i
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƢỜNG
== ==
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
HUỲNH THỊ THÚY KIỀU
TẠO MÔ HÌNH ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG VÀ
THỦ TÁC DỤNG HẠ ĐƢỜNG HUYẾT CỦA CÁC DỊCH CHIẾT TỪ
NẤM HOÀNG CHI GANODERMA COLOSSUM
Ngành học: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Niên khóa: 2007-2011
GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ HẢI THANH
iii
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ) 3
1.1.1. Tình hình bệnh ĐTĐ trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.2. Phân loại và cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ 4
1.2. Đái tháo đƣờng với y học cổ truyền (YHCT) 6
1.2.1. Quan niệm của y học cổ truyền về ĐTĐ 6
1.2.2. Các thuốc đông y điều trị ĐTĐ 6
1.3. Phƣơng pháp gây mô hình ĐTĐ trên động vật thực nghiệm 7
1.3.1. Một số mô hình gây ĐTĐ mô phỏng ĐTĐ type 1 trên động vật thực nghiệm 7
1.3.2. Streptozocin và ứng dụng trong mô hình ĐTĐ type1 8
1.4. Nấm Hoàng chi (Ganoderma colossum) 9
1.4.1. Đặc điểm chung 9
1.4.2. Phân bố sinh thái 10
1.4.3. Thành phần hóa học [3] 10
1.4.4. Tác dụng dược lý[7] 13
1.4.5. Tình hình nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của nấm Hoàng chi trên Thế giới và ở
Việt Nam 16
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 18
2.1.1. Động vật nghiên cứu 18
3.3.3. Chiết polysacharide thô 51
3.4. Tác dụng hạ đƣờng huyết của các phân đoạn dịch chiết từ nấm Hoàng chi Ganoderma
colossum trên mô hình chuột gây ĐTĐ 53
Chƣơng 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 56
4.1. Kết luận 56
4.2. Đề xuất ý kiến 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Tài liệu tiếng Việt 57
Tài liệu tiếng Anh 58
v
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
vi
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Streptozocin của hãng Santa Cruz 9
Hình 2.1: Chuột nhắt trắng chủng Swiss 18
Hình 2.2: Nấm Hoàng chi (Ganoderma colossum) 18
Hình 2.3: Máy đo đường huyết 19
Hình 2.4: Bộ kít thử 19
Hình 2.5: Máy nghiền mẫu 20
Hình 2.6: Bình hút chân không 20
54
Hình 3.21: Cho chuột uống thuốc 55 vii
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ năm 1999 của một số quốc gia [11] 4
31
Bảng 3.2: Khả năng dung nạp glucose của các lô chuột sau 3h uống gucose 34
Bảng 3.3: Khả năng dung nạp glucose của các lô chuột sau khi uống dịch chiết 3h 35
Bảng 3.4: Hàm lượng (%) thành phần chất xơ cellulose có trong nấm Hoàng chi 38
Bảng 3.5: Khảo sát khả năng loại protein liên kết polysaccharide của thuốc thử Sevage 41
52
53
1
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
năng insulin là nguyên nhân chính gây ra bệnh tiểu đường. Nghiên cứu của Lin JM
2
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
(1995) cho thấy nấm Hoàng chi có tác dụng phục hồi chức năng gan trong bệnh tiểu
đường và làm chậm quá trình phát bệnh ở những bệnh nhân mắc bệnh này.
