BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Đỗ Viết Khanh
SỰ THA HÓA CỦA CON NGƯỜI TRONG SÁNG
TÁC CỦA NAM CAO TRƯỚC 1945 Chuyên ngành: Lý Luận văn học
Mã số: 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÂM VINH
Người thực hiện
Đỗ Viết Khanh DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài:
Văn học là loại hình nghệ thuật đặc thù, quan tâm và thể hiện đời sống con người ở nhiều góc
độ, nhiều phương diện. Nói cách khác văn học là nhân học, là những câu chuyện về cuộc đời, về
những con người cụ thể. Ở mỗi thời kì, mỗi giai đoạn văn học khác nhau, số phận con người cũng
đượ
c quan tâm khác nhau, như văn học thời kì trung đại quan tâm đến con người xã hội, con người
cộng đồng. Trong khi đó văn học hiện đại chuyển xu hướng đó qua từng cá nhân cụ thể.
Văn học Việt Nam hiện đại, tiêu biểu là xu hướng văn học hiện thực phê phán, quan tâm,
khám phá sâu sắc đời sống vật chất và đời sống tinh thần của từng cá nhân cụ thể, đi sâu vào khám
phá thế giới n
ội tâm bí ẩn của từng số phận con người. Trong đó, nhà văn Nam Cao – một hiện
tượng văn học đặc biệt, ông không chỉ thể hiện nỗi đau của con người trong xã hội hiện tại, ông còn
bộc lộ nỗi đau của mình trước sự tha hóa của con người. Nam Cao luôn băn khoăn, trăn trở tìm
kiếm lối thoát cho những số phận luôn bị dằn vặt bởi cái nghèo, cái đói. H
ọ bị biến đổi cả hình hài
lẫn nhân tính cũng bởi những lo toan cơm, áo, gạo tiền và cả ý nghĩa cuộc sống. Những bi kịch luôn
xảy ra với các tầng lớp trong đời sống xã hội từ người nông dân đến người trí thức.
Những trang viết của Nam Cao đã thu hút rất nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu văn học. Họ
nghiên cứu về đời sống nhà văn, về
nội dung sáng tác, về tư tưởng, phong cách và về bút pháp nghệ
thuật. Vì thế, người viết luận văn này mong muốn được khám phá thêm một phương diện trong
người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình” {135;
299}. Ý kiến này cho thấy Nam Cao xuất hiện với một phong cách sáng tác mới, táo bạo và có sắc
thái riêng. Năm 1952 tác phẩm của Nam Cao đã trở thành đối tượng của khoa văn học với bài “Nam
Cao” của Nguyễn Đình Thi in trong “Mấy vấn đề văn h
ọc” – ( NXB Văn nghệ – H 1956), và từ đó
đến nay đã có gần 200 công trình, bài viết về Nam Cao được công bố.
Tô Hoài đã có những bài viết rất sớm về Nam Cao như “Chúng ta mất Nam Cao” (1954),
“Người và tác phẩm Nam Cao “ (1956) hay “Những kỉ niệm Nam Cao” (1991) và khẳng định “Nam
Cao không che dấu, không màu mè gì hết, nói toạc cái cuộc sống cùng đường tận lối và nhơ nhớp
của những người như anh” {44; 227}. Ông khẳng định tác phẩ
m Nam Cao luôn thể hiện những trải
nghiệm từ cuộc sống của tác giả.
Nằm trong số những người đầu tiên nghiên cứu về Nam Cao, từ năm 1960, Phong Lê – Huệ
Chi có công trình nghiên cứu “Đọc truyện ngắn Nam Cao soi lại những bước đi lên của nhà văn
hiện thực”, ông có nhận định “Đọc tập truyện ngắn của Nam Cao trước tiên chúng ta hiểu và yêu
mến thêm Nam Cao, nhà văn đã chân thành giãi bày cuộc đời mình, mộ
t cuộc đời vốn mang theo
bao nhiêu tâm trạng tủi hổ, xót xa nhưng luôn luôn ngoi lên chửi trả lại cuộc sống tối tăm và luôn
luôn khao khát tìm đến cho mình và con người của tầng lớp mình một cuộc sống sao cho thật có ý
nghĩa nhân đạo và sáng tạo” {13; 79}. Ông nhấn mạnh những sáng tác của Nam Cao có mối quan
hệ trực tiếp từ hiện thực cuộc sống.
Hà Minh Đức ngoài “Tuyển tập Nam Cao”, ông còn có nhiều chuyên luận về nghệ
thuật sáng
tạo tâm lý của Nam Cao “Nhiều nhân vật trong Nam Cao đã bị cuộc đời làm biến chất. Cuộc sống
của họ là những tiếng kêu cho tình trạng cấp cứu của xã hội…Nhân vật của Nam Cao có ý thức
chống lại mọi trạng thái tha hóa, làm sai lạc bản chất của mình. Phải biết giữ lại một nhân cách tốt
lành giữa cảnh sống tầm thường nhỏ nhặt. Phải ch
ống lại mọi buông thả để có trách nhiệm với
cuộc sống gia đình và bản thân mình. Ở mỗi nhân vật loại này của Nam Cao luôn có một đường dây
đặc điể
m tính cách của Nam Cao, những đóng góp của Nam Cao về tư tưởng nhân đạo, về nghệ
thuật xây dựng và miêu tả tâm lý nhân vật, về cấu trúc tác phẩm và về ngôn ngữ trong tác phẩm
Nam Cao… Sau cùng, ông nhận xét “Tầm vóc của Nam Cao chính là ở tấm lòng và tư tưởng của
ông . Tấm lòng lớn, tư tưởng lớn. Những vấn đề mà Nam Cao đặt ra cho đến bây giờ vẫn làm nhức
nhối chúng ta {29; 25}.
