i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.1
Tổng quan nghiên cứu 6
1.1.1
Những nghiên cứu về hỗ trợ phát triển DNNVV 6
1.1.2
Các nghiên cứu về thuế 11
1.1.3
2.2
Lý luận và thực tiễn về gánh nặng thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa 36
2.2.1
Gánh nặng thuế 36
2.2.2
Chi phí tuân thủ thuế 37ii
2.2.3
Sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa 42
2.3
Khung phân tích và phương pháp thực hiện của luận án 48
2.3.1
Khung phân tích của luận án 48
2.3.2
3.1.2
Thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2001-2012 72
3.2
Thực trạng chính sách thuế hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
Nam 76
3.2.1
Thực trạng chính sách thuế hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung (trong
đó có DNNVV) 77
3.2.2
Thực trạng chính sách thuế hỗ trợ riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa83
3.2.3
Đánh giá chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 87
3.3
Thực trạng gánh nặng thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 89
3.3.1
Mô tả các bước nghiên cứu 89
4.1.2
Chủ trương của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa 117
4.1.3
Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011-2015 118
4.2
Định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển của doanh
nghiệp nhỏ và vừa tới năm 2020 120
4.2.1
Quan điểm của luận án về hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 120
4.2.2
Định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển của
doanh nghiệp nhỏ và vừa 123
4.2.3
Giải pháp thực hiện 133
4.2.4
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. 1: Tiêu chí xác định DNNVV của EU 6
Bảng 1. 2: Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt nam 7
Bảng 2. 1: Tỉ lệ phần trăm chi phí tuân thủ so với doanh thu tính thuế tại New
Zealand năm 2006 45
Bảng 2. 2:Tổng chi phí tuân thủ thuế ước tính tại các nước thành viên EU 45
Bảng 2. 3:Tỉ lệ % chi phí tuân thủ so với doanh thu tại Slovenia và Croatia 46
Bảng 2. 4: Ngưỡng kê khai thuế GTGT tại một số quốc gia 53
Bảng 2. 5: Ngưỡng kê khai thuế GTGT và ngướng đăng ký kê khai thuế GTGT theo
phương pháp giản đơn 54
Bảng 2. 6: Các mức thuế suất thuế GTGT tại một số quốc gia 56
Bảng 2. 7: Hệ thống thuế khoán của Kazakhstan 59
Bảng 2. 8: Hệ thống thuế khoán theo đặc điểm doanh nghiệp ở Tây Ban Nha 60
Bảng 3. 1: Thu nhập bình quân đầu người tính theo giá cố định 1994 68
Bảng 3. 2: Số lao động trong khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước 75
Bảng 3. 3: Đóng góp của DNNVV trong tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô
và đất) 76
Bảng 3. 17: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới thời gian kê khai thuế GTGT 105
Bảng 3. 18: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới thời gian kê khai thuế TNDN 106
Bảng 3. 19: Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tới gánh nặng thuế TNDN 107
Bảng 3. 20: Đánh giá yếu tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế của DNSN 108
Bảng 3. 21: Đánh giá của DNSN về mức thuế khoán 109
Bảng 3. 22: Lý do DNSN không đăng ký thuế 110
Bảng 3. 23: Đánh giá của DNSN đối với hỗ trợ của cơ quan thuế 110 vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Khung nghiên cứu của luận án 21
Hình 2: Khung phân tích của luận án 48
Hình 3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2012 67
Hình 4: Số lượng DNNVV thành lập mới giai đoạn 2006-2012 74
khăn trong việc tiếp cận vốn vay nên nguồn vốn của DNNVV chủ yếu là vốn chủ sở
hữu. Một bộ phận quan trọng của vốn chủ sở hữu là lợi nhuận giữ lại. Đây chính là
nguồn lực tài chính chủ yếu để tái đầu tư và phát triển của DNNVV. Tuy nhiên
nguồn lực tài chính này của doanh nghiệp chịu gánh nặng lớn do nghĩa vụ thuế đối
với Nhà nước. Nghĩa vụ thuế là bắt buộc. Đứng trên quan điểm lợi ích của doanh
nghiệp, chính sách thuế tạo ra gánh nặng thuế cho DNNVV, những doanh nghiêp có
nguồn lực tài chính phụ thuộc chủ yếu vào vốn chủ sở hữu. Vì vậy, giảm gánh nặng
2
thuế được coi là một giải pháp quan trọng nhằm hỗ trợ phát triển DNNVV. Do đó,
chính sách thuế là một chính sách quan trọng trong giải pháp hỗ trợ tài chính cho
DNNVV. Các quốc gia phát triển trên thế giới đã và đang xây dựng hệ thống chính
sách thuế hỗ trợ hiệu quả cho DNNVV.
