ĐỀ ÁN:MỤC LỤ C
2
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, và pháp luật đóng vai trò đặt biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân.
Pháp luật giúp Nhà nước kiểm soát được kinh tế; đảm bảo thực hiện việc xây dựng và
phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Pháp
luật là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế, quy định của nó không được cao hơn
hay thấp hơn trình độ phát triển của nền kinh tế đã sinh ra nó. Vai trò của pháp luật thể
hiện qua việc nó góp phần tích cực vào việc tổ chức, quản lý và điều tiết nền kinh tế.
Vượt qua đêm trường bao cấp, Việt Nam mở cửa nền kinh tế từ năm 1986, bắt
đầu giao thương làm ăn với các quốc gia trên khắp thế giới. Và Nhà nước phải tiến
hành cải cách phương thức quản lý, cũng như hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng nhu
cầu trong thời đại mới là một tất yếu khách quan. Hơn 20 năm qua, chúng ta đã làm
được gì, đạt được những thành tựu đáng kể nào, những nhược điểm còn tồn tại đòi hỏi
phải giải quyết triệt để trong giai đoạn mới để vực dậy nền kinh tế đang xuống dốc?
3
CHƯƠNG 1 : SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA
I. Khái niệm Nhà nước pháp quyền – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đó
tính tối cao của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và hành vi chính trị, tôn giáo…
của bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật và
chịu sự điều chỉnh của pháp luật.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang những đặc điểm chung
của kiểu Nhà nước pháp quyền, bên cạnh đó còn mang nhiều đặc trưng riêng của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trung (1936-1938) cho Trung phần. Các bộ luật trên đều dựa trên những quy tắc của
Dân luật Pháp.
Thời kỳ sau CMT8-1945: Ngoài các bộ luật do thực dân Pháp ban hành, còn
song song tồn tại các luật bất thành văn được áp dụng tại các vùng kháng chiến. Sau
1975, Nghị quyết 76/CP ngày 25/3/1977 của hội đồng chính phủ được ban hành để
thống nhất việc áp dụng luật lệ trong toàn quốc. Sau đó ban hành Luật Hiến pháp và
các bộ luật chung, luật chuyên ngành lần lượt ra đời, phù hợp với từng giai đoạn phát
triển chung của đất nước.
5
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ QUA CÁC GIAI ĐOẠN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có những thành công bước đầu trong
việc hình thành và hoàn thiện cơ chế thị trường, cũng như điều chỉnh tương ứng vai trò
của Nhà nước đối với nền kinh tế. Trước hết đó là sự thay đổi cơ bản quan niệm về
chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế. Nếu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
chỉ dừng lại ở mức độ xác định nhiệm vụ "Bộ máy nhà nước từng bước chuyển sang
chức năng quản lý nhà nước, khắc phục dần sự can thiệp vào điều hành kinh doanh "
thì đến Đại hội VIII, quan điểm này được cụ thể hoá hơn "Nhà nước định hướng phát
triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực, thiết lập khuôn khổ pháp luật, xây dựng
chính sách nhất quán, phân phối lại thu nhập, hạn chế tiêu cực của thị trường". Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ định hướng đổi mới chính sách căn
bản là "Tiếp tục đổi mới các công cụ vĩ mô của quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế.
Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hoá, nâng cao công tác xây dựng các chiến lược,
quy hoạch và kế hoách phát triển kinh tế - xã hội”. Nhà nước cũng đã bước đầu phát
huy vai trò của mình trong việc sửa chữa "những khiếm khuyết của thị trường" thông
qua các chính sách bảo trợ xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên và môi
trường.
Nhà nước tham gia vào quá trình kinh tế thị trường với tư cách vừa là bộ máy
quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế. Với các tư cách
đó, Nhà nước thực hiện ba chức năng:
pháp luật còn thể hiện yêu cầu của Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế dưới dạng
quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Do vậy, pháp luật đã trở thành một công cụ vô cùng
quan trọng giúp nhà nước quản lý kinh tế. Hơn nữa quản lý kinh tế bằng pháp luật là
một cách quản lý vô cùng khoa học, vì có tính dự báo nên nó có khả năng (dù không
hoàn toàn) theo kịp được sự phát triển của kinh tế nước ta.
