Cơ hội và thách thức của Thái Lan trên con đường phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa - Pdf 13

1

Đề bài: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA THÁI
LAN TRÊN CON ĐƢỜNG PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA.

MỤC LỤC Trang
LỜI NÓI ĐẦU: 3
CHƢƠNG I: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TỰ
NHIÊN, XÃ HỘI CỦA THÁI LAN 5
I - Tổng quan về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của
Thái Lan. 5
1. Vị trí địa lý 5
2. Điều kiện tự nhiên 7
3. Điều kiện văn hóa - xã hội 8
4. Vài nét về thể chế chính trị Thái Lan 10
5. Chính sách ngoại giao và vai trò của nó trong việc phát triển kinh
tế Thái Lan trong lịch sử cũng như hiện tại. 12
CHƢƠNG II: VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ THÁI
LAN 19
II - Đặc điểm về tình hình phát triển kinh tế Thái Lan . 19
1. Khát quát tình hình kinh tế Thái lan trong lịch sử. 19
2. Các chỉ số kinh tế Thái Lan 23
III - Một số chính sách kinh tế góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tế Thái Lan. 25
1. Một số chính sách góp phần phát triển kinh tế của Thái Lan 29
2. Tổng kết các đặc điểm kinh tế nổi bật của Thái Lan 29
3. Vai trò của người Hoa trong sự phát triển kinh tế Thái Lan. . 29
4. Tiểu kết. 33
2

DANH MỤC ẢNH Trang
1. Quốc kỳ Thái Lan. 4
2. hiệu Thái Lan. 4
3. Bản đồ đất nước Thái Lan. 6
4. Biểu tình ở Thái Lan. 11
5. Vua Rama V với chính sách cải cách kinh tế (1868 - 1910) 16
6. Người dân đi lại khó khăn trên một con đường bị ngập sâu ở
Bangkok. 44
7. Thủ tướng tạm quyền của Thái Lan Yingluck Shinawatra tới Ủy
ban chống tham nhũng quốc gia.(Nguồn: AFP/TTXVN). 48

DANH MỤC BẢNG
1. Bảng 1.1: Bảng thể hiện chỉ số tăng trưởng kinh tế qua các năm
của Thái Lan. 23
2. Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu các ngành của Thái Lan.
3. Bảng 1.2: Bảng thể hiện sự tăng trưởng của ngành thương mại
Thái Lan. 23
4. Biểu đồ Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Thái Lan (USD)24
5. Biểu đồ XK và NK của Thái Lan qua các năm. 25
6. Bảng 1.3: Tỷ lệ các ngành kinh tế trong nền kinh tế Thái lan 27
7. Bảng 1.4: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 5 năm trở lại đây (1997 -
2002). 35
8. Bảng 1.5: Tốc độ phát triển kinh tế từ năm 2001 - 2006 (%). 35
9. Bảng 2.1: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Thái Lan ba năm
gần đây. 38
10. Biểu đồ xuất khẩu và nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan giai
đoạn 2009 - 2011. 50
11. Bảng 2.2: Kim ngạch buôn bán hàng năm với Việt Nam trong ba

nay đã đạt được những thành tựu đáng tự hào. Tuy nhiên, trước những yêu cầu
mới của đất nước và thách thức của thời đại, không ít vấn đề bất cập đã nảy
sinh, đặc biệt trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để vượt
5

qua những khó khăn đó rất cần đến những chính sách của nhà nước và sự cố
gắng của cả hệ thống kinh tế.
Giữa Việt Nam và Thái Lan đang có rất nhiều điểm khác biệt, nhưng
cũng có rất nhiều điểm tương đồng. Vì vậy việc học tập kinh nghiệm của Thái
lan trong việc tận dụng những điều kiện thuận lợi và khắc phục những khó
khăn nhằm đạt đến mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Chính vì những lý do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài " cơ hội và
thách thức của Thái Lan trên con đường phát triển công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước". để hiểu hơn về kinh tế nước này và bài học cho Việt Nam. CHƢƠNG I: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TỰ
NHIÊN - XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƢỚC THÁI LAN.
I - Tổng quan về điều kiện tự nhiên và văn hóa - xã hội của
Thái Lan.
1.Vị trí địa lý.
Thái Lan là một trong những nước lớn của khu vực Đông Nam Á. Phía
bắc và đông bắc Thái Lan có biên giới giáp với CHDCND Lào, phía tây bắc

