10% saccarose và 22 – 44 µM BA, hầu hết các mẫu cấy đều hình
thành củ. Theo tác giả, nếu môi trường bổ sung 170 – 850 µM PP
333
sẽ làm tăng
sự tạo củ. Ngược lại, khi nồng độ PP
2,4,5-trichlorophenoxyacetic acid (2,4,5-T). Môi trường đầy đủ dinh dưỡng
không dẫn tới sự hình thành callus. Năm 2009, Deo và cộng sự đã nghiên cứu
sâu hơn về vấn đề trên và khẳng định: dịch chiết khoai môn - sọ là quan trọng
để hình thành callus. Tuy nhiên, TE là thành phần không rõ trong môi trường
nuôi cấy và nó không đồng nhất về thành phần và nồng độ của các chất ở mỗi
cá thể riêng lẻ. Hơn nữa, chất hoạt động trong TE tác động cho sự hình thành
callus là chưa xác định.
Đã có 3 công trình nghiên cứu về việc tạo phôi vô tính khoai môn - sọ
(Thinh, 1997; Verma et al, 2004; Deo et al, 2009). Verma và cộng sự (2004) đã
sử dụng môi trường MS để tạo protocol (khởi đầu trong môi trường bổ sung 2,2
mg/l 2,4-D và 0,44 mg/l TDZ, tiếp theo nuôi cấy với 1.1 mg/l TDZ) và từ đó tạo
phôi vô tính từ chồi đỉnh, với 25 – 30 phôi vô tính từ mẫu cấy. Thinh (1997) đã
tạo phôi vô tính từ cuống lá tính từ ngọn xuống. Chúng được nuôi cấy trong môi
trường MS với 1,0 – 2,0 mg/l TDZ. Cả 2 trường hợp trên đều có thể trực tiếp tạo
phôi vô tính. Thinh (1997) tiến hành trên khoai sọ, Verma và cộng sự quan sát
thấy trên cả khoai môn và khoai sọ. Hiệu quả từ protocol, gián tiếp hình thành
phôi vô tính (qua việc tác động vào callus và sau đó nuôi cấy huyền phù phôi
callus) bao gồm hiệu quả tái sinh protocol thành phôi vô tính ở khoai môn (Deo
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705
15
et al, 2009) với hiệu quả có tốc độ khoảng 500 - 3000 phần ml tế bào và 80 –
100 g môi trường rắn tạo callus hình thành phôi với tỷ lệ khoảng 60%.
Trong trường hợp protocol (Deo et al, 2009) tạo từ lát củ nuôi cấy in vitro
trên môi trường MS có 2,0 mg/l 2,4-D trong khoảng 20 ngày ở điều kiện tối, sau
đó cấy chuyển sang môi trường MS với 1,0 mg/l TDZ đặt ở trong tối. Phôi callus
hình thành sau 75 ngày và tiếp tục nuôi cấy đến 100 ngày. Sử dụng môi trường
có 1 mg/l 2,4-D và 0,5 mg/l TDZ đã hình thành phôi callus nhưng tần số thấp
hơn so với môi trường chứa 2 mg/l 2,4-D và 1 mg/l TDZ. Nồng độ các chất trên
có thể khác nhau giữa các loại khoai môn - sọ. Callus được hình thành trong môi
tuần nuôi cấy. Sự tái sinh chồi tăng lên khi nuôi cấy trong môi trường bổ sung 1
mg/l NAA, 1 mg/l BA. Trước khi cây con được chuyển ra ngoài đồng ruộng
chúng được đưa vào môi trường khoáng để thích ứng trước.
Khi nồng độ NH
4
NO
3
từ 720 – 200 mg/l sẽ làm tăng tỷ lệ tạo callus. Nồng
độ NH
4
NO
3
ở mức thấp sẽ làm tăng chất lượng của callus. Khi môi trường được
bổ sung 10% nước dừa sẽ tốt hơn cho cảm ứng tạo callus, có lợi cho sự nhân lên
của callus nhưng đúng hơn là cho cảm ứng tạo rễ.
Nhóm tác giả Murakami K. và cộng sự (1998) đã nghiên cứu tái sinh chồi
từ callus và protoplast trên Colocasia esculenta Schott. Tác giả đã tạo callus từ
cuống lá trên môi trường MS + 30 g/l saccarose + 1 mg/l 2,4-D và 2ip. Số lượng
callus tăng lên nhanh chóng khi cấy chuyển sang môi trường mới và sau đó được
nuôi cấy trên môi trường lỏng. Protoplast được tách riêng từ các tế bào nhỏ. Chồi
được tái sinh từ khối callus khi cấy chuyển chúng sang môi trường MS + 30 g/l
saccarose + 0 - 2 mg/l α NAA + 2 mg/l BA hoặc 2ip. Những chồi này hình thành
rễ khi được cấy sang môi trường MS cơ bản.
Năm 2008, Deo và cộng sự đã đưa ra kết luận về việc nuôi cấy huyền phù
tế bào khoai môn – sọ: Nuôi cấy huyền phù tế bào bằng cách đặt miếng callus
(0,5 g) trong môi trường MS lỏng chứa 1 mg/l TDZ, 0,5 mg/l 2,4-D và 100 mg/l
glutamine trong điều kiện lắc 90 rpm. Phôi được cảm ứng khi nuôi cấy huyền
phù tế bào trong môi trường MS chứa 1 mg/l TDZ, 0,5 mg/l 2,4-D, 100 mg/l
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Trang Lớp: CNSH 0705