Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề
tài:
Văn học là loại hình nghệ thuật đặc thù, quan tâm và thể hiện đời sống con
người ở nhiều
góc
độ, nhiều phương diện. Nói cách khác văn học là nhân học,
là những câu chuyện về cuộc đời,
về
những con người cụ thể. Ở mỗi thời kì,
mỗi giai đoạn văn học khác nhau, số phận con người
cũng
được quan tâm khác
nhau, như văn học thời kì trung đại quan tâm đến con người xã hội, con
người
cộng đồng. Trong khi đó văn học hiện đại chuyển xu hướng đó qua từng cá nhân
cụ
thể.
Văn học Việt Nam hiện đại, tiêu biểu là xu hướng văn học hiện thực phê
phán, quan
tâm,
khám phá sâu sắc đời sống vật chất và đời sống tinh thần của
từng cá nhân cụ thể, đi sâu vào
khám
phá thế giới nội tâm bí ẩn của từng số
phận con người. Trong đó, nhà văn Nam Cao – một
hiện
tượng văn học đặc
biệt, ông không chỉ thể hiện nỗi đau của con người trong xã hội hiện tại, ông
còn
truyện ngắn
và
tiểu thuyết của Nam Cao trước 1945 (khoảng 42 tác phẩm).
Nhằm khẳng định thêm một nét
riêng
về đặc trưng phong cách của Nam Cao
trong số các nhà văn cùng khuynh hướng hiện thực
phê
phán. Đồng thời tham
khảo ý kiến của những nhà nghiên cứu – phê bình về sáng tác của Nam
Cao.
“Người và tác phẩm Nam Cao “ (1956) hay “Những kỉ niệm Nam Cao” (1991) và
khẳng định
“Nam
Cao không che dấu, không màu mè gì hết, nói toạc cái cuộc
sống cùng đường tận lối và nhơ
nhớp
của những người như anh”. Ông khẳng
định tác phẩm Nam Cao luôn thể hiện những
trải
nghiệm từ cuộc sống của tác
giả.
Nằm trong số những người đầu tiên nghiên cứu về Nam Cao, từ năm 1960,
Phong Lê –
Huệ
Chi có công trình nghiên cứu “Đọc truyện ngắn Nam Cao soi
lại những bước đi lên của nhà
văn
hiện thực”, ông có nhận định “Đọc tập
truyện ngắn của Nam Cao trước tiên chúng ta hiểu và
2
Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
Đề cương đưa ra một số phương pháp nghiên cứu để làm tiểu luận
như:
Phương pháp hệ thống: xem xét tác phẩm như một chỉnh thể, toàn bộ tác
phẩm của Nam
Cao
như một hệ thống và là một yếu tố xuyên suốt trong tất cả
hệ thống sáng tác của Nam
Cao.
Phương pháp so sánh: ở hai cấp
độ
So sánh các tác phẩm của Nam Cao để thấy sự ổn định, bền vững và sự phát
triển phong
cách
nghệ thuật nhà văn theo hướng vừa thống nhất, vừa đa
dạng.
So sánh với các tác phẩm của các tác giả khác để thấy được sự độc đáo,
mới mẽ của
phong
cách nghệ thuật Nam
Cao.
Phương pháp phân tích - tổng hợp: đưa ra những dữ kiện để phân tích và tổng
hợp
Phương pháp thống kê: để tìm tần số lặp đi đi lặp lại của các yếu tố tạo nên
chủ đề và
phong
cách sáng
tác.
khái
niệm:
Trong đời sống cộng đồng, tha hóa là một khái niệm có ý nghĩa đạo
đức, nói về
những
trường hợp người bị biến chất, bị mất đi những phẩm chất tốt
đẹp vốn có của mình trước
đây.
Trong nghiên cứu khoa học - xã hội, tha hóa là một khái niệm có ý nghĩa
triết học, nói
về
một hiện tượng, một quy luật diễn ra trong đời sống xã
hội.
Như vậy, theo từ điển Tiếng Việt, tha hóa mang hai ý nghĩa đạo đức và ý
nghĩa triết
học.