Nhiều người viết về Nam Cao, trong đ
ó người viết nhiều nhất là Phong Lê, hơn ba mươi năm
nghiên cứu về Nam Cao, nhưng ông vẫn khiêm tốn coi các công trình của mình chỉ là “Phắc thảo sự
nghiệp và chân dung” của Nam Cao. Ông tiếp cận tác phẩm Nam Cao từ nhiều góc độ như: “Nam
Cao kết thúc vẻ vang phong trào văn học hiện thực”, “Người trí thức kiểu Nam Cao chiến thắng của
chủ nghĩa hiện thực”, “Cấu trúc ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao”, “Tình cảnh người nông dân với
cái làng quê tiền Cách mạng trong sáng tác Nam Cao”, “Sự sống và sức sống trong Nam Cao hay
đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao”… “Toàn bộ thế giới truyện của Nam Cao là một nỗi đau
lớn vì một nỗi khổ – hiện ra trong rất nhiều con người, cũng đồng thời là niềm khắc khoải lớn, vì
nhu c
ầu phát triển con người.” {77; 115}, ông đặc biệt chú trọng đến “Sức chứa và sức mở” từ giá
trị của những điển hình sống động trong sự gắn bó với tư tưởng của Nam Cao. “Nam Cao không viết
gì khác ngoài cái làng Vũ Đại quê ông. Nhưng rồi tất cả cái làng quê tiền Cách mạng đều được thu
nhỏ đâu vào đấy, với sự lưu cữu, sự xếp lớp nhiều tầ
ng các mặt tốt – xấu, vừa trái ngược nhau, vừa
bổ sung cho nhau, Những chuyện no đói và sống chết. Ma chay và cưới xin…”{60; 14}
Nguyễn Đăng Mạnh có hai bài về Nam Cao viết trong cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại –
chân dung và phong cách”, trong đó ông đề cập đến những nét lớn về phong cách của nhà văn. Đó
là những nỗi đau đớn trước tình trạng con người vì miếng cơm manh áo mà không đứng thẳng lên
được, không sao giữ
được nhân tính, nhân cách và nhân phẩm, Nam Cao là tấm gương của một cây
bút luôn luôn tìm tòi, khám phá, sáng tạo, là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lý và luôn có cách
kể chuyện biến hóa. Ở bài “Cái đói và miếng ăn trong truyện Nam Cao”, ông kêu gọi hãy cứu lấy
“Con người bị từ chối quyền làm người trong Chí Phèo của Nam Cao” của Nguyễn Văn Trung…
Nhóm bàn về nghệ thuật sáng tác của Nam Cao như:
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật gồm: “Nam cao và nghệ thuật sáng tạo tâm lý” của Hà
Minh Đứ
c, “Nhân vật “hắn” với một nét đặc trưng trong ngôn ngữ nghệ thuật Nam Cao” của
Trương Thị Nhàn, “Về các nhân vật dị dạng trong sáng tác của Nam Cao” của Trần Thị Việt
Trung…
Về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác Nam cao gồm: “Chất giọng Nam Cao trong Chí
Phèo” của Nguyễn Thái Hòa, “Lối văn kể chuyện của Nam Cao” của Phan Diễm Hương, “Bút pháp
tự sự đặc sắc trong Sống mòn
” của Nguyễn Ngọc Thiện, “Tìm hiểu chữ “ Nhưng” trong văn Nam
Cao” của Phan Trọng Thưởng….
Về thi pháp nói chung gồm: “Thời gian và không gian nghệ thuật Nam Cao” của Trần Đăng
Suyền, “Phong cách truyện ngắn Nam Cao” của Vũ Tuấn Anh, “Phong cách truyện ngắn Nam Cao
trước Cách mạng” của Bùi Công Thuấn, “Một đặc điểm của thi pháp truyện Nam Cao” của Phạm
Quang Long, “Đặc trưng bút pháp hiện th
ực” của Phong Lê, “Nam Cao cuộc cách tân văn học thế
kỉ XX” của Lại Nguyên Ân…
5. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu trong những sáng tác của Nam Cao trước 1945
(dựa theo Nam Cao toàn tập, 3 tập do Hà Minh Đức, Nxb Văn học, 2000). Và nghiên cứu vị trí của
Nam Cao trong trào lưu hiện thực phê phán gồm các nhà văn như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,
Nguyễn Công Hoan… và những công trình nghiên cứu trước có liên quan đến
đề tài.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Đề cương đưa ra một số phương pháp nghiên cứu để làm luận văn như:
Phương pháp hệ thống: xem xét tác phẩm như một chỉnh thể, toàn bộ tác phẩm của Nam Cao
như một hệ thống và là một yếu tố xuyên suốt trong tất cả hệ thống sáng tác của nam Cao.
Phương pháp so sánh: ở hai cấp độ
So sánh các tác phẩm của Nam cao để thấy sự ổ
trường hợp người bị biến chất, bị mất đi những phẩm chất tốt đẹp vốn có củ
a mình trước đây.
Trong nghiên cứu khoa học - xã hội, tha hóa là một khái niệm có ý nghĩa triết học, nói về
một hiện tượng, một quy luật diễn ra trong đời sống xã hội.
Từ điển Tiếng Việt – (Viện ngôn ngữ học), NXB Khoa học xã hội, 1988, định nghĩa tha hóa
(Động từ) có hai nghĩa.