Quá trình đổi mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác định trên cơ
sở vai trò của Nhà nước và pháp luật đối với nền kinh tế, tương ứng với ba giai đoạn
phát triển của nền kinh tế như sau:
I. Giai đoạn trước năm 1992
1986 – 1987: đổi mới tư duy, chuẩn bị về mặt tư tưởng, đường lối đổi mới và tiến
hành đổi mới trên thực tế ở một số lĩnh vực.
7
- Trên tinh thần Điều 18 Hiến pháp 1980 thì thành phần kinh tế quốc doanh thuộc
sở hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
- Đại hội Đảng VI: đề ra đường lối đổi mới, trong đó, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới
tư duy. Tư tưởng coi việc “sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ là đặc trưng
thứ hai của cơ chế mới về quản lý” (sau tính kế hoạch), đòi hỏi “sản xuất phải gắn với
thị trường, mọi hoạt động kinh tế phải so sánh chi phí với hiệu quả, các tổ chức và
đơn vị kinh tế phải tự bù đắp chi phí và có lãi để tái sản xuất mở rộng”, v.v. được ghi
trong Báo cáo Chính trị của Đại hội là đột phá quan trọng về tư tưởng và đường lối
phát triển kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
- 1987: Sửa đổi Luật Đất đai, ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài – một
đạo luật được coi là rất thông thoáng. Chuyển sang chính sách tỷ giá sát với tỷ giá thị
trường. Mở cửa cho xuất khẩu các loại nông sản, đặc biệt là gạo.
Thực trạng: nền kinh tế trong giai đoạn lạm phát phi mã, khủng hoảng nặng nề.
Tình hình này tạo áp lực phải tiến hành đổi mới trên thực tế một cách mạnh mẽ và
quyết liệt. Một số đổi mới thực tế ban đầu theo hướng thị trường và mở cửa đã tạo ra
những chuyển biến có sức thuyết phục, tăng thêm quyết tâm đổi mới hệ thống, đồng
bộ và mạnh mẽ.
1988 – 1991: Tiến hành đổi mới một cách có hệ thống, tương đối đồng bộ và triệt để
- Năm 1993, lệnh cấm vận của Mỹ được tháo bỏ.
- Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên ASEAN và bình thường hoá quan hệ
với Mỹ.
- Bãi bỏ nhiều loại giấy phép xuất khẩu và chế độ quản lý bằng hạn ngạch.
- Nhận thức được nhiều thiếu sót trong vấn đề thuế, Nhà nước đã thực hiện cải
cách thuế bước 1 từ năm 1990-1995 nhằm hình thành một hệ thống thuế thống nhất áp
dụng cho tất cả các thành phần kinh tế.
Kết quả: Nhờ các biến đổi thể chế được tiến hành đồng bộ và nhất quán, nền kinh
tế đã đạt được những kết quả tăng trưởng và phát triển “ngoạn mục”:
• Ngoại thương tăng trưởng 25-40%/năm;
9
• GDP tăng trưởng đạt kỷ lục năm 1995 là 9,54%.
• FDI đăng ký đạt 10 tỷ USD năm 1994 và 27 tỷ USD năm 1996.
• Đà tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh được xác lập, tỷ lệ người
nghèo giảm nhanh.
1996 – 2000: Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 đề ra nhiệm vụ “đẩy mạnh quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế”
- Bắt đầu bước vào thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, đặt mục tiêu đến năm
2020 đưa nước ta “về cơ bản trở thành nước công nghiệp”.
- Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 1996-2000 lần thứ I.
- Tháng 3/1996, Việt Nam đã tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á – Âu ASEM
- Năm 1998, Chính phủ áp dụng chính sách "kích cầu đầu tư" nhằm khắc phục
xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng và tình trạng trì trệ trong nền kinh tế.
- Tháng 11/1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-
Thái Bình Dương APEC.
- Năm 2000 ban hành Luật DN, bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinh
doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dỡ bỏ
những rào cản về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí.