(Nhưng từ điển Tiếng Việt chỉ ghi tha hóa là “Động từ”. Thực ra
tha hóa có khi là động từ, có khi
là
danh từ, tính từ, vì người ta vẫn gọi là “Sự tha
hóa”.)
1.2. Vấn đề tha hóa trong sáng tác của Nam
Cao:
1.2.1. Quan niệm của Nam Cao về tha
hóa:
Với Nam cao, thế giới con người thật muôn màu muôn vẻ. Đời sống nhân
vật trong sáng
của
ông bị ảnh hưởng và chi phối từ nhiều phía.
Nam Cao không đưa ra ý niệm tha hóa cụ thể như Hê - ghen mà ông cụ thể
hội.
Họ tập trung miêu tả nhân vật bị tha hóa
bề ngoài. Trong Bỉ vỏ, Nguyên Hồng miêu tả nhân vật
Tám
Bính dù tha hóa
nhưng trước sau vẫn là một tâm hồn phụ nữ thuần hậu giàu đức hi sinh, muốn
sống
bằng bàn tay lao động của mình. Còn Vũ Trọng Phụng miêu tả sự trụy lạc
của con người do
những
dục vọng không thành, đó là tình trạng tha hóa của
Long, Mịch, ông bà đồ Uẩn trong Giông tố. Ông không phơi bày những
tính
hư
tật xấu của nhân vật, mà từ trái tim nhân hậu, yêu thương trân trọng con người
đã cho thấy
tha
hóa là một quá trình biện chứng có tính quy luật do nhiều yếu tố
tác động. Cả hai yếu tố trên cũng có quan hệ biện chứng, hoàn cảnh tác động và
trách
nhiệm của bản thân không vượt lên được hoàn cảnh. Đó cũng chính là
vần đề cốt lõi hình
thành
quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống. Từ
đó, ta có thể hình dung được phong cách
và
tầm vóc của nhà văn trong xã hội
đương
thời.
1.2.2. Nguyên nhân của sự tha
cảnh.
Nam Cao không chỉ thể hiện lòng thông cảm, xót thương cho những
người
nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội mà còn thể hiện những trăn trở, dằn
vặt khôn nguôi trước
cuộc
sống vô nghĩa, bế tắc. Nhà văn buồn cho những kiếp
người nhưng vẫn tin tưởng ở họ. Tin ở bản
tính
hiền lành, chất phát của con
người. Nên các nhân vật của ông không buông xuôi, thụ động mà
luôn
tích cực,
chủ động vươn lên trong cuộc
sống.
Các nhân vật trong sáng tác của Nam Cao dù tự thân tha hóa hay do tác
động của ngoại
cảnh
thì kết cục của những sự tha hóa đó thường là cái chết nhưng
không phải cái chết theo quy luật
sinh
hóa lẽ thường (Sinh Lão bệnh Tử).
Các nhân vật rơi vào bi kịch, tha hóa, tìm đến cái chết nhưng không phải là
cái chết ngờ
nghệch,
mù quáng. Vì thế, mà cái chết của các nhân
vật
được Nam
Cao miêu tả không hề vô nghĩa. Đó là hồi chuông thức tỉnh mọi người, cảnh báo
một
Những
yêu cầu này, có tính chất tương đối bền vững. Trong đạo
đức, bên cạnh ý
thức
xã hội, ý thức cá nhân đóng một vai trò không kém quan
trọng. Dựa vào những quan niệm đạo
đức,
lĩnh hội những quan niệm đó trong
quá trình giáo dục, với mức độ đáng kể, cá nhân có thể
điều
chỉnh hành vi của
mình và tự nhận định về ý nghĩa đạo đức với tất cả những gì diễn ra chung
quanh.
Nét đặc trưng của nhân cách là thừa nhận “Cá nhân” là hiện thực có trước
và là giá trị
tinh
thần cao nhất, hơn nữa “Cá nhân” được hiểu như yếu tố tinh
thần đầu tiên của tồn tại. Tha hóa về đạo đức – nhân cách thể hiện trong sự
phát triển của cá nhân theo chiều
hướng
ngược lại những chuẩn mực đạo đức
xã hội. Nam Cao viết nhiều về những người trí thức tiểu tư sản, tức nhắm
vào tầng
lớp
mình, bản thân mình.