Xây dựng các mô hình bệnh lý để thử thuốc có ý nghĩa quan trọng nhằm đáp ứng
những tiêu chuẩn về phát triển các sản phẩm thuốc mới của bộ Y tế Việt Nam và
WHO. Đã có một số mô hình ĐTĐ được áp dụng ở Việt Nam, tuy nhiên vẫn cần có sự
bổ sung nhằm mục đích hoàn thiện và phong phú các phương pháp đánh giá tác dụng
hạ đường huyết của thảo dược.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài “Tạo mô hình đái tháo
đường trên chuột nhắt trắng và thử tác dụng hạ đường huyết của các dịch chiết từ nấm
Hoàng chi Ganoderma colossum” với các nội dung chính:
- Tạo mô hình ĐTĐ trên chuột nhắt trắng bằng Streptozocin
- Định tính, định lượng thành phần các chất có trong nấm Hoàng chi:
polysaccharide, triterpenoid, alkaloid, cellulose
- Thu dịch chiết nấm Hoàng chi
- Thử tác dụng hạ đường huyết của các dịch chiết từ nấm Hoàng chi trên chuột
nhắt trắng
hội và sức khỏe của con người toàn thế giới trong thế kỷ 21. Chính vì vậy, WHO đã
nhận định rằng: “Thế kỷ XXI là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa mà
điển hình là bệnh ĐTĐ. Những gì mà đại dịch HIV/AIDS đã hoành hành 20 năm cuối
thế kỷ XX, thì đó sẽ là ĐTĐ trong 20 năm đầu thế kỷ XXI”.
4
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
Bảng 1.1: Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ năm 1999 của một số quốc gia [11]
Nước
Dân số
( Triệu)
Số ca ĐTĐ
(Triệu)
Tỷ lệ %
Typ1
( Triệu)
Typ2
(Triệu)
Thái Lan
62
4.0
6.7
0.046
1.8
Mỹ
250
10
4.0
0.75
23
Indonesia
210
2.7
1.3
0.009 – 0.036
1.8-3.6
* Ở Việt Nam
Việt Nam không phải là nước có tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ cao nhất thế giới nhưng
lại là quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Bên cạnh đó, biến chứng tim
mạch do bệnh ĐTĐ luôn là biến chứng phổ biến và là nguyên nhân gây đột quỵ và tử
vong hàng đầu ở người bệnh ĐTĐ.
Tại Việt Nam, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội, tỷ lệ mắc bệnh
ĐTĐ trong 10 năm qua có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên những số liệu về bệnh ĐTĐ
mới chỉ giới hạn ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh,
Hải Phòng, trong lứa tuối 30-64 là 4.0%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 5.1%, riêng
quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị
muộn. Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị kịp
thời. Vùng đồng bằng, ven biển tỷ lệ mang bệnh ĐTĐ ở lứa tuối 30-64 là 2.7%.
1.1.2. Phân loại và cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ
Năm 1997, Uỷ ban chuyên gia về chẩn đoán và phân loại bệnh ĐTĐ của WHO
đã đề nghị phân loại ĐTĐ mới dựa trên những tiến bộ khoa học trong những năm gần
5
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
đây. Phân loại này dựa vào hiểu biết về nguyên nhân sinh bệnh. Cách phân loại được
tóm tắt dưới đây:
a. Đái tháo đường type 1
Bệnh nhân ĐTĐ type1 cần được kiểm tra thường xuyên ở giai đoạn đầu để tìm
hiểu insulin phù hợp, sau đó khám định kì hàng tuần, hàng tháng.
b. Đái tháo đường type 2
Đái tháo đường type 2 là tình trạng tăng đường huyết do hậu quả của kháng
insulin ở cơ quan đích kèm theo suy giảm chức năng tế bào β hoặc do suy giảm chức
năng tế bào β kèm theo kháng insulin của cơ quan đích.
Cơ chế bệnh sinh:
Sinh bệnh học ĐTĐ type 2 diễn biến qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Nồng độ glucose trong máu vẫn ở mức bình thường, nhưng có
hiện tượng kháng insulin vì mức insulin tăng cao hơn mức bình thường trong máu.
- Giai đoạn 2: Tình trạng kháng insulin có xu hướng nặng dần và xuất hiện tăng
glucose huyết sau bữa ăn.
- Giai đoạn 3: Sự kháng insulin không thay đổi, nhưng bài tiết insulin suy giảm
và gây tăng glucose huyết lúc đói. Bệnh ĐTĐ biểu hiện qua bên ngoài.
Trong số các yếu tố môi trường đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển bệnh thì béo
phì là yếu tố thường được đề cập nhất. Béo phì làm gia tăng tình trạng kháng insulin.