Con người bị biến chất thành xấu đi. Thí dụ: “Bị tha hóa trong môi trường tiêu cực”. “Một
cán bộ đã tha hóa”.
Biến thành cái khác đối nghịch lại (Thí dụ như: kết quả hoạt động của con người biến thành
cái thống trị lại và thù địch với bản thân con người, trong xã hội có giai cấp đối kháng). Thí dụ:
“Trong xã hội tư bản, lao động bị tha hóa”.
Theo từ điển Triết học – NXB Đại học và THCN, 1987: “Tha hóa (Tiếng Anh: Alienation,
Tiếng Pháp: Alie’nation): Tình trạng xã hội trong đó những sả
n phẩm, quan hệ và thể chế là kết
quả hoạt động của con người biến thành những lực lượng độc lập và xa lạ với họ, thống trị họ và thù
địch với họ.
Trong lịch sử triết học, khái niệm tha hóa xuất phát từ triết học Hê - ghen (“Ý niệm tuyệt đối”
tự tha hóa) và Phơ - bách (Con người tự tha hóa với bản chất của mình), C. Mác và Anghen cho
khái niệm tha hóa những c
ơ sở và nguyên nhân xã hội, đặc biệt qua sự phân tích quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa: “Người công nhân không được làm chủ cái mình sản xuất ra, họ bị coi như một thứ
đồ vật, một công cụ lao động, bản thân họ cảm thấy xa lạ với một công việc đưa lại sản phẩm và lợi
nhuận ngoài tầm của họ”.
Như vậy, theo từ đ
iển Tiếng Việt, tha hóa mang hai ý nghĩa đạo đức và ý nghĩa triết học.
(Nhưng từ điển Tiếng Việt chỉ ghi tha hóa là “Động từ”. Thực ra tha hóa có khi là động từ, có khi là
danh từ, tính từ, vì người ta vẫn gọi là “Sự tha hóa”.)
1.1.2. Quan niệm về tha hóa trong lịch sử tư tưởng triết học:
Nguồn gốc tư tưởng về tha hóa có thể tìm thấy ở những đại diện của phong trào Khai sáng
n ra như
là do những người khác hoặc do những lực lượng siêu nhiên áp đặt. Ông thừa nhận sự tha hóa của
lao động với tư cách là cơ sở của tất cả mọi hình thức tha hóa khác. Trong đó có cả những hình thái
tha hóa về tư tưởng đã cho phép hiểu được ý thức bị bóp méo, sai lầm là kết quả của những mâu
thuẩn đời sống xã hội hiện tại. Ông kết luận nhiệm vụ th
ủ tiêu tha hóa bằng việc cải tạo lại xã hội
theo chủ nghĩa Cộng sản.
Theo V. I. Lê - nin, trong “Bút kí triết học”, đã thừa nhận ở Hê- ghen có những mầm mống
của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Không chỉ gắn sự tha hóa cho hết thảy lịch sử nhân loại, Hê- ghen
còn áp dụng nó cho cả toàn bộ các lĩnh vực hoạt động con người.
Ngày nay, khái niệm tha hóa được sử dụng khá phổ biến để biểu thị cho những thay đổi, biến
chất, những quan điểm sai lệch như lối sống tha hóa trong giới trẻ, tha hóa trên các lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, đạo dức, lối sống…
1.1.3. Vấn đề tha hóa trong sáng tác văn học Việt Nam trước 1945.
Theo “Thời báo kinh tế Sài Gòn, ngày 02/3/1999” qua mạng Internet, Vương Trí Nhàn cho
rằng: “Sự tha hóa tiếng nói ở nướ
c ta bắt đầu từ lâu lắm rồi và tục ngữ có câu “Lưỡi không xương
nhiều đường lắc léo…”. Ông lí giải bắt đầu từ truyện ngắn “Tôi xin hết lòng” của Nguyễn Công
Hoan kể về một người đàn bà, thức nhiều đêm ròng để trông một cô gái ốm và lúc nào cũng xoen
xoét cái miệng: “Tôi xin hết lòng vì cô”. Có gì đâu bởi vì bà ta quá mê bộ tóc của cô bé, sự việc lộ ra
khi lấy cớ giúp cho cái đầu cô gái khỏ
i vướng víu, trong lúc trông nom cô, bà ta đã dang tay cắt
trộm mái tóc ấy. Ngoài ra, ông thống kê trong từ điển Tiếng Việt nhiều từ ghép đi liền với chữ nói,
tạm ghi như: nói bóng nói gió, nói càng, nói cạnh nói khóe, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói gạt, nói
gần nói xa, nói khoác, nói lảng, nói náo, nó phét, nói nhăng nói cuội, nói quá, nói ra nói vào, nói
trạng… Đa phần là những từ mô tả sự nói dối với nghĩa xấu. Và ông kết luận: “Hóa ra sự tha hóa
tiếng nói ở nước ta bắt đầu t
ừ lâu lắm”. Cùng với những thực trạng nói dối thường xuyên trong
kinh doanh và quản lý xã hội ông khẳng định: “Từ góc độ xã hội học, đây là biểu hiện của sự tha
con người không chỉ ngụp lặn trong cảnh sống mòn, chết mòn mà có nguy cơ trượt dài xuống đời
sống bản năng của loài vật – tha hóa đi.