Nam Cao luôn nhìn đời bằng con mắt của tình thương, do đó tiếng nói của
ông bao giờ
cũng
mang âm hưởng của tình thương. Xuất phát từ quan niệm sống
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
chút tự trào cười ra nước mắt”
2.1.2. Tha hóa trong lối sống - hành
vi.
2.1.2.1. Con người chạy trốn thực
tại:
Đúng hơn là đối diện với chính
mình,
với thực tại, nhân vật của Nam Cao
luôn có sự đấu tranh, giằng co tư tưởng rất quyết liệt để
vươn
lên cuộc sống
xứng
đáng.
Nghệ thuật và đời sống luôn mâu thuẩn, muốn lao động sáng tạo nghệ thuật
nhưng những
khó
khăn trong cuộc sống thật khó thực hiện, không yên tâm mà
nghĩ đến việc viết văn. Đó là mâu
thuẩn
gặp nhiều ở những nhân vật trí thức như
Hộ, Điền, Thứ… Mơ ước của họ chỉ muốn viết văn
sao
cho hay, có giá trị, xây
dựng một sự nghiệp văn chương chân chính trước cuộc sống vô cùng
khó
khăn,
hằng ngày phải lo cơm áo. Nhân vật của Nam Cao chạy trốn thực tại khi đã đối
diện
với
nó, đấu tranh tồn tại với nó. Họ chỉ buông xuôi khi không thể níu kéo.
Xây
dựng các nhân vật phần nhiều thể hiện trên bình diện đạo đức, xã
hội. Còn các nhân vật của
Nam
Cao ngoài các bình diện trên, còn được nhà văn
chú ý đến bình diện đời sống tự nhiên, bản năng
và
nội tâm phức tạp.
2.1.2.2. Con người giành giật nhau từng miếng
ăn:
Dân tộc ta bị giặc ngoại xâm bóc lột hàng ngàn năm, từ giặc phương Bắc
đến thực dân
Pháp.
Đối với nhân dân ta miếng ăn, manh áo đã trở thành nỗi ám
ảnh, sự đấu tranh sinh tồn. Thực tế
đó
đã được phản ánh nhiều từ văn học dân
gian, đến văn học trung đại và hiện
đại.
Còn đối với Nam Cao, miếng ăn là sự
thách thức
ghê
gớm đối với nhân cách con người, nó phá vỡ những mối quan
hệ, tình cảm thân thuộc hằng
ngày
hay những giá trị nhân
bản.
Nam Cao là đại
biểu
xuất
nạt người khác để kiếm ăn, một lão Hạc tự vẫn cũng muốn giữ
lại phần của con, hay người
cha
“Nghèo” treo cổ cũng không muốn ăn cơm trong
khi con mình phải ăn cám… Nhân vật không
chỉ
tha hóa khi giành giật miếng ăn
của nhau, mà còn tha hóa khi tìm cái chết để giữ lại miếng ăn
cho
người khác. Ở
khía cạnh này, tha hóa có tính bi kịch hơn, đau đớn hơn. Rõ ràng, vấn đề ăn để
mà
sống luôn gắn với sự tồn tại nhưng chết để giữ lại miếng ăn cho người khác
thì cái chết ấy thật
ý
nghĩa. Hay cái chết no
của
bà cái Đĩ. Cái chết trong quằn
quại vì ăn bả chó của Lão Hạc. Cái chết vì xấu hổ và trì độn của
lang
Rận và mụ
Lợi. Và cái chết giấu giếm
vợ
con của người cha đau ốm trong Nghèo. Hầu hết
họ đều chủ động tìm đến cái chết, chết trong
sự
bần cùng, bế tắc, bi
kịch.
2.2. Hệ quả của sự tha
hóa:
Phèo”,
Nghị
Hách “Giông Tố” hay Nghị Quế “Tắt Đèn”… Họ đã đánh mất con người của
mình từ lâu.