gạo.Cao su là nông sản quan trọng thứ hai. Ngoài ra Thái Lan còn chú trọng đến
việc trồng rau quả và hoa xuất khẩu.
2. Điều kiện tự nhiên.
1.1.1. Thuận lợi
Về kiến tạo địa hình, Thái Lan và Việt Nam tương đối giống nhau:
thoai thoải từ Bắc xuống Nam gồm cả vùng rừng núi, trung du, đồng bằng ven
biển. Những con sông lớn đặc biệt là sông Chaophaya (Menan) chạy từ miền
Bắc xuống miền Nam đổ vào vịnh Thái Lan, Mê Công, Hồng Hà là những mạch
máu lớn tạo nên những vực lúa nuôi sống dân cư. Tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển giao thông đường thủy, tưới tiêu cho nông nghiệp.
Môi trường tự nhiên như vậy rất thuận lợicho việc phát triển kinh tế, nhất là
nông nghiệp. Đất đai màu mỡ, diện tích canh tác lớn,thời tiết thuận lợi cho cây
lúa, cây ăn quả, cây công nghiệp nhiệt đới phát triển. Hiện Thái Lan đang phát
triển một nền nông nghiệp hoàn chỉnh với sự đa dạng hóa và chuyên môn hóa
nhiều loại vật nuôi, cây trồng ở mỗi vùng miền trong cả nước và hướng vào mục
tiêu xuất khẩu. Với bờ biển dài gần 2000 km, lại tiếp giáp với 5 nước ( Cam
puchia, Lào, Trung Quốc, Myanma, Malaysia) nên Thái Lan có khả năng phát
triển thành đầu mối giao lưu thương mại khu vực và quốc tế.Như vậy, với những
điều kiện tự nhiên đó, Thái Lan có thể phát triển một nền nông nghiệp hoàn
chỉnh với sự đa dạng hóa và chuyên môn hóa của nhiều loại cây trồng và vật
nuôi ở mỗi vùng miền trong cả nước và hướng vào mục tiêu xuất khẩu.
1.1.2. Khó khăn.
8

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi như vậy, Thái Lan cũng có những điều
mà thiên nhiên không ưu đãi.
Nguồn tài nguyên khoáng sản nghèo nàn của đất nước không cho phép
Chính phủ Thái Lan theo đuổi tham vọng xây dựng nền công nghiệp nặng bằng
mọi giá như nhiều quốc gia khác, mặc dù họ ý thức được vai trò của công
nghiệp nặng đối với sự phát triển kinh tế quốc dân.

triệu người, sống tập trung ở các tỉnh phía Nam, theo Hồi giáo, chủ yếu làm
nghề trồng cây và khai thác mỏ. Cộng đồng người Việt có khoảng 4 - 5 vạn
người, chủ yếu sinh sống ở các tỉnh Đông Bắc, là dân di cư đến trước năm 1945
và phần lớn làm nghề buôn bán nhỏ, làm công ăn lương.
Trong lịch sử Thái Lan từng có chính sách đồng hóa người nhập cư và các
dân tộc ít người khác bằng cả hai biện pháp là đồng hóa cưỡng bức và đồng hóa
tự nhiên. Nhìn tổng thể, có thể thấy rằng quá trình hội nhập của các tộc người ở
Thái Lan diễn ra khá êm ả. Môi trường văn hóa tinh thần của người Thái Lan
tương đối thuần khiết, ít khi có xung đột về văn hóa dân tộc.Có khoảng 95%
người Thái Lan theo đạo Phật. Chỉ có khoảng 4% dân số theo Hồi giáo( chủ yếu
có nguồn gốc Mã Lai) và 1% theo Thiên Chúa Giáo. Chùa chiền thờ Phật của
cộng đồng người Thái từ bao đời nay là trung tâm hội tụ của cộng đồng làng bản
cổ truyền, là nơi linh thiêng của người Thái.
Người Thái là dân tộc chủ thể nên ngôn ngữ Thái trở thành Quốc ngữ cho
toàn dân tộc. Một vài năm gần đây, tiếng anh trở nên phổ biến được sử dụng
trong thương mại, giáo dục và trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Nói tóm lại, mặc dù Thái Lan là một nước đa sắc tộc nhưng không có xung
đột về văn hóa. Dù là người Thái, người Khmer, người à thuôn hay người Karen,
tất cả họ cùng chia sẻ giá trị chung, coi tiếng Thái như một ngôn ngữ chính
trong giao tiếp, giáo dục, hành chính và thương mại. Môi trường văn hóa tương
đối thuần khiết này có lợi cho việc xây dựng bản sắc dân tộc quốc gia Thái Lan.
Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại gọi Thái lan là “Đất nước của
những vị sư áo vàng”. Điều này đã phản ánh vai trò mang nhiều ý nghĩa của tôn
giáo trong đời sống văn hóa xã hội của người dân Thái Lan.
10