Nhà văn Vũ Trọng Phụng – một cây bút miêu tả về s
ự tha hóa của con người trong môi trường
tiền bạc và tham nhũng. Với tiểu thuyết “Giông tố” là một thảm kịch về sự thấp hèn bất tín của con
người trên mọi lĩnh vực, không ai có thể tin ai được và không ai có thể nhờ cậy ai được. Văn
chương của Vũ Trọng Phụng khác với văn chương Tự Lực văn đoàn và cũng khác hẳn với lối hiện
thực phê phán c
ủa những người đương thời như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng…
Vũ Trọng Phụng không dùng ngòi bút để chống lại một thành phần, một giai cấp nào đó, cũng
không trực tiếp phản ánh sự mục nát, thối rữa của xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân.
Nhìn chung, ông mô tả sự tha hóa của con người trên toàn diện xã hội, dưới chiều sâu, qua nhiều
tầng lớp, nhiề
u hạng người, mỗi người có cách tha hóa khác nhau trước thế lực của đồng tiền và sự
tham nhũng. Ông là một nhà văn, một nhà văn đích thực, viết về sự tha hóa của con người. Tác
phẩm của ông là nguồn cảm hứng về xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, những năm 1930 –
1940, với tất cả những tệ đoan của xã hội đương thời, nhưng tác giả không quy k
ết hoàn toàn cho
chính phủ bảo hộ hay vua An nam, mà ông đào sâu hơn vào các hành động của cá nhân con người,
để xác định rõ trách nhiệm mỗi cá nhân trước bổn phận và đạo đức sống của chính mình. Trong
những truyện đầu tay như Một cái chết (1931), Bà lão lòa (1931), ông đã nêu đích danh thủ phạm
của những cái chết bi thương, đói khát. Đó là sự độc ác không cưu mang nhau giữa người với
người.
Vũ Trọng Phụng khác nh
ững nhà văn cùng thời, tác phẩm của ông không bị giới hạn trong
luận đề chôn xã hội cũ như phần lớn các nhà văn nhóm Tự Lực văn đoàn và ông cũng không trực
tiếp tố cáo xã hội thực dân như các ngòi bút hiện thực phê phán. Vì thế, ta có thể nói Vũ Trọng
Phụng là nhà văn tả chân nhất của hai chữ tả chân. Tức là ông chỉ tìm kiếm sự thật, sự thật về con
ngườ
i mà thôi, nên tác phẩm của ông luôn đạt đến sự phổ quát cao, trong đó những nhân vật của Vũ
ân oán trên hai thế lực với những oan nghiệt do chính Nghị Hách gây ra. Dùng tất cả những thủ
đoạn đê hèn để làm giàu và tiến thân, Nghị Hách là một trường hợp đặc biệt của tội ác như hiếp
dâm, giết người, không hề ngần ngại, miễn sao đạt được hai mục đích: thỏa mãn tính dâm dục,
thành công trong địa hạt tiến thân, chính đứ
a con trai của Nghị Hách đã xét đoán về cha như “Cái
thằng cha ấy đẻ ra moa, chính là vì một phút điên rồ của xác thịt”.
Sự tha hóa bao trùm lên các nhân vật trong “Giông tố”, từ trong gia đình ra đến xã hội, nó
không chỉ có trong gia đình thối nát của Nghị Hách, mà trong cả gia đình Mị – đối cảnh của Nghị
Hách cũng không thoát khỏi. Bà đồ Uẩn trong sự giàu sang, hãnh diện vì trả thù được bọn dân làng
từng khinh bỉ, riếc móc con gái bà. Mị
ch sau khi bị nhục, nghĩ mình không còn xứng đáng với
người tình, đã từng chọn cái chết để giữ thanh danh và trong sạch đối với người yêu. Giờ thành
người bất cần, trong Mịch chỉ còn lại sự căm hờn cho nhân tình thế thái.
Từ đó cho thấy “Giông tố” là thảm kịch về sự thấp hèn, bất tín của con người trên mọi lĩnh
vực, không ai có thể tin được ai, không ai có thể nhờ cậy được ai. Từ trong ra ngoài, từ anh em đến
cha mẹ, từ vợ đến chồng, từ cha đến con, tất cả đều sống trong lừa dối, một vòng loạn luân khép
kín: Tội ác và lừa bịp gieo rắc khắp nơi. Sự tha hóa đó đã
được Vũ Trọng Phụng phanh phui qua
những “Thú tính” nơi con người, kể cả những người được coi là hiền lành, chân thật. Ngoài ra, Vũ
Trọng Phụng đã tả chân cái xã hội hai mặt với những con người hai mặt, với lối văn đối thoại và độc
thoại nội tâm của nhân vật như một phương pháp thám hiểm tiềm thức của họ. Trong khi những tác
giả hiện thực cùng thờ
i chỉ mới phân chia xã hội thành những lớp tốt xấu, đề cao cái tốt, hạ bệ cái
xấu.
Quá trình tha hóa - quá trình đánh mất mình ở mỗi người có sự khác nhau. Nghiêm khắc mà
nói, mọi người đang sống không được như họ mong muốn. Ở đây không đề cập đến những tội lỗi đã
thành danh mục quản lý của pháp luật, mà chỉ nói tới những thói xấu nho nhỏ, những thói xấu vẫn
bị coi bỏ qua như xoay xoay vụ lợi, làm dỡ báo hay, qua loa vô trách nhiệm, khéo léo tô vẽ mình
trước cấp trên, hùa theo số đông, nói cho đám đông vừa lòng chứ không dám nói sự thật… Có thể
ản nhất mà
các nhà nghiên cứu từ xưa đến nay luôn đặt ra và có những cách giải quyết khác nhau.