Với
họ, ngoài đồng tiền, địa vị và quyền lực trên đời này không còn
gì đáng quan tâm
cả.
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
10
Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
2.2.2. Làm mất tính
người.
Các nhân vật đánh mất tình người phần nhiều do hoàn cảnh tác động. Cuộc
đời họ cứ vậy
trôi
chảy trong sự bất lực của bản thân, tác giả cũng xót xa nhìn
nhân vật của mình cứ trượt dài
trong
quá trình đánh mất mình. Hiện tượng biến
chất ở nhân vật Chí Phèo và hàng loạt những nhân
vật
khác như Binh Chức,
Năm Thọ, Trương Rự… Đều do hoàn cảnh xô đẩy như một quy luật
không
cưỡng lại được.
Hoàn cảnh sống có khả năng làm tha
hóa
con người, con người muốn không
bị tha hóa thì phải có ý thức chống lại những mặt tiêu cực
gia đình hẳn hoi, nhưng đã bị chính những người
con, những người cháu được họ nuôi dưỡng
khôn
lớn đã ném họ ra ngoài xã hội
trong tuổi già vì nhiều lí do khác nhau nhưng nhìn chung cũng chỉ
vì
đồng tiền và
sĩ diện. Vì đồng tiền người ta đã tha hóa, đánh đổi tất cả, trước tiên là đánh
mất
bản
thân. Đánh mất những giá trị nhân bản, phá vở những truyền thống tốt
đẹp. Thông qua cái chết
mòn
về thể xác do nghèo đói, Nam Cao muốn nhấn
mạnh đến cái chết về nhân tính đang diễn ra
hàng
ngày ở mọi nơi, mọi giới
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
11
Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
trong xã
hội.
Vẫn còn đó những con người bất hạnh, khổ sở, những thân phận tù
túng không lối thoát
hay
những con người đã mòn mỏi mưu sinh đến kiệt quệ.
Một xã hội có giai cấp bóc lột, bị bóc lột,
giai
cấp thống trị và tầng lớp bị trị.
Những người bị tha hóa ở mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Những giá trị đạo
tinh
thần, hủy hoại cả nhân tính, cứ nhìn vào cách nói của bà Phó
Thụ cũng có thể khẳng định đối
với
người làm thuê và người thân của họ bà
chẳng thể hiện một chút cảm tình nào. Nam Cao đã
phơi
bày sự thật về những
thực trạng đau lòng, những thảm cảnh của người nông dân không có
ruộng
cày, không có vườn tược. Họ phải tính toán, xoay xở mọi cách để sống qua
ngày như đi ở, đi
làm
thuê, cuốc vườn, vay nợ, chạy chợ, bán con, ăn xin, ăn
chực, lên rừng,… Tác giả cứ lật đi lật lại từng hoàn cảnh sống, từng khía cạnh tâm
hồn của mỗi người. Các hoàn
cảnh
điển hình đều có khả năng nhân rộng, khuất
tán ra toàn xã hội, có tính phổ quát của đời sống
nhân
dân lũ, sống nhịn nhục,
cam chịu sức ép từ nhiều phía Rõ ràng, các sáng tác của Nam Cao luôn có các
mặt tưởng chừng như trái ngược nhau mà
thống
nhất với nhau để làm rõ các khí
cạnh của vấn đề mà tác giả muốn đề cập. Điều đó, ông giúp
cho
người đọc có
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
12
đang chết mòn, chết mỏi trong sự bất lực của con người. Với tư cánh là nhà văn
hiện thực luôn
quan
tâm, bênh vực quyền sống của con người trong xã hội thực
dân phong kiến, Nam Cao không
ngần
ngại phơi bày trên các trang viết của
mình về thực tiễn những gì đang diễn ra trong xã hội
đương thời.
2.2.3. Thay đổi các mối quan
hệ:
Trong đó, các quan hệ xã hội có tính chất đặc biệt. Con người có quan hệ
với những sự vật
do
họ tạo ra, với thế giới khách quan và những người khác.
Do đó, con người soi thấy bản thân
mình
trong cái thế giới mà họ khám phá ra và
bắt đầu quan hệ với bản thân mình với tính cách là một
con
người (Có sự tự ý
thức) chỉ khi có quan hệ với người khác như với một cái gì giống bản thân
mình.