Khủng khoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế
Việt Nam: tốc độ tăng trưởng kinh tế bị suy giảm; thâm hụt ngân sách luôn ở mức
gần 5%; nhiều doanh nghiệp bị phá sản. Chỉ tính riêng năm 2012, đã có khoảng
50000 DNNVV bị giải thể hoặc ngừng hoạt động [6]. Chính phủ đã đưa ra nhiều
giải pháp về thuế như: xóa nợ thuế; giãn nộp thuế, nhằm giúp đỡ DNNVV thoát
khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, những giải pháp trên chỉ giải quyết những khó khăn
ngắn hạn cho DNNVV. Chính sách thuế của Việt Nam vẫn thiếu những qui định hỗ
trợ phát triển DNNVV trong dài hạn. Các qui định về thuế chưa tạo điều kiện thuận
lợi cho DNNVV phát triển. Một thông báo mới đây của WB và tổ chức tài chính thế
giới (IFC) về xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2013 cho thấy, môi trường kinh
doanh của Việt Nam không có nhiều cải thiện và tiếp tục trụ hạng ở vị trí 99/189
nền kinh tế trên thế giới. Riêng lĩnh vực nộp thuế tụt 11 bậc, từ xếp hạng 138/183
quốc gia, xuống vị trí 149/189 quốc gia. Các doanh nghiệp Việt Nam phải mất tới
1/3 thời gian làm việc trong năm, tức 872 giờ để tuân thủ chính sách thuế. Điều này
ảnh hưởng lớn đến
hoạt động của doanh nghiệp, nhất là DNNVV khi mà nhiều chủ
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Về chính sách thuế: Luận án nghiên cứu các qui định về sơ sở thuế, thuế suất
đối với thuế trực thu và các qui định quản lý thuế nói chung, bao gồm quản lý thuế
trực thu và thuế gián thu được áp dụng với DNNVV, và chủ yếu đi sâu nghiên cứu
ở góc độ: cấu trúc chính sách thuế tạo gánh nặng thuế cho doanh nghiệp như thế
nào?
Về doanh nghiệp: đối tượng nghiên cứu của luận án là các DNNVV, và chia
làm hai nhóm: các DNNVV và DNSN vì trên thực tế hai nhóm doanh nghiệp này có
mức độ “chịu” gánh nặng thuế không giống nhau. Việc nghiên cứu làm hai nhóm
giúp cho luận án có những phân tích và đề xuất thiết thực hơn.
Mặc dù đối tượng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng luận án không
nghiên cứu một doanh nghiệp cá biệt mà đứng trên góc độ nhóm doanh nghiệp nhỏ
4
và vừa theo mục tiêu quản lý thuế. Với mục đích có những đóng góp ở góc độ
hoạch định chính sách thuế phát triển nhóm DNNVV phù hợp với mục tiêu quản lý
thuế.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu về thời gian: Những qui định về thuế trong
giai đoạn 2006-2013 vì đây là giai đoạn cải cách thuế lần thứ ba của Việt Nam kể từ
sau đổi mới kinh tế 1986. Giai đoạn này đánh dấu sự thay đổi căn bản của chính
sách thuế so với giai đoạn trước để đưa nền kinh tế nước nhà hội nhập kinh tế quốc
tế và trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Những qui định
về thuế từ 2006 -2013 về cơ bản không có nhiều thay đổi.
Luận án đề xuất nội dung và giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ
trợ phát triển DNNVV đến năm 2020.