Khoảng 95% dân Thái lan theo Đạo Phật, chủ yếu là theo trường phái
Hindu. Đạo Phật và những nghi lễ của Đạo Phật đã đóng một vai trò quan trọng
trong xã hội Thái hơn 700 năm qua.
Từ xa xưa các vị sư đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực

thúc 800 năm tồn tại của chế quân chủ độc quyền ở đất nước này.
Mặc dù hàng loạt các văn bản hiến pháp ra đời song sau hơn nửa thế kỷ
tồn tại, những quan điểm chính trị về một thể chế chính phủ vẫn không thay đổi
như nhà Vua là người đứng đầu lực lượng quân sự và bề trên trong tôn giáo.
Nhà Vua thực hiện quyền lập pháp thông qua quốc hội, thực hiện quyền hành
pháp thông qua nội các đứng đầu là Thủ tướng, và quyền xét xử thông qua tòa
án.
Trong suối 6 thập kỷ qua, nền quân chủ lập hiến ở Thái lan đã tạo nên
một quốc gia hiện đại và thịnh vượng ở Đông Nam Á. Thái Lan đã và đang tiếp
nhận những tư tưởng dân chủ của phương Tây trước đòi hỏi của dân tộc song
vẫn giữ được bản sắc dân tộc và nến văn hóa đáng trân trọng. Gần đây, vào
tháng 6 năm 1992, Hiến pháp đã được sửa đổi có điều luật bắt buộc là Thủ
tướng phải là thành viên quốc hội được bầu chọn.
1.1.4. Khó khăn.
Khủng hoảng chính trị ở Thái Lan diến ra thường xuyên. Ví dụ như cuộc
khủng hoảng tài chính nổ ra từ tháng 7/1997 đã kéo theo sự khủng hoảng của
chính phủ. Nhà vua Thái lần nữa lại khuyên Thủ tướng Chavalit từ chức để mở
đường cho chuan Leekpai - một chính
khách kì cựu, đại diện cho phái dân sự trở
lại nắm quyền vào ngày 7/11/1997.
Trong thời gian gần đây, Thái Lan
lâm vào tình trạng bất ổn định về chính trị,
đặc biệt là từ cuộc đảo chính lật đổ thủ
tướng Thaksin vào tháng 9 năm 2006,
Thái Lan chưa bao giờ thực sự có một
chính phủ ổn định được bầu theo thể thức
dân chủ. Một thực tế khi đề cập đến Thái
Lan là: " lịch sử chính trị Thái Lan luôn
Biểu tình ở Thái Lan
12