- Thực hiện cải cách thuế từ 1996-2000 với mục tiêu không làm giảm nguồn thu
trong đó, nông nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; các ngành
dịch vụ tăng 7%. Riêng quy mô tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế năm 2005
đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 1995. GDP bình quân đầu người
khoảng 10 triệu đồng (tương đương 640 USD), vượt mức bình quân của các nước đang
phát triển có thu nhập thấp (500 USD). Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập
khẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo
11
lớn trên thế giới. Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu hạt tiêu;
đứng thứ hai về các mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về cao su;…
Kết quả đạt được thể hiện qua biểu đồ:
*Tích cực:
1/ GDP bình quân đầu người qua các năm (USD)
Bảng 1: GDP bình quân đầu người tăng qua các năm (%)
12
Bảng 2:
2/ Tình hình Xuất nhập khẩu của Việt Nam qua các năm - (Đơn vị t ính: Tỷ USD,
Nguồn: Tổng cục thống kê)
Bảng 3: Xuất nhập khẩu Việt Nam qua các năm
*Tiêu cực
13
Ngoài các thành quả đạt được trong quá trình đổi mới, sự bất cập trong chính
sách quản lý dẫn đến xảy ra một số tiêu cực đáng tiếc. Đã xảy ra một số vụ tiêu cực
như: vụ đất đai tại Đồ Sơn (Hải Phòng), vụ siêu lừa Nguyễn Đức Chi tại dự án
Rusalka ở Khánh Hòa, và nổi bật là vụ tham nhũng PMU 18.
Vụ PMU 18 (PMU: Project Management Unit – Đơn vị quản lý dự án): là một vụ
bê bối liên quan đến tham những trong Bộ giao thông vận tải đầu năm 2006. Vụ này
đã gây xôn xao dự luận tại Việt Nam cũng như các nước và tổ chức cung cấp viện trợ
phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam, đã khiến Bộ trưởng Bộ GTVT Đào Đình
Bình phải từ chức và Thứ trưởng thường trực Nguyễn Việt Tiến bị bắt giam. Và điều
không ngờ là người ta đã ném quá nhiều tiền vào cá cược và bao gái…Nguyên nhân
không đẩy mạnh nâng cao chất lượng.
- Các bước cải cách thuế vẫn còn nhiều bất cập:
• Bước 1 : thuế quá chồng chéo, trùng lắp và phức tạp
• Bước 2: chưa khắc phục được nhược điểm cơ bản của bước 1, chưa tiên đoán
đầy đủ những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, tình trạng trốn thuế và tránh thuế
chưa được giải quyết triệt để.
• Bước 3 : Cơ cấu không đồng bộ làm cho việc thu thuế và đánh thuế có những
khó khăn nhất định.
- Quá trình cổ phần hóa các DNNN trên thực tế vẫn còn thấp.
- Mặc dù, các doanh nghiệp Nhà nước đang chiếm giữ một nguồn lực rất lớn của
xã hội, nhưng sự đóng góp cho nền kinh tế không tương xứng, xét về tỷ trọng đóng
góp cho GDP, giải quyết việc làm, hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất (đất đai, tiền
vốn, nguyên vật liệu…) kém hơn các loại hình doanh nghiệp khác.
- Phần lớn doanh nghiệp Nhà nước đang hoạt động trong các lĩnh vực trọng yếu,
chủ chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện lực, xi măng, sắt thép, khai khoáng nhưng
hiệu quả sinh lợi không cao; trình độ công nghệ, năng suất lao động của khá nhiều
doanh nghiệp còn thấp; sức cạnh tranh còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế và chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước.
15
III. Giai đoạn 2006 – nay
Nhà nước và pháp luật đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế. Nhà nước ban hành các chính sách pháp luật nhằm hỗ trợ kinh tế và
kiềm chế lạm phát.
Một số các chính sách có tác động lớn đến nền kinh tế trong giai đoạn trên
như:
Chính sách giảm trần lãi suất huy động
Bảng 4: Diễn biến trần lãi suất huy động từ 2011 đến nay
Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) được thành lập
theo Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ.
Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 8 năm 2006. Với chức năng quản lý, đầu tư và
ngăn chặn tình trạng buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu xăng dầu, khoáng
sản.
Mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội. Trước tình hình
giá cả tăng cao, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, nhất là vùng nghèo, hộ nghèo,
vùng bị thiên tai, người lao động có thu nhập thấp, Chính phủ đã chủ trương mở rộng
các chính sách về an sinh xã hội.