Phạm vi đối tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu hai loại thuế
có phạm vi ảnh hưởng lớn nhất và phức tạp nhất hiện nay là thuế GTGT và thuế
TNDN. Hai loại thuế trên đều rất phức tạp và có nhiều vấn đề phát sinh trong quản
Thứ hai, luận án đề xuất sử dụng công thức tính ngưỡng doanh thu kê khai
thuế GTGT do Keen và Mintz đề xuất năm 2004. Theo đó, ngưỡng doanh thu kê
khai thuế GTGT hợp lý ở Việt Nam phải là 400 triệu đồng thay vì 100 triệu đồng
như qui định hiện nay.
Thứ ba, luận án cũng đề xuất cần có các qui định ưu đãi thiết thực hơn nữa
cho DNNVV, trong đó nổi bật là: cho phép doanh nghiệp trừ 150% chi phí thực tế
đầu tư vào khoa học công nghệ; ưu đãi thuế TNDN cho doanh nghiệp mới thành
lập; giảm thiểu các mức thuế suất thuế GTGT.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận án được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chính sách thuế hỗ trợ
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 3: Thực trạng chính sách thuế hỗ trợ phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở Việt Nam
Chương 4: Định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về hỗ trợ phát triển DNNVV
1.1.1.1
Khái niệm DNNVV
Phạm Văn Hồng [25], Trần Thị Vân Hoa [24] đã nêu kinh nghiệm quốc tế
trong việc xác định DNNVV thông qua tiêu chí định tính và định lượng.
Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNNVV như chuyên
môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp Các tiêu
chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định
Quy mô
Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Nông, lâm nghiệp và
thủy sản
< 10 < 20 tỷ 10 – 200 20 – 100 tỷ 200 – 300
Công nghiệp và xây
dựng
< 10 < 20 tỷ 10 – 200 20 – 100 tỷ 200 – 300
Thương mại và dịch vụ < 10 < 10 tỷ 10 – 50 10 – 50 tỷ 50 – 100
Nguồn:Nghị định chính phủ số 56/2009/NĐ-CP [16]
Tuy nhiên, những tiêu chí trên (số lao động, số vốn) chỉ mang tính thống kê,
không mang nhiều ý nghĩa trong quản lý. Lĩnh vực quản lý khác nhau cần có tiêu
chí riêng để xác định DNNVV sao cho phù hợp. Trong lĩnh vực quản lý thuế, tiêu
chí sử dụng để xác định DNNVV cần phải phù hợp với từng loại thuế. Cụ thể, mỗi
để vượt qua những khó khăn và bất lợi trong quá trình tự phát triển, DNNVV cần có
sự hỗ trợ từ phía chính phủ. Những hạn chế của DNNVV cần được hỗ trợ:
Thứ nhất, hạn chế về qui mô vốn cũng như khả năng tiếp cận nguồn vốn
chính thức là nguyên nhận ngăn cản khả năng mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ
và phát triển thị trường của DNNVV. Qui mô vốn chủ sở hữu nhỏ, trình độ quản lý
hạn chế là một trong những nguyên nhân khiến DNNVV khó tiếp cận với thị trường
vốn chính thức. Tài chính luôn là vấn đề chính của DNNVV quá trình phát triển sản
xuất kinh doanh. Mặc dù vậy, DNNVV rất khó tiếp cận được với nguồn vốn vay từ
ngân hàng, do độ rủi ro cao. Thậm chí ở những nước có các điều kiện tín dụng dễ
9
dàng thì một nhà doanh nghiệp nhỏ cũng gặp khó khăn để đạt được sự giúp đỡ tài
chính. Họ không thể đáp ứng các điều kiện của các tổ chức cho vay. Do vậy.
DNNVV thường phải tiếp cận với nguồn vốn không chính thức, có lãi suất cao. Chi
phí về vốn cao là rào cản lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy,
cần thiết phải hỗ trợ tài chính cho DNNVV.
Thứ hai, trình độ công nghệ lạc hậu, thiết bị máy móc cũ kỹ, dây chuyền sản
xuất lạc hậu phần lớn còn mang tính thủ công. Điều này đã làm giảm khả năng cạnh
tranh của DNNVV. Nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm đối với họ thực sự là
một khó khăn.