C. Mác đã đưa ra quan niệm hoàn chỉnh về khái niệm con người cũng như bản chất của con
người. Ông phân biệt rõ hai mặt trong khái niệm con người: mặt xã hội và mặt sinh học. Trước hết,
C. Mác thừa nhận con người là động vật cao cấp, sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài của giới sinh vật
như ti
ến hóa luận của Đác - uyn đã khẳng định. Như các loài động vật khác, con người phải đấu
tranh để kiếm ăn, sinh tồn, sinh con đẻ cái. Theo C. Mác con người vốn là một sinh vật có đầy đủ
đặc trưng về sinh vật, nhưng lại có điểm phân biệt với con vật khác. Theo Fhranklin “Con người
khác con vật ở chỗ con người biết sử dụng công cụ lao động”. Còn Arixtốt đã gọi con ngườ
i là
“Một động vật có tính xã hội”. Hay Pascal nhấn mạnh đặc điểm con người và sức mạnh của con
người là ở chỗ con người biết suy nghĩ “Con người là một cây sậy, nhưng là một cây sậy biết suy
nghĩ”.
Các nhận định trên đều đúng khi nêu lên một khía cạnh về bản chất con người, nhưng những
nhận định đó đều phiến diện, chưa nói lên
được nguồn gốc và mối quan hệ biện chứng giữa chúng
với nhau. Theo C. Mác và Ph. Ăngghen cho thấy vai trò lao động ở con người. Ông kết luận “Con
vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên. Đó là sự
hòa hợp giữa con người với giới tự nhiên. Và nhờ hoạt động thực tiễn, con người quan hệ với tự
nhiên cũng có nghĩa là con người quan hệ v
ới chính bản thân mình”, bởi tự nhiên là “Thân thể vô
cơ của con người”. Con người có tính xã hội bởi bản thân hoạt động sản xuất của con người là hoạt
động mang tính xã hội. Chính tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho con người khác con vật. Tính
xã hội của con người thể hiện ở hoạt động và giao tiếp xã hội. Hoạt động của con người không phải
là hoạt động theo bản nă
ng như con vật mà là hoạt động có ý thức. Tư duy của con người phát triển
trong hoạt động giao tiếp xã hội. Mặt khác, con người khác con vật về bản chất ở cả ba mặt: quan hệ
với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với bản thân. Cả ba mối quan hệ đều mang tính xã hội,
trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất, bao quát nhất trong mọi hoạt động của con ngườ
Hồng cũng đã viết nhiều về vấn đề tha hóa của con người ở hai lĩnh vực giàu – nghèo trong xã hội.
Họ tập trung miêu tả nhân vật bị tha hóa bề ngoài. Trong Bỉ vỏ, Nguyên Hồng miêu tả nhân vật Tám
Bính dù tha hóa nhưng trước sau vẫn là một tâm hồn phụ nữ thuần hậu giàu đức hi sinh, muốn sống
bằng bàn tay lao động của mình. Còn Vũ Trọng Phụng miêu tả sự trụy lạc của con người do những
dục vọng không thành, đó là tình trạng tha hóa của Long, Mịch, ông bà đồ Uẩn trong Giông tố. Họ
bị chi phối bởi đời sống vật chất hoặc sự biến đổi vị trí trong xã hội từ nghèo hèn trở nên giàu sang.
Với Nam Cao, sứ mạng của nhà văn với tư cách là “Người thư kí trung thành củ
a thời đại”, ông mải
miết đi tìm những nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa của con người. Ông không phơi bày những tính
hư tật xấu của nhân vật, mà từ trái tim nhân hậu, yêu thương trân trọng con người đã cho thấy tha
hóa là một quá trình biện chứng có tính quy luật do nhiều yếu tố tác động. Lão Hạc tự vẫn cũng vì
thương con, giữ lại mảnh vườn, chị đĩ Chuột nói dối con, nói dối chồ
ng vì lo cho sức khỏe của
chồng “Đã bảo hết cơm rồi, tí nửa chè chín thì ăn chè mà… Cơm gạo đỏ không chịu ăn, nó đòi ăn
cơm trắng của thầy cơ” {18, 17}. Còn cái Gái nói dối cha, cũng vì thương cha “Lúc nảy mẹ con
mày ăn cám phải không? Gái gượng cười cãi: ăn chè đấy chứ” {18, 17}. Và rồi, người cha cũng nói
dối con, tìm đến cái chết cũng vì thương vợ, thương con, không muốn bệnh tậ
t mãi làm khổ vợ con
“Con đi lấy cho thầy cái ghế buộc giậu, với sợi thừng ở gác bếp để thầy mắc lại cái võng, thế này
cao quá” {18, 17}. Do đó, có những yếu tố do tác động của ngoại cảnh nhưng cũng có yếu tố do tự
thân con người tạo ra. Cả hai yếu tố trên cũng có quan hệ biện chứng, hoàn cảnh tác động và trách
nhiệm của bản thân không vượt lên được hoàn cảnh. Đó cũng chính là vần đề cốt lõi hình thành
quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống. Từ đó, ta có thể hình dung được phong cách và
tầm vóc củ
a nhà văn trong xã hội đương thời.
1.2.2. Nguyên nhân của sự tha hóa:
1.2.2.1.Tha hóa do tự thân.