Nhiều bằng chứng cho thấy kiểm soát tốt tình trạng tăng cân béo phì sẽ làm giảm đáng
kể tình trạng kháng insulin và kiểm soát tốt glucose huyết.[11]
1.2. Đái tháo đƣờng với y học cổ truyền (YHCT)
1.2.1. Quan niệm của y học cổ truyền về ĐTĐ
YHCT đề cập đến nguyên nhân gây bệnh ĐTĐ là do thần chí thất điều (yếu tố
stress), như do “can khí uất kết, uất trệ sinh nhiệt hóa táo thương âm…sinh ra miệng
khát, uống nước nhiều, hay đói”. Tóm lại, theo phương diện YHCT, nguyên nhân gây
bệnh ĐTĐ chủ yếu là do: bấm thụ âm hư, ăn uống không điều độ hoặc do tình chí rối
loạn. Bên cạnh đó, yếu tố di truyền trong gia đình cũng được lưu ý.
1.2.2. Các thuốc đông y điều trị ĐTĐ
Việt Nam là nước có nguồn dược liệu rất phong phú. Bên cạnh chế độ ăn uống
và tập luyện hợp lý thì việc sử dụng thảo mộc trong điều trị bệnh ĐTĐ từ lâu đã được
biết đến với nhiều tác dụng tích cực. Dưới đây là một số thảo mộc rất sẵn trong nước
0.1M, pH 5.5. Nhóm đối chứng tiêm citrat natri 10 ml/kg.
* Mô hình của Judith M.Thomas và cộng sự (2001) sử dụng liều đơn STZ
140mg/kg pha trong đệm Citrate natri (0.1M, pH 4.5) gây ĐTĐ type 1 bằng tiêm màng
bụng trên khỉ nâu 2-3 tuổi, 3.1-3.8kg. Sau 3 ngày tiêm STZ, những con khỉ nào thể
hiện mức glucose >250mg/dl được xem như bị ĐTĐ.
8
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
* J. Andrew Pospisilik và cộng sự (2003) sử dụng chuột cống chủng Wistar
(250g) tiêm màng bụng liều đơn STZ 50mg/kg để gây ĐTĐ, STZ được pha trong đệm
Citrate natri (pH 4.5), trước khi tiêm thuốc chuột được nhịn đói 4-6 giờ.
* Sachin và cộng sự đã khảo sát liều tiêm STZ để gây ĐTĐ trên chuột nhắt
trắng chủng Swiss với các mức liều đơn 180mg/kg, 100mg/kg và liều đa 40mg/kg tiêm
trong 5 ngày. Kết quả cho thấy liều đơn 180mg/kg gây ĐTĐ type 1 cho chuột sau 1
tuần nhưng tỷ lệ chuột chết sau thí nghiệm cao hơn tiêm liều thấp 40mg/kg trong 5
ngày. Liều đơn 100mg/kg không gây được ĐTĐ. Mô hình cũng khẳng định trong 3
mức liều khảo sát thì tiêm liều thấp 40mg/kg trong nhiều ngày là phương pháp gây
ĐTĐ type 1 hiệu quả nhất trên mô hình chuột nhắt trắng.
1.3.2. Streptozocin và ứng dụng trong mô hình ĐTĐ type1
Lịch sử phát triển
STZ là một kháng sinh được phân lập vào cuối thập niên 50 của thể kỉ XX.
Thuốc được các nhà nghiên cứu công ty Dược Upjohn ở Michigan phát hiện từ một
chủng nấm sợi Streptomyces achromogenes có trong mẫu đất lấy ở bang Kansas (Mỹ).
Giữa thập niên 60 các nhà khoa học đã phát hiện ra tính độc chọn lọc của STZ
đối với các tế bào β đảo tụy, trong khi các tế bào này lại điều tiết nồng độ glucose
huyết bằng cách tiết ra các hormon insulin. Đây là một gợi ý sử dụng thuốc để gây mô
hình ĐTĐ type 1và điều trị ung thư tụy.[13]
Tính chất vật lý và hóa học
STZ gồm hai chuỗi đồng phân lập thể là α và β. Tinh thể màu hơi vàng, trắng
cũng giải thích STZ có khả năng ức chế insulin.
