ĐỀ TÀI: CHỮ HÁN Ở BÁN ĐẢO
TRIỀU TIÊN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục tiêu của đề tài
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6. Kết cấu
Chương I: Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán ở bán đảo Triều Tiên
1.1. Sơ lược về chữ Hán
1.2. Lịch sử tiếp xúc với Trung Hoa
1.3. Lịch sử sử dụng chữ Hán ở bán đảo Triều Tiên
Chương II: Sản phẩm của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán trên bán đảo Triều Tiên
2.2. Chữ viết: chữ Nôm Triều Tiên
2.3. Từ vựng: từ vựng gốc Hán
2.4. Đặt tên (người/ địa danh)
Chương III: So sánh lớp từ Hán – Hàn và lớp từ Hán – Việt
Kết luận
NỘI DUNG
Ngót hai ngàn năm nay, chữ Hán, sản phẩm văn hóa độc đáo của dân tộc Trung Hoa
trước sau đã truyền đến bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản cũng như Việt Nam, và được sử
dụng như văn tự chính thức ở những thời kỳ lịch sử nhất định. ở hai địa đầu Đông bắc Á
và Đông nam Á của vành đai văn hóa Hán, Hàn Quốc và Việt Nam, có nhiều mối tương
quan và tương đồng văn hóa rất đặc sắc. Bài viết này cố gắng phác họa lại những đường
nét chính trên bức tranh “chữ Hán ở bán đảo Triều Tiên”, “một khía cạnh của vấn đề so
sánh Hán văn Việt Nam - Triều Tiên - Nhật Bản” mà hiện nay nhiều người đang quan
tâm.
1
Chữ Hán chiếm tỷ trọng cao trong tiếng Triều Tiên: từ vựng Hán do chữ Hán tổ thành, từ
vựng do từ tổ gốc Hán kết hợp với từ vựng vốn có của tiếng Triều Tiên, cộng với từ vựng
Phan Văn Các, Lịch sử sử dụng chữ Hán trên bán đảo Triều Tiên, chí Hán Nôm số 3, năm 1993, tr.1
2
- Giữa trước trái phải sau như chữ tiểu, thuỷ, băng 小 水 氷
- Sổ giữa sau cùng như chữ trung, bán, bình 中 半 平
- Nét ngang sau cùng như chữ nữ, tử, mẫu 女 子 母
Trong bảy quy tắc viết chữ Hán kể trên thì ba quy tắc đầu 4.2.1) Từ trên xuống
dưới 4.2.2) Từ trái sang phải 4.2.3) Từ ngoài vào trong là ba quy tắc cơ bản nhất,
bởi vì rất nhiều chữ Hán trong một chữ chứa đựng đủ cả ba nguyên tắc ấy.
Loại hình chữ Hán
Có thể chia chữ Hán thành hai loại lớn: Loại có kết cấu đơn giản (gọi làVĂN) Loại
có kết cấu phức tạp (gọi là TỰ). Trong chữ Hán chúng ta thấy mỗi chữ (mỗi đơn vị
văn tự xét theo hình thể kết cấu) tương ứng với một âm tiết. Do đó, mỗi chữ có thể
là một TỪ (口 (khẩu): miệng, 手 (thủ): tay), hoặc cũng có thể là một BỘ PHẬN
CỦA TỪ (相 (tương) trong 相談 (tương đàm): thảo luận, trao đổi. Về sự kết hợp
gắn bó chặt chẽ giữa 3 mặt hình thể âm đọc – ý nghĩa trong đó nổi bật nhất là vai
trò biểu đạt ý nghĩa qua hình thể kết cấu. Do tính chất biểu ý nằm ngay trong hình
thể kết cấu của chữ cho nên chữ Hán có khả năng giúp người đọc phân biệt được
những ý nghĩa khác nhau của nhóm từ đồng âm. Cũng do tính chất biểu ý của chữ
Hán cho nên ta thấy ngày nay có nhiều chữ Hán là chứng tích về các mặt sinh hoạt
xã hội, phong tục tập quán của người Trung Hoa cổ xưa. Là một hệ thống chữ viết
cơ bản thuộc loại biểu ý nhưng để thích ứng với sự phát triển ngày càng cao của
ngôn ngữ, chữ Hán được cải tiến phát triển theo hướng biểu âm. Biện pháp chủ yếu
mà văn tự Hán dựa vào để bám sát sự phát triển của ngôn ngữ là tạo thêm từ mới.