Khi bàn về hiện tượng tha hóa, Vương Trí Nhàn đã nêu ra bảy bước dẫn tới sự tha hóa trên tạp
chí Tia sáng, ngày 9/10/2006 qua mạng Internet.
bền, cho đến nay, tất cả có đến ngót ba chục năm rồi đấy… Hắn mặc suốt ngày suốt đêm, khi ăn,
khi ngủ, khi làm, khi chơi. Cái áo ba – đờ – xuy mất hết cúc rồi. Hắn đơm hai cái dải thật to hình
cái bơi chèo. Những khi hắn đi cày, hai cái dải được bắt giao nhau để thắt lại ở sau lưng. Chặt chẽ
và gọn gàng không kém một cái đai. Những lúc hắn đi chơi hoặc ra đình thì hai dả
i lại cởi ra buông
cho lẫn vào hai mép áo trong. Hắn lại có vẻ ung dung lắm. Ai dám bảo cái áo ba – đờ – xuy này là
áo ba – đờ – xuy đi cày? Mà có bảo đi cày nữa thì đã sao.” {18; 115}. Cha ông ta có câu “Lấy của
che thân, ai lại lấy thân che của”, trường hợp của Trạch Văn Đoành là ngược lại. Hắn sống bất cần
đời, không nể một ai, không danh dự, không cần lòng tự trọng.
Hình ảnh người cha trong “Trẻ con không được ăn thịt chó
” với những biểu hiện của sự thèm
thuồng. Đầu óc hắn lúc nào cũng nghĩ đến rượu, thịt chó, rồi tưởng tượng về nó cùng những biểu
hiện của sự thèm khát như một con vật. Đặc biệt là ghép tội cho con chó để có lí do giết thịt “Mắt
hắn sáng hẳn lên một chút. Chúng có vẻ vừa trông thấy con chó thui béo căng và vàng óng treo
lủng lẳng trên cái chõng hàng nhà mụ Tam. Nước dãi tứa ra đầy miệng hắ
n, một hơi rượu rất mong
manh thoáng qua mũi hắn rồi vụt biến. Chà ! Chà! Hôm nay, mát trời lắm nhỉ? Rượu với thịt chó
mà lại gặp khi trời mát thì ngon biết chừng nào là ngon! Hắn nuốt dãi hai, ba lượt… Hắn nhổ bọt
vào chân cột rồi vừa chép chép môi vừa hếch mặt nhìn lên nóc nhà. Rượu… Thịt chó… Rượu… Thịt
chó… Óc hắn cứ lẩn quẩn nghĩ đến hai thứ đó.” {18; 122}. Hay một đoạ
n khác “Hắn dùng dằng
không nỡ bước. Trong khi ấy thì nước dãi từ từ dâng lên miệng hắn. Rượu… Thịt chó!… Rượu…
Thịt chó!…Trước mắt hắn lại lập lòe hai sắc: vàng bóng và xanh nhợt. Hắn nuốt nước dãi kêu ừng
ực. Rồi hắn tặc lưỡi một cái để ra hiệu cho hắn đường do dự nữa” {18; 122}. Quá trình tự tha hóa
của nhân vật có sự vận động nội tâm phức tạ
p. Đầu tiên hắn hút thuốc lào và tự thưởng thức về
tiếng kêu của điếu thuốc, rồi hắn thấy thời tiết đẹp mà mình phải ngồi ở nhà thì xót xa quá. Tiếp
theo, hắn muốn đi đâu đó, nhưng không có tiền, rồi hắn thầm ước có ai đó đến mua bưởi nhà hắn và
hắn mơ thấy năm đồng, thấy con chó thui vàng óng, mắt hắn sáng lên. Và từ đó, thịt chó đ
con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó” {18; 252}. Rồi đến anh lang Rận cũng thắt cổ tự tử cũng
vì quá nhục nhã, đau đớn. “Y thẹn. Y buồn. Y giận đời. Y giận trời. Y giận thân. Y tím ruột, tím gian.
Y nghĩ đến cái nhục sáng hôm sau” {18; 281}. Một Chí Phèo muốn hoàn lương “Hắn thèm lương
thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao. Thị Nở s
ẽ mở đường cho hắn”{18; 57}, “Tao
muốn làm người lương thiện” {18; 61}, Kết cục Chí cũng chết trên ngưỡng cửa trở lại làm người do
hoàn cảnh đã không chấp nhận khát vọng làm người của anh. Nhưng bi kịch đau đớn nhất là lúc họ
nhận thức được sự trói buộc của hoàn cảnh và những chi phối của nó, họ nhận thấy được sự bất lực
c
ủa bản thân, lương tâm giày vò và có lẽ, họ nghĩ cái chết sẽ giải quyết tất cả. Chí Phèo nhận thấy
hoàn cảnh trở lại làm người không còn “Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất
được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện được nữa?” {18; 61}.
Cả cuộc đời của Chí Phèo hầu hết chịu sự tác động của ngoại cảnh. Cũng có lúc, anh đứng vữ
ng
bằng ý chí, nghị lực “Hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt.
Người ta không thích cái gì người ta khinh. Vả lại bị một con đàn bà gọi đến mà bóp chân! Hắn
thấy nhục hơn là thích, huống hồ lại sợ” {18; 56}. Với chị Dậu trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), những
nổ lực cuối cùng phải bán con, bán chó, bán cả gánh khoai để trả những đồng sưu cao thuế
nặng vô
lý ấy. Sống trong xã hội bất công, thiếu dân chủ ấy, con người con người có cố gắng vùng vẫy bằng
cũng không thoát được sự bủa vây của ngoại cảnh.