Hình 1.1: Streptozocin của hãng Santa Cruz
1.4. Nấm Hoàng chi (Ganoderma colossum)
1.4.1. Đặc điểm chung
Theo Lý Thời Trần thì nấm Linh chi có 6 màu khác nhau được gọi là Lục bảo
Linh chi gồm: Xích chi (Linh chi đỏ); Hắc chi (Linh chi đen); Thanh chi (Linh chi
xanh); Bạch chi (Linh chi trắng); Hoàng chi (Linh chi vàng); Tử chi (Linh chi tím).
Trong đó, Hoàng chi có tên khoa học là Ganoderma colossum loài đặc biệt quý
hiếm, vừa mới phát hiện và đã được nuôi trồng thành công tại Thừa Thiên Huế. Trong
thư tịch cổ nấm Hoàng chi còn được gọi với tên khác như tiên thảo, nấm trường thọ.
Về hình thái và cấu trúc nấm Hoàng chi cũng giống các nấm Linh chi khác: tai
nấm hóa gỗ hình quạt hoặc thận; khi non, mặt trên tán nấm màu vàng chanh và khi già
màu vàng sậm, có ít vòng đồng tâm và vòng này thể hiện rõ rệt, toàn bộ tán nấm đều
có màu vàng, không cuống, mặt dưới có các lỗ thụ tầng to có màu kem khi non và hơi
bạc khi già có 3-4 lỗ thụ tầng. Thịt nấm màu trắng kem, xốp, dày khoảng 20 mm, lớp
sắc tố vàng bên trên rất mỏng, dễ bể khi khô, lớp thụ tầng này dày khoảng 10mm. Bào
10
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
tử đảm khá lớn so với các loài nấm Linh chi khác, hình trứng thuôn, kích thước từ 15-
18 mm x 8-10 mm, lớp vỏ bào tử sần sùi.
Vị trí phân loại
Họ: Ganodermataceae
Bộ: Ganodermatales
Lớp: Hymenomycetes
Ngành phụ: Basidiomycotina
Giới: Nấm thật
Tên khoa học: Ganoderma colossum Hình 1.2: Nấm Hoàng chi
Polysaccharide gồm 2 loại chính:
GL-A: Gal: Glu Rham: Xyl (3,2; 2,7; 1,8; 1,0) M= 23.000 Da.
GL-B: Glu Rham: Xyl (6,8; 2,0; 1,0) M=25.000 Da.
GL-A có thành phần chính là Gal, nên gọi là Galacta, còn GL-B có thành phần
chính là Glu, nên gọi là Glucan.
Hầu hết các polysaccharide hình thành từ 3 chuỗi monosaccharide, có cấu trúc
xoắn ốc 3 chiều, giống cấu trúc của DNA và RNA. Một phần polysaccharide phân tử
nhỏ không tan trong cồn cao độ, nhưng tan trong nước nóng.
Polysaccharide có nguồn gốc từ nấm Hoàng chi dùng điều trị ung thư được
công nhận sáng chế ở Nhật. Năm 1976, Công ty Kureha Chemical Industry sản xuất
chế phẩm ly trích từ nấm Hoàng chi có tác dụng kháng carcinogen. Năm 1982, Công
ty Teikoko Chemical Industry sản xuất sản phẩm từ nấm Hoàng chi có gốc
glucoprotein làm chất ức chế neoplasm. Bằng sáng chế Mỹ 4051314, do Ohtsuka & al
(1977) sản xuất từ nấm Hoàng chi chất mucopolysaccharide dùng chống ung thư.
Ganoderic acid
Ganoderic acid là một cyclopropene hoặc cyclopentene. Hàm lượng ganoderic
acid thay đổi theo giống nấm Hoàng chi, môi trường nuôi trồng, giai đoạn bào tử.
Chính sự thay đổi này làm cho mức độ đắng bị ảnh hưởng. Hàm lượng ganoderic acid
cao thì có nhiều vị đắng [4].
Triterpenoid là những hợp chất được tổng hợp từ 6 đơn vị isopren. Các
triterpenoid có bộ khung chính từ 27-30 nguyên tử carbon (C
28
H
48
) rất thường gặp
trong thực vật. Các triterpenoid tồn tại dưới dạng tự do (không có phần đường), có cấu
trúc vòng, mang một số nhóm chức như –OH; eter –O-; Carbanil C=O; nối đôi C=C.