Do vậy, việc hỗ trợ DNNVV đổi mới hệ thống thiết bị, trang bị máy móc
thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng sản phẩm là
rất cần thiết.
Thứ ba, hạn chế trong tiếp cận thông tin: DNNVV gặp rất nhiều khó khăn
trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ, tìm kiếm nguồn nguyên liệu chất lượng và
rẻ; những chính sách hỗ trợ của chính phủ.
Để phát triển DNNVV cần phải mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường
xuất khẩu. Tuy nhiên, DNNVV lại gần như không có hoặc có rất ít thông tin về thị
trường ngoài nước.
động hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức của nhà nước, cũng như của các hiệp hội hay
các tổ chức khác đối với DNNVV.
Theo quan điểm của luận án, cần có những qui định dành riêng cho DNNVV
vì trong lĩnh vực quản lý thuế, việc thực hiện các qui định tương tự như doanh
nghiệp lớn sẽ tạo gánh nặng quá mức cho DNNVV, do qui mô và trình độ quản lý
thấp.
1.1.1.5
Các chính sách hỗ trợ DNNVV
Các tác giả Phạm Văn Hồng [25], Nguyễn Minh Tuấn [48], Lê Thị Mỹ Linh
[26], Trần Thị Vân Hoa [24], đều có cùng quan điểm khi cho rằng Chính phủ cần có
các chính sách tài chính và phi tài chính để hỗ trợ phát triển DNNVV.
Chính sách tài chính bao gồm: Những giải pháp giúp DNNVV tiếp cận với
nguồn vốn chính thức như ưu đãi tín dụng, bảo lãnh tín dụng, thuê mua, bao thanh
toán, đầu tư vốn mạo hiểm, tài trợ xuất khẩu; thành lập quĩ phát triển DNNVV và
11
chính sách thuế gồm các qui định ưu đãi thuế suất, giảm tần suất kê khai, đơn giản
hóa hệ thống quản lý nhằm giảm chi phí tuân thủ.
Chính sách phi tài chính bao gồm: chính sách phát triển nguồn nhân lực,
chính sách phát triển khoa học-công nghệ và giải pháp cung cấp thông tin cho
doanh nghiệp; Chính sách phát triển nguồn nhân lực gồm các giải pháp hỗ trợ đào
tạo nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp; Chính sách phát triển khoa học-công
nghệ gồm các giải pháp trợ giúp doanh nghiệp đổi mới, tiếp nhận công nghệ hiện
đại, nâng cao chất lượng sản phẩm. Các giải pháp trợ giúp thông tin bao gồm các
giải pháp cung cấp thông tin về chính sách, nguồn nguyên liệu, mở rộng thị
trường…
Như vậy, có thể thấy chính sách thuế là một trong những chính sách tài chính
quan trọng, không thể thiếu được trong việc hỗ trợ phát triển DNNVV. Mặc dù vậy,
Trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2011: “Nghiên cứu tiêu chí và phương
pháp phân loại doanh nghiệp để giảm tần suất kê khai thuế”, tác giả Nguyễn Quang
Tiến [46] đã chỉ ra những khó khăn gặp phải khi sử dụng các tiêu chí “số lao động”,
“tổng nguồn vốn” (theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP) trong quản lý thuế.
Tác giả phân tích: Số liệu về tổng nguồn vốn của doanh nghiệp được gửi đến
cơ quan thuế chậm nhất là 90 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài
chính (ngày 30 hoặc 31/3 hàng năm), trong khi việc xác định nghĩa vụ kê khai thuế
GTGT của doanh nghiệp theo tháng hay theo quý phải được xác định ngay đầu
tháng 2 hàng năm. Mặt khác, số liệu về tổng nguồn vốn trong Báo cáo tài chính bao
gồm cả vốn chủ sở hữu, vốn vay và các nguồn vốn khác… do đó trong nhiều trường
hợp cũng không phản ánh đúng quy mô cũng như năng lực, trình độ của doanh
nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. [46]
Đối với tiêu chi “số lao động”: Cơ quan thuế có thông tin về số lao động
trong năm của doanh nghiệp thông qua các bảng kê khai về khấu trừ thuế thu nhập
cá nhân, tuy nhiên đây không phải là thông tin về số lao động bình quân trong năm.