Các từ mới này ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu ghi lại những hình ảnh, hoạt
động nảy sinh trong xã hội. Từ con số trên dưới 2000 chữ thời Ân Thương (cách
nay khoảng trên 3000 năm) đến cuối thời Tần Hán, số chữ đã tăng lên tới gần
10.000 và cho tới thời nhà Thanh thì số chữ đã là 60.000 chữ. Ðể nhận thức và sử
dụng hết các từ Hán trên quả là việc khó lòng kham nổi. Nhiều thế hệ người Trung
Quốc trong vòng vài chục năm trở lại đây đã quan tâm đến vấn đề cải cách văn tự.
Họ muốn La tinh hoá chữ Hán tức là sử dụng bộ chữ a, b, c … làm ký hiệu để ghi
và Baekche. Đến năm 668, Silla liên minh với nhà Đường Trung Quốc và nhà
Đường xem Silla lúc này như là một nước chư hầu, phải triều cống cho nhà Đường.
Ban đầu, Silla chinh phục Baekche, sau đó là Goguryeo, lập ra nhà nước Silla
4
thống nhất. Vào thời gian này, chế độ triều cống là con đường quan trọng nâng mức
độ tiếp xúc của Triều Tiên với văn Triều Tiên, đó là học chữ Hán, nghệ thuật, sản
xuất hàng hóa, các học giả Triều Tiên cũng có thể theo học tại các trường Trung
Quốc và các tu viện của Phật giáo
2
. Do vậy Triều Tiên lúc này chịu ảnh hưởng đậm
nét từ văn hóa, chữ viết, bộ máy nhà nước của Trung Quốc.
Từ năm 890 – 935 ở Triều Tiên lại là thời đại Hậu Tam quốc (gồm Silla, Baekje và
Taebong). Và lần này thì các tiểu bang phía bắc, Goryeo, đã thực hiện việc thống
nhất đất nước. Goryeo được thành lập năm 918 bởi Gwang Gon, đã chiến đấu với
triều đại nhà Liêu của Khiết Đan trong cuộc chiến tranh 933 – 1018, đến năm 1022
thì Goryeo lấy lại được tất cả các phần lãnh thổ tranh chấp.
Vào những năm 1100, là thời kì phát triển mạnh mẽ của văn hóa Goryeo. Nó được
đánh dấu bởi một hệ thống chính trị ổn định, chịu ảnh hưởng từ các tổ chức và
phương pháp chính trị của Trung Quốc. Phật giáo vào thời kì này cũng truyền cảm
hứng mạnh mẽ cho những thành tựu về nghệ thuật, đặc biệt là gốm sứ.
Tuy nhiên đến những năm đầu thế kỉ XII thì chính trị trở nên bất ổn định. Giới quý
tộc âm mưu cướp ngai vàng giành quyền kiểm soát chính trị. Đồng thời triều đại
nhà Jin Mãn Châu cũng gây thêm áp lực từ bên ngoài, kích động chia rẽ nội bộ
triều đình. Năm 1231, quân Mông Cổ xâm lược Hàn Quốc với hàng loạt cuộc chiến
khốc liệt, và chinh phục hoàn toàn Goryeo vào năm 1259. Sau đó Goryeo đã thoát
khỏi tầm kiểm soát của Mông Cổ vào năm 1356, nhưng không thể khôi phục các tổ
chức nhà nước hoặc lực lượng quân đội như trước kia. Vì vậy mà vào năm 1392,
nhà nước Goryeo sụp đổ.