Chính vì thế, một mặt giải thích bản chất xã hội của ý thức con người và mặt
khác giải thích sự
cần
thiết phải nghiên cứu các quan hệ xã hội để nhận thức lịch sử và nhận thức
mối quan hệ giữa
con
người với con
và đặc biệt Chí Phèo đã trở thành tay sai đắc lực
của
Bá Kiến …. Nhưng họ đều
đều bị tầng lớp trên sử dụng như một con chốt trong kế hoạch gây áp
giữa
các phe
cánh. Cho nên, Mối quan hệ sống còn của các phe phái địa chủ, cường hào, ác
bá luôn
bộc
lộ những âm mưu nham hiểm, thâm độc mà nạn nhân trực tiếp của
chúng là đám dân lành thấp
cổ
bé họng. Chúng đấu tranh với nhau rất âm thầm
mà gay gắt, kín đáo mà sôi nổi. Tất cả nói lên
bộ
mặt tha hóa của giai cấp thống
trị, mối quan hệ đó ngày nay vẫn tồn tại, vẫn diễn ra hằng ngày ở
các
cấp lãnh
đạo, ở các cơ sở lao động sản xuất. Nạn đâm chọc nhau, ép phe nhau, gây hấn
nhau,
âm
thầm cấu kết nhau tạo thế lực, chạy chọt vận động hành lang… Để tạo
thế lực, sự ảnh hưởng,
tiếng
nói mạnh trong các vấn đề tranh chấp, bảo vệ quan
điểm, quyền lợi địa vị cá nhân và vây cánh
thay
vì chân thành góp ý phê bình,
xây dựng, rút kinh nghiệm. Một xã hội văn minh, tiến bộ khi mà
xuyên có những bài viết về con cái hất hủi cha mẹ khi già
yếu, bệnh tật hay hết nguồn khai thác,
bòn
rút tiền bạc. Với tình yêu thương, cưu
mang của cha mẹ đối với
con
cái, lòng tôn kính, phụng thờ của con cái với cha
mẹ tạo nên sứ mạnh bên vững của mối quan
hệ
này. Nếu cha mẹ đối xử bạc
nhược đối với con cái cũng vi phạm đạo lí làm người, cha mẹ đã
chấp
nhận sinh
ra con cái, đó chính là khúc ruột của mình, mang nặng đẻ đau. Còn nếu con cái
đối
xử
thậm tệ với cha mẹ cũng vi phạm đạo hiếu, công ơn sinh thành, dưỡng dục
đến ngày khôn lớn
thành
người. Ca dao luôn nhắc nhỡ “Một lòng thờ mẹ kính cha,
cho tròn chữ hiếu mới là đạo con hay
cơm
cha áo mẹ chữ thầy, nghĩ sao cho bõ
những ngày ước ao”. Nhưng thực tế đời cuộc sống muôn
màu
muôn vẻ nhiều gia
đình trên dưới đảo lộn. Miếng ăn và ham muốn tầm thường đã làm thay đổi
các
mối quan hệ. Bên cạnh những người cha hết lòng vì gia đình con cái đến hi sinh
cả tính mạng
yên ả nhưng bên trong thì các phe đối lập luôn gầm
ghè
với nhau như cánh Bá
Kiến và Đội Tảo – những phe cánh thống trị, ngoài việc chúng mâu thuẩn
với
nhau, thì mối quan hệ giữa chúng và đám đông dân chúng trong làng cũng
không hòa hợp.