Mặt khác, phương pháp tính số lao động bình quân trong năm cũng chưa được
hướng dẫn thống nhất, cơ quan thuế không quản lý và gần như không kiểm tra được
việc kê khai của doanh nghiệp có đúng hay không.
13
Việc phân chia doanh nghiệp theo quy mô vốn ở 3 khu vực sản xuất kinh
doanh là (i) Nông, lâm nghiệp và thủy sản; (ii) Công nghiệp và xây dựng; (iii)
Thương mại và dịch vụ: tương đối rộng, không tương thích với việc phân loại mã
ngành kinh tế hiện nay cơ quan thuế đang sử dụng hoặc phân loại theo mục lục
ngân sách. Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh đa ngành thì việc xác định
quy mô vốn theo ngành cũng rất phức tạp.
Tác giả nhận định: “ Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp khác nhằm các
mục tiêu trợ giúp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đang được áp dụng tại
Việt Nam cũng rất khó hay nói cách khác là không thể áp dụng được cho công tác
phí tuân thủ thuế cho doanh nghiệp thông qua việc qui định kê khai thuế điện tử,
hoàn thiện qui trình “một cửa” hỗ trợ giải quyết những vướng mắc về thuế, rút ngắn
thời gian giải quyết hoàn thuế, khiếu nại về thuế.
Các giải pháp thực hiện được đề xuất gồm có: nâng cao hiệu quả quản lý của
cơ quan thuế, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn
của cán bộ quản lý thuế, sớm hoàn thành và đưa vào áp dụng phần mềm quản lý
thuế…
Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các loại thuế hiện hành để nêu ra hướng
hoàn thiện chính sách thuế. Tuy nhiên, những định hướng hoàn thiện chính sách
thuế được nêu ra hướng tới phục vụ phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế và phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì thế định hướng hoàn
thiện chính sách thuế hỗ trợ phát triển DNNVV vẫn là vấn đề thực tiễn còn bỏ ngỏ
cần được nghiên cứu.
Hơn nữa các nghiên cứu trên chủ yếu đứng trên góc độ ngành tài chính bàn
về hoàn thiện chính sách thuế nhằm bảo đảm thuế đáp ứng được yêu cầu cơ bản của
bản thân chính sách này. Vì thế chưa đứng trên góc độ doanh nghiệp nói chung,
DNNVV nói riêng để nghiên cứu làm thế nào để chính sách thuế không quá tạo ra
các gánh nặng đối với họ, do đó có thể các chính sách thuế được hoàn thiện theo
yêu cầu của ngành tài chính những lại kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, nhất
là DNNVV. 15
1.1.2.4
Chi phí tuân thủ thuế và các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ
thuế
a. Chi phí tuân thủ thuế
Cedric Sandford là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về chi phí
tuân thủ thuế. Ông đưa ra định nghĩa về chi phí tuân thủ thuế trong cuốn
Ấn Độ bao gồm: Khảo sát tại Ấn Độ thì xác định chi phí tuân thủ cao là do các vấn
đề sau (sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp): Các thông tin cung cấp cho việc kê
khai chi tiết; Lưu trữ số sách kế toán; Hoàn thành và nộp tờ khai thuế thu nhập;
Hoàn thành và nộp tờ khai thuế khấu trừ; Hoàn thuế; Nghiên cứu và lên kế hoạch
nộp thuế; Khoá đào tạo liên quan đến thuế cho nhân viên; Cung cấp các trợ giúp
cho nhân viên. [58, tr.63-72]
Một nghiên khác của Business New Zealand-KPMG (2003) trong cuộc khảo
sát “First Compliance Cost Survey” cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới chi phí
tuân thủ thuế ở New Zealand gồm có: Khoản tạm nộp không phù hợp với dòng tiền;
Không xem xét đến lịch sử tuân thủ tốt; Phạt và tính lãi; Khó có thông tin và trợ