Kết quả của những chính sách của nhà nước và pháp luật tác động đến
nền kinh tế:
Năm Lạm phát Tốc độ tăng trưởng GDP
2006 6.60% 8.23%
2007 12.36% 8.46%
2008 22.97% 6.31%
2009 6.88% 5.32%
17
2010 11.75% 6.78%
2011 18.58% 5.89%
2012 6.81% 5.03%
Mặt tích cực
Sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đã
chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp
sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là một trong
những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới của Việt Nam.
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đưa ra mục tiêu tổng quát là ưu tiên
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, đảm bảo
an sinh xã hội…
Nhận thức lý luận và tư duy kinh tế đã có bước đổi mới, được vận dụng vào
xây dựng đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam. Đường lối đổi mới này đã được
thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.
Chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế đã được đổi mới một cách
hình thức, thủ đoạn tham nhũng ngày càng tinh vi, gây bức xúc xã hội.
Đã có nhiều chính sách, sáng kiến luật pháp và luật ban hành không không
hợp lý và không khả thi đã phải ngừng ban hành hay bãi bỏ:
Tháng 4 năm 2012, Chính phủ đã phải ngừng ban hành phí hạn chế phương
tiện giao thông cá nhân của Bộ Giao thông-vận tải do người dân không thể chấp nhận
phí này khi họ phải trả tiền mà không sử dụng một dịch vụ nào của Nhà nước.
Việc đánh giá hệ thống pháp lý chỉ dựa trên hệ thống các văn bản pháp quy
được ban hành mà không tính đến hiệu lực thi hành sẽ dẫn đến kết quả sai lệch.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Diệp Kỉnh Tần cho biết quyết định dừng hiệu
lực thi hành thông tư 33 (có yêu cầu bán thịt trong 8 tiếng) và thông tư 34 (yêu cầu
trứng bán lẻ phải qua khử trùng, đóng gói, có nhãn mác), trước khi cả 2 thông tư có
hiệu lực do các quy định đó không thể thực hiện và kiểm chứng được trong thực tế.
19
CHƯƠNG 3:KINH TẾ VIỆT NAM SO VỚI CÁC NƯỚC KHÁC – KIỆN TOÀN
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP TRONG THỜI KỲ
ĐỔI MỚI
I. Kinh tế Việt Nam so với một số quốc gia tương đồng
Bảng 5: Chỉ số giá tiêu dùng qua các năm
Bảng 6: GDP qua các năm
II. Kiến nghị kiện toàn bộ máy Nhà nước và hoàn thiện luật pháp trong thời kỳ
đổi mới
20
- Về luật pháp: Trên thực tế, hệ thống pháp luật của Nhà nước ta vẫn còn
thiếu những quy định cần thiết trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Việc phổ biến, giáo dục
pháp luật còn bị xem nhẹ. Công tác thanh kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật
của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập. Công cuộc đổi mới ở nước ta đặt ra
nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề phải tăng cường hơn nữa vai trò của pháp luật trong
việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc nâng cao vai trò, hiệu quả của pháp luật
không chỉ nhằm lập lại trật tự, kỷ cương xã hội, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho
việc phát triển kinh tế đất nước. Để làm được điều đó đòi hỏi phải tiến hành một cách
điểm và yếu kém như: tổ chức bộ máy Nhà nước cồng kềnh, chồng chéo về chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền; tiêu chuẩn cán bộ, công chức chưa xác định rõ ràng; tình trạng
quan liêu cửa quyền, xa rời quần chúng… Do đó, hiệu quả quản lý của Nhà nước còn
thấp. Chúng ta còn phải làm nhiều việc để kiện toàn bộ máy Nhà nước hơn nữa.
Thứ nhất – Tiếp tục phát huy bản chất dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân thực
hiện quyền làm chủ của mình thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ
trực tiếp, tham gia tích cực vào việc xây dựng và bảo vệ Nhà nước, kiểm tra và giám
sát các hoạt động của cơ quan Nhà nước và cán bộ, công chức Nhà nước.
Thứ hai – Kiện toàn bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh giản, gọn
nhẹ, hoạt động có hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức Nhà nước
trước công dân.
Thứ ba – Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm giữ vững
bản chất của Nhà nước, đảm bảo quyền lực nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng
định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời phát triển bền vững, ổn định./.
22