“Hàng
xóm phải một bữa điếc tai, nhưng có lẽ trong bụng thì
họ hả: xưa nay họ chỉ mới được nghe bà
cả,
bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ Bá
chửi người ta, bây giờ họ mới được nghe người ta chửi lại nhà
cụ
Bá. Mà chửi
mới sướng miệng làm sao! Mới ngoa ngoắt làm sao.” Tất cả đều
sợ
sệt, yếu ớt,
nhu nhược. Nói đúng hơn, họ là một tầng lao động cố nông, nhiều đời bị đè đầu
cưỡi
cổ,
không dám phản ứng lại. Họ không phải là giai cấp, không có tổ chức
chức lãnh đạo, nên chỉ
sống
lầm lủi từ đời này qua đời khác. Còn các thế lực
thống trị, cũng chẳng đại diện cho dân thế
nhưng
vẫn cứ dửng dưng tồn tại và
cũng cố thế lực uy danh qua nhiều đời, đời nào cũng tha hóa, đời
nào
do
chính đáng. Đặc biệt, cách cư xử
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
16
Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
của các nhân vật bị phụ bạc vẫn thể hiện được tính nhân văn,
cao
thượng. Họ
không hành xử một cách manh động hay trả thù cá nhân mà lại rất thấu tình
đạt
lý.
Hùng chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng người yêu mình ân ái với chàng
trai trẻ, anh chỉ âm
thầm
lặng lẽ rút lui. Bởi anh là nhà văn, anh có cách cư xử
của người trí thức. Ở chương trên, khi trình bày các phương diện và hệ quả của sự
tha hóa, luận văn chủ yếu
tập
trung vào một số phương diện và hệ quả mang tính
đạo đức, tư tưởng, hành vi và lối sống của
các
nhân vật. Thật khó để liệt kê và
trình bày hết các phương diện của sự tha hóa, nói đúng hơn còn
rất
nhiều phương
diện khác, nên chương này chỉ nêu các phương diện ở mức khái quát của phạm
trù
đạo đức và lấy đạo đức làm chuẩn để lựa chọn các phương diện của sự tha
hóa. Về phần hệ quả
của
Nhân vật trong tác phẩm văn học là những con người có tên tuổi, danh phận
như lão Hạc,
Hộ,
Chí Phèo… Cũng có những nhân vật không tên như bà cô thị
Nở (Chí Phèo), người bà (Một
bữa
no), người cha (Trẻ con không được ăn thịt
chó)… Trong thần thoại, nhân vật là các thần.
Trong
truyện ngụ ngôn, nhân vật
thông thường là những con vật như con cáo, con sói… Mang tính
cách
con
người. Nhân vật trong sáng tác của Nam Cao rất phong phú, đa dạng cả về
ngoại
hình, tính cách, nội tâm, hành động, cử chỉ. Một số nhân vật có những nét tương
đồng về tính
cách,
suy nghĩ như Thứ, Hộ, Điền… Phần lớn các nhân vật khác
đều có những nét riêng, tiêu biểu cho
sự
đa dạng về các hạng người trong xã
hội.
3.1.1. Về ngoại
hình:
Ngoại hình nhân vật có tính tha hóa thể hiện ở hầu hết các hạng người trong
sáng tác của
Nam
Cao. Nhưng tiêu biểu vẫn là những nhân vật như Chí Phèo, thị
Nở, lang Rận, Trạch Văn Đoành,
gớm chết Hắn
về
hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ
trưa đến xế chiều. Rồi
say
khướt, Hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà bá
Kiến, gọi tận tên tục ra mà chửi”. Với bộ dạng này, lúc đầu không ai nhận ra Chí
Phèo, ngay cả những người
sống
cùng làng, cùng quê với hắn. Cùng với sự thay
đổi hình dạng là sự thay đổi nhân tính. Từ một
anh
canh điền hiền lành, chăm
chỉ trở thành một tên lưu manh, quỷ dữ của làng Vũ Đại. Chính cái
chế
độ nhà
tù thực dân đã hủy hoại cả hình hài và nhân tính của anh, chỉ thoáng qua vẻ bề
ngoài
cũng
toát lên sự tha hóa, ẩn chứa nhiều điều bất an nơi nhân
vật.