xít Nhật vào cuối thế chiến, Thái Lan làm đảo chính vào ngày ngày 1 tháng 8
13

năm 1944 và ngay lập tức chuyển nước Thái từ một đồng minh lỏng lẻo của
Nhật trong một đêm trở thành đồng minh của Mỹ và tiếp tục giữ được độc lập và
hòa bình.
Sau thế chiến, Thái Lan bị đối xử như một quốc gia đối địch bởi Anh và
Pháp, mặc dù Mỹ đã can thiệp để giảm nhẹ các điều khoản trừng phạt Thái Lan.
Thái Lan không bị lực lượng Đồng Minh chiếm đóng, nhưng phải trả lại các
lãnh thổ mà họ đã chiếm đóng trong thời gian chiến tranh cho Anh và Pháp.
Thời kỳ hậu chiến cũng là thời kỳ Thái Lan thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ, như
để bảo trợ Thái Lan khỏi nguy cơ chủ nghĩa cộng sản lan truyền từ các quốc gia
lân bang
Lực lượng du kích cộng sản ở Thái Lan hoạt động tích cực trong khoảng
thập niên 1960 cho tới năm 1987 nhưng chưa bao giờ là một mối de dọa nghiêm
trọng cho chính quyền, tại thời kỳ đỉnh điểm họ đã có đến 12 ngàn du kích quân
trong hàng ngũ.
Thứ nhất, chính sách ngoại giao của Thái Lan trong thời kì cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
1.1.1. Đổi mới bước đầu dưới thời vua Rama III (1824 - 1851).
Những chính sách đổi mới bước đầu được thực hiện từ đầu thời kì
vương triều Chakri, đặc biệt trong thời kì vua Rama III (1824 - 1851). Sức ép
của chủ nghĩa tư bản phương tây đượ coi là một xúc tác lịch sử mạnh mẽ, thúc
đẩy nhu cầu cải cách nội sinh vốn có của Xiêm . Trước áp lực đó, vương quốc
Xiêm đã lựa chọn con đường "mở cửa " với phương tây, canh tân đất nước để
hòa nhập , tìm cơ hội tốt để thích nghi và phát triển.
Vua Rama III đã rất năng động khi lựa chọn chính sách ngoại giao "
lựa chiều" khôn khéo. Ông nhận thấy cần phải có một thực lực rất mạnh mới có
thể chống lại mối đe dọa ngày càng tăng của tư bản phương tây. Do đó, ông đã
tranh thủ tiếp nhận một số thành tựu tiên tiến của phương tây, tiến hành những

của Thái Lan sau này.
1.1.2. Cuộc cải cách của Rama V (1868 - 1910).
15

Sau những cuộc cải cách của những người tiền nhiệm, cải cách của vua
Rama V (1868 - 1910) được coi là cuộc cải cách triệt để và ở trên quy mô lớn
nhất.
Trước cuộc cải cách, Xiêm đã phải kí với phương tây những hiệp ước
bất bình đẳng với các nước phương tây. Xiêm bắt đầu từ hiệp ước Xiêm - Anh
(1855), Nhật Bản bắt đầu từ hiệp ước Mỹ - Nhật (1858). Đó là những hiệp ước
với những áp lực mang tính chất toàn cầu của xu thế phát triển của chủ nghĩa tư
bản. Cũng như Nhật bản, trước áp lực của Phương tây, với chính sách " ngoại
giao pháo hạm" bắt buộc Xiêm kí hiệp ước bất bình đẳng.
Trong cuộc cải cách này, vua Xiêm đã thực hiện mạnh mẽ trên mọi lĩnh
vực, hướng tới mục tiêu hiện đại hóa đất nước, mong muốn rút ngắn khoảng
cách giữa Xiêm với phương Tây, mong muốn Âu hóa, phát triển như các nước
phương Tây. Cũng như Vua Minh Trị của Nhật Bản, những nhân thức ấy đã đưa
cả hai vị vua duy tân lên một tầm cao hơn hẳn các nhà vua phong kiến ở các
nước Châu Á đương thời, họ trở thành những nhà cải cách không chỉ trong khu
vực mà của thời đại, hoàn toàn khác hẳn thái độ " thụ động", "đóng cửa", " tuyệt
giao" với bên ngoài của triều Nguyễn ở Việt Nam, triều Thanh ở Trung Quốc
Những cải cách đó, đã đưa Xiêm thoát khỏi nguy cơ trở thành một nước
bị thực dân phương tây xâm lược thống trị. Với chính sách ngoại giao xuôi chiều
gió, Thái Lan đã thoát khỏi sự đe dọa xâm lược của Anh, ngay từ thời vua
Mongku năm 1855 Xiêm đã quyết định kí hiệp ước thông thương hữu nghị Thái
- Anh. Hiệp ước này đã đi vào lịch sử quan hệ ngoại thương của Xiêm với tên
gọi hiệp ước Bowring. Hiệp ước này mở đường cho Thái Lan ký các hiệp ước
thông thương khác với một loạt các cường quốc sau đó, cho nên đó là mốc khởi
đầu cho quá trình mở cửa của Xiêm. Tuy thành vẫn chưa thoát khỏi nguy cơ
biến thành thuộc địa của Anh nhưng với Thái Lan đó là một thành công lớn. Sự