giúp; Buộc phải thuê kế toán; Quá nhiều thông tin.[55]
Tác giả La Xuân Đào (2009) khi nghiên cứu chi phí tuân thủ thuế của các đối
tượng nộp thuế ở Đồng bằng Sông Cửu Long đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới
chi phí tuân thủ thuế của các đối tượng này, gồm có: Sự phức tạp trong thực hiện
các luật, quy định về thuế; Sự thay đổi thường xuyên của các luật, quy định thuế;
Thời gian để hiểu(tiếp thu) luật thuế mới; Thiếu nhân viên có đủ trình độ, năng lực
hiểu biết về thuế. [22, tr.54-63]
Những nghiên cứu trên đã cung cấp những gợi ý quan trọng cho luận án về
các yếu tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế. Tuy nhiên do sự khác biệt về chính
sách thuế giữa các quốc gia nên kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ và New Zealand chỉ
dừng lại ở mức gợi ý. Nghiên cứu của La Xuân Đào thực hiện năm 2009. Từ đó đến
nay đã có nhiều thay đổi trong quản lý thuế, như: cho phép doanh nghiệp kê khai
thuế qua mạng điện tử; các qui định về thanh tra, kiểm tra cũng đã thay đổi theo
hướng giảm, nhằm nâng cao tính tự kê khai của doanh nghiệp… Vì vậy, kết quả
nghiên cứu của La Xuân Đào cũng chỉ mang tính gợi ý cho luận án. Để chỉ ra các
yếu tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế của DNNVV hiện nay, luận án sẽ kết hợp
17
phương pháp nghiên cứu các qui định về quản lý thuế hiện hành và phương pháp
sở đánh giá những hạn chế của DNNVV, các nghiên cứu trước đã chỉ ra được sự
cần thiết phải hỗ trợ phát triển DNNVV.
Thứ hai, nêu được các nội dung cần thiết phải hỗ trợ phát triển DNNVV bao
gồm: hỗ trợ tài chính và phi tài chính. Những giải pháp hỗ trợ phi tài chính bao
gồm: hỗ trợ về nâng cao năng lực quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động,
quản trị chất lượng, nguồn nguyên liệu, cung cấp thông tin về chính sách, thị
trường…. Những giải pháp hỗ trợ tài chính bao gồm: chính sách ưu đãi tín dụng,
chính sách thuế, hỗ trợ vốn thông qua quĩ phát triển doanh nghiệp… trong đó chính
sách thuế là một trong những công cụ quan trọng nhất.
Thứ ba, hệ thống các vấn đề cơ bản về thuế như khái niệm, đặc điểm, cách
phân loại thuế. Khái niệm "chi phí tuân thủ thuế" đã đưa ra tổng hợp các loại chi phí
mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi thực hiện nghĩa vụ thuế. Các nghiên cứu cũng
đã chỉ ra được nhân tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế. Bên cạnh đó, tiêu chí
doanh thu được cho là phù hợp nhất để phân loại doanh nghiệp trong quản lý thuế.
Tuy nhiên, vẫn cón nhiều vấn đề chưa được thống nhất, chưa được hoàn
thiện hoặc chưa được nghiên cứu, có thể nêu ra một số điểm chính sau đây:
Thứ nhất, những nghiên cứu về DNNVV trước đây chưa đi sâu nghiên cứu
định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển DNNVV. Chính sách
thuế mới chỉ được đề cập như là một phần của chính sách tài chính, chưa được
nghiên cứu từ định hướng tới những qui định cụ thể nhằm hỗ trợ DNNVV.
Thứ hai, các nghiên cứu về thuế trước chỉ đứng trên góc độ quản lý Nhà
nước về thuế để nghiên cứu, ban hành các qui định về thuế và quản lý thuế nhằm
mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý. Vì vậy, cần có nghiên cứu đứng trên giác độ
DNNVV để nghiên cứu chính sách thuế hướng tới mục tiêu hỗ trợ phát triển
DNNVV.
Thứ ba, những nghiên cứu về thuế chưa thống nhất được các nhân tố cấu
thành nên gánh nặng thuế và các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí tuân thủ thuế của