Trong suốt thế kỉ XIV, Triều Tiên chịu ảnh hưởng của Tân Nho giáo, một hệ
thống tư tưởng Nho giáo chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo, tạo tiền đề cho
Trong các ghi chép của Trung Quốc, tên "Triều Tiên" được nhắc tới sớm
nhất ở Sử ký của Tư Mã Thiên, với câu chuyện Chu Vũ Vương năm 1122 TCN
phong đất Triều Tiên cho một người tên là Cơ Tử làm nơi lập nghiệp, tách hẳn
khỏi nhà Chu. Nhiều nhà nghiên cứu cho đây không hơn một "truyền thuyết" cũng
giống như chuyện họ Việt Thường ở phía nam Giao Chỉ (khu vực thuộc nước ta
thời cổ) qua ba lần dịch, mang chim trĩ trắng sang biếu cho Chu Thành Vương vào
năm 1110 TCN mà Sử ký cũng từng ghi. Chữ Hán không chắc đã truyền tới bản
3
Exploring Chinese History: East Asia Region (Khám phá lịch sử Trung Quốc: khu vực Đông Á)
http://www.ibiblio.org/chinesehistory/contents/04ear/c03.html
6
đảo Triều Tiên trong thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên, hoặc nếu đã, cũng là
trường hợp rất cá biệt.
4
Chữ Hán thực sự du nhập Triều Tiên, có lẽ là vào cuối thế kỷ II TCN, khi Hán Vũ
Đế diệt Vệ Mãn, chiếm vùng đất phía bắc bản đảo; các nước lớn nhỏ nam bán đảo
hồi ấy như Phù Dư, Cao Cú Lệ, Ma Hàn, Thần Bàn, Biền Hàn cũng lần lượt bị nhà
Hán khống chế. Chế độ quận huyện được thiết lập tại đây, chữ Hán trở thành
phương tiện ghi chép trong công việc hành chính. Triều Tiên lúc này chưa có văn
tự riêng.
Từ thế kỷ I SCN, bán đảo Triều Tiên dần dần thoát khỏi ách đô hộ của nhà Hán và
đến khoảng đầu thế kỷ IV, hình thành 3 nước tự trị là Cao Cú Lệ ở phía bắc và
Tân La, Bách Tế ở phía nam. Chữ Hán, tiếng Hán giờ đây trở thành công cụ trong
tay người bản xứ để ghi chép, xây dựng và phát triển văn hóa. Một tấm bia đá lớn
của Cao Cú Lệ, tấm bia cổ nhất Triều Tiên, phát hiện ở vùng thượng lưu sông Áp
Lục, được viết bằng chữ Hán, ghi lại những chiến công hiển hách của một ông vua
xứ Kugoryô (tức Cao Cú Lệ) lên ngôi năm 391, có nhắc tới mấy nước phía nam
như Bách Tế, Tân La v.v Những luồng người Trung Quốc nhập cư vào Triều
Tiên lúc này ngày một gia tăng, nhiều nhất là khách buôn và học giả. Cùng với
nhu cầu tiếp xúc ngôn ngữ và giao lưu văn hóa Triều - Hán, những người này đã
熊 川 戎 Hùng xuyên châu 熊 戎 Hùng châu
国 戎 Thanh châu 康 戎 Khang châu
Một số quan chức cũng được thay bằng tên gọi theo chữ Hán.
Thí dụ:
chức 大 舍 Đại xá (bộ Binh) đổi thành 国 中 Lang trung
(bộ Lễ) 主 簿 Chủ bạ
舍 知 Xá tri (bộ Binh) 執 事 員 Chấp sự viên ngoại lang
(bộ Lễ) 司 禮 Tư lễ
(bộ Điều 調 ) 司 庫 Tư khố
8
Đồng thời với việc đổi dùng chữ Hán này, âm vận cũng thay đổi. Trong “lại
độc”, chữ Hán chỉ là một ký hiệu, đọc lên vẫn là âm của từ vốn có trong tiếng
Triều Tiên, không liên quan gì với nghĩa chữ Hán.