Nhà nước tăng cường quan hệ với tất cả các nước, tích cực phát huy vai
trò của Thái lan trong khu vực và trên trường quốc tế. Thủ tướng các kỳ đều đi
thăm Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Nhật Bản, Indonesia, Malaysia,
Singapore, Anh Tích cực tham gia các hợp tác khu vực và tiểu vùng (GMS,
ACMECS,EWEC ). Với cương vị của Chủ tịch nhiệm kì ASEAN nhiệm kì
2008 - 2009, Thái Lan đã tổ chức thành công Hội nghị cao cấp ASEAN 14
(27/02 - 10/03/2009). Tuy nhiên, hiện nay, quan hệ Thái Lan - Campuchia còn
nhiều vấn đề nan giải, gây quan ngại cho nhiều nước.
Ngoài việc coi trọng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, quan hệ
hợp tác với các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật, EU Thái Lan cũng rất
chú trọng đến chính sách ngoại giao phục vụ kinh tế, đẩy mạnh thu hút đầu tư,
đẩy mạnh việc tìm kiếm đối tác thương mại nhằm mở rộng thị trường, tăng giá
trị hàng hóa của Thái lan, tạo cơ hội về thương mại cho khu vực tư nhân Thái
Lan.
Về tự do hóa thương mại, Thái lan chú trọng đàm phán thành lập khu
vực tự do thương mại (FTA) với các nước, trong đó đã kí với Nhật, đang đàm
phán với Mỹ, đồng thời tăng cường quan hệ thương mại đa phương trong khôn
khổ WTO.
Chính phủ Thái lan luôn xác định: hướng ra bên ngoài là một yêu cầu
không thể thiếu để phát triển kinh tế quốc gia. Mục tiêu kinh tế đối ngoại Thái
lan có những nội dung sau:
Về chính sách đầu tư: Mở rộng hơn phạm vi đầu tư cho các nhà đầu tư
quốc tế. Những lĩnh vực "bị cấm", chẳng hạn như lĩnh vực tài chính trước kia,
nay các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư.
Tiếp tục khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực kỹ thuật cao
và khuyến khích đầu tư gián tiếp qua việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham
gia nhiều hơn vào thị trường chứng khoán.
Hướng dẫn tạo thêm điều kiện cho các nhà đầu tư Thái lan đầu tư ra
nước ngoài, đặc biệt đầu tư sang các nước láng giềng. Triển khai các dự án đầu
tư trong lĩnh vực năng lượng, giao thông.

Không chỉ trong lịch sử, mà giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu
vực hóa thì chính sách đối ngoại của Xiêm cũng rất rộng mở. Nhà nước mở rộng
19

cửa hội nhập và thu hút đầu tư nước ngoài khiến cho kinh tế phát triển nhanh
hơn bao giờ hết. Tuy vẫn có một số hạn chế nhất định, nhưng nhìn chung, qua
trường hợp của Xiêm ta thấy rằng một chính sách ngoại giao phù hợp cũng giúp
cho kinh tế phát triển mau lẹ.