Đặc tính chung là tan tốt trong eter dầu hỏa, hexan, chloroform, ít tan trong nước ngoại
trừ khi chúng kết hợp với đường để tạo thành glycosid.
12
benzen. Chính vì thế, tính hòa tan của các alkaloid đóng vai trò quan trọng trong việc
ly trích akaloid ra khỏi nguyên liệu và trong kỹ nghệ điều chế dạng thuốc để uống.
Alkaloid là những chất có hoạt tính sinh học nhiều ứng dụng trong ngành y
dược và nhiều chất rất độc. Các alkaloid ở nấm Hoàng chi có tác dụng rất khác nhau
phụ thuộc vào cấu trúc của alkaloid.
- Tác dụng lên hệ thần kinh
- Tác dụng lên huyết áp
- Tác dụng trị ung thư
Hợp chất saponin
Saponin là một loại glycosid, có cấu trúc gồm hai phần; phần đường gọi là
glycon và phần không đường gọi là aglycon.
13
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
*Saponin triterpenoid:
Phần aglycon của saponin triterpenoid có 30 carbon, cấu tạo bởi 6 đơn vị
hemiterpen và chia làm 2 nhóm:
+ Saponin triterpenoid pentacyclic: Phần aglycon của nhóm này có cấu trúc
gồm 5 vòng và phân ra thành những nhóm nhỏ: olean, ursan, lupan, hopan. Phần lớn
các saponin triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc nhóm olean.
+ Saponin triterpenoid tetracyclic: Phần aglycon có cấu trúc 4 vòng và phân
thành 3 nhóm chính: dammanran, lanostan, cucurbitan.
- Saponin steroid: Gồm các nhóm chính spirostan, furostan, aminofurostan,
spiroalan, solanidan.
- Hợp chất saponin trong nấm Hoàng chi có nhiều công dụng trong y học như:
+ Trị long đờm, chữa ho
+ Là chất phụ gia trong một số vaccine
+ Tác dụng thông tiểu
+ Tác dụng kháng viêm, chống khối u
phụ thuộc vào cấu tạo của các polysaccharid, chủ yếu phụ thuộc vào sự sắp xếp của
các chuỗi phân tử và số lượng nhóm OH trên các chuỗi, thường là các chất có khả
năng tan trong nước nóng, có các chuỗi phân tử chính D-glycopyranosy (14)- - và-
-và (16)- - và chuỗi (13)- -arabinosa.
Tác dụng chống quá trình làm lão hoá
Nấm Hoàng chi tác dụng dọn các gốc tự do. Năm 1956, Harmarn đưa ra lý
thuyết gốc tự do. Ông cho rằng các phân tử trong tế bào giải phóng ra các gốc tự do và
chuyển các gốc tự do này thúc đẩy quá trình lão hóa. Gốc tự do không ngừng sản sinh
trong quá trình trao đổi chất của tế bào, làm tổn thương ngay các tế bào, giảm hoạt tính
của các enzyme, phát sinh sai sót trong quá trình tổng hợp và hấp thụ các acid amin,
xuất hiện các biểu hiện dị thường trong các màng tế bào, thúc đẩy quá trình lão hóa và
xuất hiện các trạng thái bệnh lý cùng tuổi tác tăng lên, khả năng chống oxy hóa, các
enzyme chống oxy hóa nội sinh, khả năng phòng vệ các gốc tự do tự sản sinh trong cơ
thể mỗi năm một giảm làm tăng quá trình lão hóa.
Tác dụng trên thần kinh trung ƣơng
Các nhà nghiên cứu Viện Y học Bắc Kinh đã tiến hành nghiên cứu trên đối
tượng chuột nhắt và đưa ra kết quả dịch chiết cồn ethanol, khi tiêm phúc mạch chuột
nhắt trắng với liều 5g/kg thể trọng thì sau 1-2 ngày xuất hiện tác dụng trấn tĩnh thần
kinh, làm giảm rõ rệt các hoạt động. Tác dụng trấn tĩnh có thể duy trì sau 2 giờ. Nấm
Hoàng chi còn có tác dụng giảm cơn co giật do nicotin gây ra.