Nam Cao miêu tả ngoại hình nhân vật có vẻ dị lập nhưng rất hài hòa và
tạo ấn tượng
cho
người đọc, có thể nói ngoại hình của mỗi nhân vật không lặp lại
mà mỗi dáng vẻ đó đều bộc lộ
một
tính cách rất riêng. Cuộc sống quá nghèo khổ,
đói khát có thể
làm
suy
nghĩ và tâm
trạng của mình. Dù là người nông dân nghèo như Chí Phèo, thị Nở, Trạch Văn
Đoành,
lang Rận, người trí thức nghèo như Thứ, Điền, Hộ, hay bọn cường hào
ác bá như Bá Kiến đều
có
thế giới nội tâm phong phú, đa dạng, nhiều mâu
thuẩn, đấu tranh tư tưởng mà lại thống nhất.
Con người chỉ liều
vì
mạnh và khi không còn mạnh thì người ta không dám
liều mà nghĩ đến sự tồn tại những ngày
tháng
còn lại của cuộc đời. cái bản chất
tha hóa trong tâm trạng của nhân vật. Nhất là sự giả tạo, cái đạo đức giả đã được
đề
cập
nhiều trong các trang viết của Nam
Cao.
Với Điền trong
“Giăng
sáng” Có
thể thấy được sự đồng điệu về tâm trạng
của
những người trí thức nghèo
trong các trang viết của Nam Cao. Đời sống cơm áo và mơ ước
nhỏ
nhoi luôn
tương phản với nhau, nếu họ lo cơm áo hằng ngày thì không thể nghĩ đến nghiệp
hạn.
3.1.3. Về hành động, cử
chỉ:
Bên cạnh những nét đặc sắc của nhân vật trong sáng tác của Nam Cao về
ngoại hình và
nội
tâm. Tác giả còn rất thành công trong việc thể hiện hành
động và cử chỉ nhân vật. Nhất là
những
hành động, cử chỉ biểu hiện sự tha hóa
của con người. Đó là những biểu hiện phi nhân bản, mất
tính
người. Nó phản ánh
cách cư xử, đối đãi với nhau trong các mối quan hệ gia đình và xã hội.
Có
những hành động cử chỉ mang tính tự phát, còn lại đều có ý thức, động cơ và
nguyên nhân rõ
ràng.
Vì thế, hành động của nhân vật là biểu hiện cuối cùng
của thế giới nội tâm phức tạp. Những
suy
nghĩ, âm mưu, toan tính… rồi cũng
được thể hiện qua các hành động, cử chỉ. Nó là kết quả đánh
giá
mức độ tha hóa
của tư duy, cũng là cơ sở kiểm chứng quá trình nhận thức của con người trước
các
vấn
đề.
Một thực
người đàn bà xuống. Thị Nở trố mắt ra nhìn. Thị Nở kinh ngạc: sao hắn lại kêu
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
21
Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
làng nhỉ? Mà
hắn
vẫn chưa chịu thôi kêu làng.” Từ ngày về làng, chưa bao giờ
Chí Phèo có một bữa
uống
rượu say đến thế, từ nhà Tự Lãng về hắn chỉ đi
theo hướng ra bờ sông, nơi có cái chòi của
hắn.
Nhưng khi gặp thị Nở ngủ hở
hang thì bản năng thú tính của hắn trổi dậy . Nam Cao miêu
tả
hành động của
nhân vật phát triển theo từng giai đoạn, cấp độ từ thấp đến cao, và luôn có sự
đột
biến trong hành động. Hành động cử chỉ nhân vật có tính tha hóa rất đa
dạng phong phú phù hợp với hoàn cảnh
và
tính cách nhân vật. Sự tha hóa ấy bộc
lộ ở tất cả các hạng người trong xã hội, từ tầng lớp cường
hào
địa chủ nông thôn,
đến trí thức tiểu tư sản và cả những người nghèo đói bất hạnh. Nam Cao đã
phát
hiện và miêu tả chi tiết từng hành động cử chỉ cụ thể cũng như hậu quả của nó.
Các hành động
cử
gọng “Trời phú” của mỗi tác giả,
nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật, phù hợp với
đối
tượng thể hiện.
Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường đa dạng, có nhiều sắc thái trên cơ
sở
một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệu.”