CHƢƠNG II: VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ CỦA
THÁI LAN.
II - Đặc điểm về tình hình phát triển kinh tế Thái
Lan.
Khác với Việt Nam và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, Thái
lan là nước tiến hành công nghiệp hoa trong môi trường quốc tế khá thuận lợi.
Thái Lan đã hưởng các nguồn lợi gián tiếp trong cuộc chiến tranh Đông Dương
thông qua việc Mỹ sử dụng Thái Lan như một căn cứ quân sự và hậu phương
cung cấp nhu yếu phẩm cho chiến tranh. Các khoản viện trợ không hoàn lại, các
khoản đầu tư lớn từ các nước tư bản phát triển đổ vào đây ngoài mục đích lợi
nhuận trước mắt, phương Tây muốn biến Thái Lan thành "hình mẫu của Mỹ và
thế giới tư bản" ở Đông Nam Á. Chính sự lưu tâm của Mỹ và thế giới tư bản
không những là một yếu tố cực kỳ quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa đất
nước, mà còn có tác dụng củng cố địa vị lâu bền của phái quân sự trong đời sống
kinh tế,chính trị - xã hội của nước này.
1.Khái quát tình hình kinh tế Thái Lan trong lịch sử.
1.1.1.1. Kinh tế Xiêm nửa cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
Sau những hiệp ước kinh tế mà Xiêm ( sau này là Thái Lan) kí với các
nước Phương Tây, cánh cửa Xiêm đã " mở toang''. Nền kinh tế Xiêm bị cuốn hút,
hội nhập ngày càng mạnh mẽ hơn vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới.
Kể từ đầu những năm 60 của thế kỉ XIX trở đi trung bình hàng năm có tới 300

1.1.1.2. Quá trình phát triển kinh tế của Xiêm những năm gần đây.
Thái Lan hiện là một nước công nghiệp mới (trước vốn là nước nông
nghiệp truyền thống). Bắt đầu từ năm 1960, Thái Lan thực hiện Kế hoạch phát
triển Kinh tế - Xã hội lần thứ nhất và đến nay là Kế hoạch 9 (2002-2006).
Những năm 1970, Thái Lan thực hiện chính sách “hướng xuất khẩu”, ASEAN,
21

Mỹ, Nhật Bản, châu Âu là thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan. Ngành công
nghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và vai
trò của nông nghiệp giảm dần. Ngành du lịch cũng đóng vai trò tích cực.
Từ 1985-1996, kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng cao trung bình
gần 9%/năm Nhưng đến năm 1996, tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 5,9%
và sau đó là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 7/1997 làm cho kinh tế Thái Lan
rơi vào tình trạng khó khăn trầm trọng. Chính phủ buộc phải thả nổi đồng Baht:
tỷ giá đồng Baht tháng 1/1998 là 56 Baht = 1 USD (trước là 25,3); mức tăng
trưởng GDP năm 1998 là -10,5%; nợ nước ngoài khoảng 87 tỷ USD; các ngành
sản xuất mũi nhọn như công nghiệp ô tô, dệt, điện tử suy giảm nghiêm trọng;
thất nghiệp gia tăng, tính đến tháng 3/ 1998 đã có tới 2,8 triệu người thất nghiệp,
chiếm 8,8% lực lượng lao động.
Kể từ năm 1998, kinh tế Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Tăng
trưởng đạt 4,2-4,4% vào năm 2000, phần lớn dựa vào xuất khẩu (tăng 20% năm
2000). Năm 2001, mức tăng trưởng bị giảm xuống còn 2,2% do ảnh hưởng của
sự sụt giảm của kinh tế toàn cầu. Nhưng sau đó, kinh tế Thái Lan tăng trưởng
mạnh dưới thời Thủ tướng Thaksin Shinawatra với một số dự án lớn. Từ 2002-
2004, tăng trưởng đạt 5-7%/năm.
Thái Lan xuất khẩu nhiều hơn 105 tỷ đô la hàng năm. Các sản phẩm xuất
khẩu chính bao gồm gạo, hàng dệt may, giầy, dép, hải sản, cao su, nữ trang, ô tô,
máy tính và thiết bị điện. Thái Lan đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo, mỗi
năm xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo tinh chế. Lúa là loại cây lương thực chính được
trồng tại Thái Lan, với 55% đất đai trồng trọt được được sử dụng để trồng lúa.
23
2. Các chỉ số kinh tế Thái Lan.
Bảng 1.1: Bảng thể hiện chỉ số tăng trƣởng kinh tế qua các năm của
Thái Lan .
(Đơn vị: USD). Hình 1.1. Biểu đồ thể hiện cơ cấu các ngành kinh tế của Thái Lan.
(Đơn vị: USD).
24

Bảng 1.2: Bảng thể hiện sự tăng trƣởng của ngành thƣơng mại Thái
Lan.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status