Tác dụng lên hệ tuần hoàn
Nấm Hoàng chi có tác dụng rất tốt đối hệ tuần hoàn như: Ổn định huyết áp; lọc
sạch máu tăng cường tuần hoàn máu; giảm mệt mỏi; hỗ trợ thần kinh; chống đau đầu
15
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
và tứ chi; điều hoà kinh nguyệt; làm da dẻ hồng hào chống các bệnh ngoài da như dị
ứng.
Tác dụng giảm đau
16
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều
1.4.5. Tình hình nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của nấm Hoàng chi trên
Thế giới và ở Việt Nam
Hiện nay, theo tổ chức Y tế thế giới, bệnh ĐTĐ đã được công nhận là bệnh đặc
biệt nghiêm trọng đe dọa đến sức khỏe và sự phát triển kinh tế ở tất cả các quốc gia
trên thế giới. Chính vì vậy vào năm 1989, Hội nghị lần thứ 42 của World Health
Assembly-Hội nghị Y tế toàn cầu đã thông qua lời kêu gọi toàn cầu hành động về
phòng và kiểm soát bệnh ĐTĐ theo khung của Nghị quyết WHA42.36. Trong đó, việc
nghiên cứu, tìm hiểu ứng dụng thảo dược vào chữa bệnh ĐTĐ đem lại hiệu quả cao
trong việc điều trị ĐTĐ cũng được quan tâm đến. Có rất nhiều thảo dược được sử
dụng trong việc chữa trị bệnh ĐTĐ như: actiso; bồ công anh; bí đao; nhàu; mướp
đắng; ổi; nhân sâm; dây thìa canh… Trong các loại thảo dược chữa bệnh ĐTĐ thì nấm
Hoàng chi là một loại thảo dược đã được nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết từ rất
lâu và đã đem lại hiệu quả như mong muốn. Hikino và cộng sự (1985) lần đầu tiên báo
cáo là 2 loại glycan, ganoderan A và B, có trong dịch chiết nước của quả thể nấm
Hoàng chi, có tác dụng hạ glucose đáng kể trên chuột gây ĐTĐ bằng alloxan. Zhang
và Lin (2004) ghi nhận rằng ảnh hưởng hạ đường huyết của các polysaccharide từ nấm
Hoàng chi là do đẩy mạnh dòng ion Ca
2+
vào trong tế bào β ở đảo tụy và vì vậy giải
phóng insulin. Xử lý polysaccharide của nấm Hoàng chi trong điều kiện invitro có tác
dụng bảo vệ các tế bào đảo tụy gây độc bởi alloxan thông qua việc ức chế sự hoạt hóa
của NF-kappa B và làm chậm sự tạo thành các gốc tự do, yếu tố gây ra sự phá hủy đảo
tụy (Zhang và cộng sự, 2003). Thêm vào đó, polysaccharide của nấm Hoàng chi ngăn
chặn/trì hoãn các biến chứng ở thận cũng như làm chậm việc tăng nồng độ của glucose
huyết và làm giảm mức triglyceride trong máu chuột gây tiểu đường bằng streptozocin
(Zhang và cộng sự, 2003). Ngoài ra dịch chiết nước từ quả thể nấm Hoàng chi còn làm
18
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hải Thanh SVTH: Huỳnh Thị Thúy Kiều Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
2.1.1. Động vật nghiên cứu
Chuột nhắt trắng chủng Swiss, cân nặng 18–22g do viện chăn nuôi Suối Dầu
Nha Trang cung cấp. Chuột được nuôi trong phòng điều hòa nhiệt độ 22±2
0
C với chu
kỳ ngày 12h và đêm 12h; được ăn bằng thức ăn cho bộ gậm nhấm do Viện vaccine và
sinh phẩm Y tế Nha Trang cung cấp Hình 2.1: Chuột nhắt trắng chủng Swiss
2.1.2. Dược liệu nghiên cứu