Có nhiều tác nhân dẫn đến sự tha hóa, trong đó cái đói và miếng ăn là nguyên nhân chính “Ở
làng Thứ, bao giờ cũng như bao giờ, hiếm hoi lắm mới có một nhà được mỗi ngày hai hay ba bữa
cơm no. Còn thì chỉ bữa no hay bữa đ
ói thôi. Mà có được toàn cơm! Họ phải ăn độn ngô, khoai, rau
má, cháo cám, rau luộc trừ cơm. Thứ đã thấy có người ăn lá sắn tàu luộc làm rau, lá bà nụ nấu
canh, sung luộc….Có người ăn cháo nấu chỉ có một ít gạo còn thì chỉ toàn nõn khoai ngứa, có khi
cả những cái lá non, bỏ vào cho đặc và nhiều. Có người ăn củ chuối… Một ông già hàng xóm kể
cho Thứ nghe một câu chuyện giống như truyện ngụ ngôn. Một năm lụt, một buổi tối ông gọt sạch
kiếm một bữa ăn đã nhục lắm rồi, nhưng cái cách mà bà ăn còn nhục nhã, khốn khổ hơn
nhiều: “Bà ăn nhanh, ăn vội, cố theo kịp người ta vì sợ người ta ăn hết. Bà lão lập cập, run rẩy làm
rớt cả mắm ra ngoài… Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết
gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết” {18; 233 - 234}. Trong “Tư
cách mõ”, cũng vì miếng ăn
mà anh cu Lộ đã đánh mất tư cách người và tạo nên một tư cách mõ ở một anh nông dân vốn rất
hiền lành và có lòng tự trọng. “Từ ấy, không những hắn đòi cỗ to, lúc ăn hắn lại còn xin thêm xôi,
thêm thịt, thêm cơm nữa. Không đem lên cho hắn thì tự hắn xông vào chỗ làm mà xúc lấy. Ăn hết
bao nhiêu thì hết, còn hắn gói đem về cho vợ con lấy, mà nếu vợ con ăn không hết, thì kho nấu để
lại ăn hai ba ngày” {18; 216}. Nói theo Đinh Thị Hoa “Từ chuyện miếng ăn tầm thường, Nam Cao
đã đưa đến vấn đề nhân loại, giống lên hồi chuông báo động về sự hủy hoại nhân tính của con
người” { 40; 48}. Rõ ràng, cũng vì miếng ăn, sự đố kị, lòng ghen ghét của mọi người là nguyên
nhân chính tác động để anh cu Lộ hiền lành, chân chính ngày nào đã đánh mất bản thân mình.
“Vườn đất hẹp. Gia bản không có gì. Anh cu Lộ chỉ độc nai lưng ra cày thuê, cuốc mướn. Nói thế,
nghĩa là nhà cũng túng. Nhưng túng thì túng thật, mà bụng dạ anh ta khá. Anh chỉ làm ăn với nuôi
vợ, nuôi con, chứ không hề ăn trộm, ăn cắp nhà ai… Nói cho phải, thì anh cu Lộ ăn ở phân minh
lắm. Bởi vậy, kẻ trên, người dưới, hàng xóm láng giềng ai cũng mế
n” {18; 211 - 212}. Nếu anh cu
Lộ từng bước đánh mất bản thân do sự tác động của thành kiến xã hội, lòng ích kỉ, thái độ kinh bỉ
của mọi người. Hay Chí Phèo cũng có hoàn cảnh tương tự, cũng từ một anh canh điền hiền lành
chất phát, lương thiện. “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc
mướn, cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại b
ỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba
sào ruộng làm. “ {18; 54} Chính sự ghen tuông, hèn hạ của Bá Kiến, sự bực tức của ông trước dư
luận đã đẩy anh canh điền hiền lành lương thiện ấy vào nhà tù thực dân và chế độ nhà tù ấy đã hủy
hoại cả hình hài và nhân tính của con người. "Có người bảo ông lý ghen với anh canh điền khỏe
mạnh, mà sợ bà ba không dám nói… Chỉ bi
ết một hôm Chí bị người ta giải huyện, rồi nghe đâu
phải đi tù” {18; 33}. Nam Cao không chỉ thể hiện lòng thông cảm, xót thương cho những người
cảnh sống tưởng như không thể nào chịu đựng nổi, niềm tin của tác giả vào thiện căn của con
người, khao khát của tác giả về một cuộc sống xứng đáng lương thiện. Tất cả điều này làm cho
những trang viết của Nam Cao bao gi
ờ cũng thấm đượm, lan tỏa sự ấm áp của tình người, của hi
vọng, mặc dù nhà văn nhiều lúc cũng trình bày sự thật cuộc sống đến mức trần trụi không thương
tiếc.” {60; 27 – 28}
Chương 2:
PHƯƠNG DIỆN VÀ HỆ QUẢ CỦA SỰ THA HÓA TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO
TRƯỚC 1945
2.1.Các phương diện của sự tha hóa:
2.1.1. Tha hóa về đạo đức - nhân cách:
Đạo đức – một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng
điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực đời sống của xã hội không trừ lĩnh vực nào.