3.2.1. Giọng điệu trịnh thượng, kẻ
cả:
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
22
Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa trịnh thượng, “Có vẻ oai nghiêm, trang trọng
của người ở vị
trí
cao”, Kẻ cả “Kẻ cả đàn anh”. Âm
điệu
buồn, chùn xuống
hướng nhiều vào nội tâm trĩu nặng nỗi ưu tư. Giọng điệu của tác giả nói về
nhân
vật của mình đã làm rõ hơn cái thế giới nội tâm nhân vật. Phong Lê trong bài
“Cấu trúc và
ngôn
ngữ truyện ngắn của Nam Cao” nhân kỷ niệm lần thứ 70
ngày sinh của Nam Cao đã nhận xét:
“Có
một ngôn ngữ tác giả mang chất
giọng riêng của Nam Cao, giàu suy nghiệm, triết lý có thể xem
là
âm chủ,
cách của nhân vật
cũng được bộc lộ ngay trong giọng điệu của
họ.
3.2.3. Giọng điệu kể lể, thống
thiết.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa kể lể “Kể dài dòng có ý phàn nàn hoặc than
thân
trách
phận: kể lể chuyện riêng của mình, nghe kể lể sốt cả ruột. Thống
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
23
Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
thiết “Rất
đau
xót có tác dụng gợi lòng cảm thương một cách sâu sắc, lời lẽ thống
thiết, tiếng kêu cứu thống
thiết,
giọng văn nghe lâm li thống thiết”.
Khi viết về những cảnh đời bất hạnh, Nam Cao luôn bày tỏ lòng thương cảm
sâu sắc, một
tình
yêu thương vô hạn, làm xúc động lòng người Trong bài viết
“Ngôn
ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn của Nam Cao” , Phan Diễm
Phương có nhận định
“Trong
truyện ngắn của Nam Cao, ta còn gặp lối kể
chuyện bằng nhiều giọng: nghiêm nghị và hài
hước,
trân trọng, nâng niu và
góp
phần nâng cao làm phong phú ngôn ngữ nhân dân. Ngôn
ngữ văn học là hình thái hoạt động ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mỹ, nó
được
sử
dụng để phục vụ nhiệm vụ trung tâm là xây dựng hình tượng văn học và giao tiếp
nghệ
thuật.
Ngôn ngữ của các tác phẩm trữ tình là ngôn ngữ được tổ chức trên
cơ sở nhịp điệu, cô
đọng,
hàm xúc, gợi cảm. Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ các nhân
vật được cấu trúc qua hệ thống đối thoại
và
gần gũi với tiếng nói thông thường
nhân dân. Ngôn ngữ của các tác phẩm tự sự là ngôn ngữ
đa
dạng, ngôn ngữ
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
24
Đề tài văn học GVHD: Trần Thị Mỹ Hồng
của nhiều tính cách, đặc biệt, ngôn ngữ của người kể chuyện giữ vai trò quyết
định
đối với toàn bộ cấu trúc ngôn ngữ của tác
phẩm.
3.3.1. Ngôn ngữ giàu tính triết
lí:
Đi tìm triết lí sống tức là tự đặt ra nhiều câu hỏi cho chính bản thân mình, từ
lối suy nghĩ
đến
thường
trong cuộc sống để đúc kết, đào xới, lật đi lật lại các sự việc,
nhằm rút ra những kinh nghiệm,
bài
học có ý nghĩa rất bổ ích. Có những triết lý
dù là chủ quan nhưng lại gần với chân lý vì nó khái
quát
được những sự thật phổ
biến và nó luôn nhận được sự đồng tình của nhiều người. Nhưng không không
hoàn toàn do con người muốn
thế
mà chính lối sống lầm than đã làm cho con
người ích kỷ và tàn nhẫn với nhau. Cách lập luận
của
nhân vật có tính bắc cầu,
đan xen với nhau tạo nên sự chặt chẽ, mạch lạc làm rõ tính cách của
con
người, cơ
sở hình thành các tính cách ấy và biểu hiện của nó. Nhân vật Thứ – người nói
thay, nói
hộ
cho tác giả bằng những trải nghiệm trong cuộc sống. Vì thế những
triết lý của Nam Cao rất giàu
tính
văn
chương.
SVTH: Hoàng Thị Thuý Vân Lớp: ĐHGD Tiểu học K53
25