Đạo đứ
c khác với những hình thức điều chỉnh hoạt động quần chúng như pháp quyền, những sắc
lệnh nhà nước, những truyền thống dân tộc… Những yêu cầu của đạo đức mang hình thức bổn phận
phải làm không riêng một ai, như nhau đối với tất cả, nhưng không chịu sự ra lệnh của ai cả. Những
yêu cầu này, có tính chất tương đối bền vững. Chúng khác phong tục
đơn giản hoặc truyền thống đã
được duy trì bởi sức mạnh của một trật tự đã ổn định, ở chỗ chúng có cơ sở tư tưởng dưới hình thức
những quan niệm về con người phải sống, phải cư xử như thế nào. Trong đạo đức, bên cạnh ý thức
xã hội, ý thức cá nhân đóng một vai trò không kém quan trọng. Dựa vào những quan niệm đạo đứ
c,
sự sa sút về nhân cách, sự băng hoại về nhân phẩm của con người. Dù là nông dân hay trí thức vẫn
có nguy cơ đánh mất nhân cách trước hoàn cảnh nghèo đói, trước sự quyến rủ của vật chất. Bên
cạnh đó, hàng loạt những con người nghèo túng, đ
ói rách, lẻ ra phải chí thú làm ăn, thì lại rơi vô
cảnh rượu chè, cờ bạc, danh vọng hão huyền (Một bữa no, trẻ con không được ăn thịt chó, thôi về
đi, mua danh). Nam Cao viết nhiều về những người trí thức tiểu tư sản, tức nhắm vào tầng lớp
mình, bản thân mình. Chẳng hạn, nhân vật Hài trong “Quên điều độ”, một anh giáo nghèo và ốm
yếu cũng thèm khoái lạc như ai nhưng lại t
ự dối mình là sống điều độ “Người điều độ thật là một
người khôn ngoan” {18; 375}. Những anh trí thức tỏ ra quảng đại, hào phóng, rộng lượng nhưng
thực chất anh nào cũng đầy những toan tính, nhỏ nhen. Nên họ đã tự lừa dối mình, là ghét sự nhỏ
nhen. Ngay cả thầy giáo Thứ trong (Sống mòn), lúc nào cũng mang cái ghen thường trực trong mình
nhưng lại cho chuyện vợ có nhân tình là chuyện thườ
ng tình. Có lần San hỏi Thứ “Có bao giờ trong
khi chúng mình đi vắng thế này, vợ chúng mình ở nhà có ngoại tình không? Thứ ngạc nhiên nhưng
cố làm ra vẻ lạnh lùng: chưa bao giờ tôi nghĩ thế, bởi vì tôi không hay nghĩ lôi thôi đến những
chuyện ấy làm gì. Nhưng tôi tưởng sự ấy cũng là thường” {18; 602}. Ít nhiều thì Thứ cũng dối lòng,
không dám thừa nhận một sự thật trong lòng mình luôn chứa đượng một sự ghen tuông, ngờ vực v
ề
vợ mình. “Thí dụ như bây giờ đột nhiên anh nghe tin vợ anh ngoại tình thì anh nghĩ thế nào? Thứ
thấy nhói trong tim một cái và đột nhiên khó thở” {18; 603}. Quả thật, trước mặt mọi người Thứ
luôn tỏ ra tin tưởng vợ, yêu thương vợ, cảm thông với nỗi cực nhọc của vợ. Nhưng khi nghe những
lời vợ anh trình bày thì rõ ràng ở Thứ có sự xung đột trong tư tưởng, sự mâu thuẩn giữa thái độ bi
ểu
hiện và lòng trắc ẩn sâu sắc “Nếu tôi không thật lòng thật dạ với mình, nói lời mà chẳng giữ được
lời, còn coi quân bài, lá bạc hơn cả chồng con, thì tôi còn mặt mũi nào mà trông thấy mặt mình?
Mình muốn bắt tôi thề thế nào tôi cũng xin thề. Cái thân tôi mình còn có thể ngờ, tôi chẳng thiết gì.
Nhưng con của chúng ta, thì mình không còn có thể ngờ tôi coi chẳng ra gì. Thế mà tôi dám thề
rằng nội tôi có đánh bặc trộm vụng mình mộ
t lần nào, trời cứ đừng cho nó làm con tôi nữa!” {18;
âm mưu, thủ đoạn nham hiểm đối với dân thì “Thế nào là mềm nắn, rắn buông” {18; 37} hay “Cái
nghề làm quan thì bám thằng có tóc, ai bám thằ
ng trọc đầu? {18; 37}. Còn đối với kẻ thù thì “Cụ
nghĩ bụng phải có những thằng đầu bò chứ? Không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị những
thằng đầu bò? “ {18; 42}. Còn đối với những kẻ bần cùng thì “Những thằng ấy chính là những
thằng được việc. Khi cần đến chỉ cho nó dăm hào uống rượu, là có thể sai nó tác hại bất cứ anh nào
không nghe mình. Gặp người bướng b
ỉnh, đanh thép thì nó lừa đốt nhà hay cho mấy lát dao; gặp
người non mặt thì nó quăng vào chai rượu lậu, hay gây sự rồi lăn ra kêu làng. Có chúng sinh
chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền lành và yên phận này, khéo lắm chỉ
bóp nặn được vào vụ thuế” {18; 42}. Nhân cách – đạo đức còn được biểu hiện qua cách cư xử đối
với nhau, cho dù cư xử với kẻ thù thì cũng cư xử như một con người đố
i với một con người. Nhìn
vào cách cứ xử của Bá Kiến đối với mọi người thì hai chữ “Nhân cách – đạo đức” không tồn tại
trong suy nghĩ của nhân vật này, lấy gì mà nó thể hiện ra ngoài. Lợi ích cá nhân, quyền lực vai vế
trong làng Vũ Đại là điều mà nhiều đời nhà Bá Kiến ra sức giành giật và cũng cố nó bằng mọi giá.
Kể cả việc hãm hại người khác, Bá Kiến tiêu biểu cho bọn
địa chủ, cường hào ác bá ở nông thôn