Cũng từ giữa thế kỷ VIII trở đi bắt đầu diễn ra sự phân lập giữa “lại trát” 吏 国
chuyên ghi lại bút ngữ với “hương trát” ảm 国 chuyên ghi chép khẩu ngữ. Cách
ghi của “lại trát” được phân thành 4 thủ pháp dịch âm, dịch ý, đồng âm dị nghĩa và
nửa nghĩa nửa âm như đã trình bày trên đây, còn “hương trát” thì về cơ bản chỉ
dùng 2 thủ pháp dịch âm, dịch ý mà thôi. Đối tượng ghi chép của “hương trát “là
“hương ca” 鄉 歌 , với ý nghĩa là dân ca Triều Tiên (trong cổ ngữ, 鄉 hương theo
quan niệm của các văn nhân Triều Tiên lúc bấy giờ sùng chuộng văn hóa Hán, nên
coi Trung Quốc là 城 thành, coi nước mình là hương, trong sự đối lập thành /
hương bằng văn minh / quê mùa).
I.2.4. Giai đoạn thứ tư: từ giữa thế kỷ XV đến 1945: kết hợp ngoại văn với chữ Hán
Năm 1444, người Triều Tiên đã sáng chế ra văn tự của chính mình - “huấn
dân chính âm” (訓 民 正 音, 훈민정음) , tức là chữ cái Triều Tiên. Chữ cái Triều
Tiên được sáng tạo theo nguyên lý “tam tài: thiên - địa - nhân” bằng cách mò
phông các nét của chữ Hán, vì thế, chữ Triều Tiên trên thực tế là thứ chữ vuông tổ
thành bằng chữ cái phiên âm. Về quy tắc viết, nó cũng gần giống chữ Hán, có thể
viết dọc, có thể viết ngang, cũng có thể viết xiên. Về nghệ thuật thư pháp, nó cũng
chú trọng các thể khải thư, hành thư, thảo thư.
- Quá trình: là quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa 2 nướcTrung Hoa và Triều Tiên.
- Mức độ: là sự tiếp xúc bộ phận về văn hóa cũng như trong ngôn ngữ.
Chương II: SẢN PHẨM CỦA QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC NGÔN NGỮ HÁN TRÊN
BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN
2.1. Chữ viết: chữ Nôm Triều Tiên (Hán tự - hanja, 한 한/한한한한 , 漢 字/韓文
漢字)
2.1.1. Hán tự
Hanja là cách viết Hán tự ở Hàn Quốc, hơn thế nó còn để chỉ những chữ chữ
Hán được vay mượn từ Trung quốc nhưng có chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ
5
Phan Văn Các, Lịch sử sử dụng chữ Hán trên bán đảo Triều Tiê, Tạp chí Hán Nôm số 4/1993
10
Hàn Quốc với cách phát âm của người Hàn. Bởi vì chữ Hán được du nhập vào
Hàn Quốc là kiểu chữ Hán truyền thống, nên hanja gần như giống hoàn toàn
với chữ Hán truyền thống, chỉ một phần nhỏ hanja là thay đổi theo kiểu của
tiếng Hàn Quốc. Trong khi đó, nhiều chữ Hán được dùng trong tiếng Nhật
(Kanji – Một ký tự kanji có thể được dùng để viết một hoặc nhiều từ khác
nhau, kanji cũng có một hoặc nhiều cách đọc khác nhau), hay Đài Loan, Hồng
Kông thì đã được đơn giản hóa, trở thành chữ Hán giản thể, còn ít nét hơn so
với hanja.
Mặc dù bộ chữ cái Hàn Quốc Hangul được tạo bởi vua Sejong và nhóm
học giả từ khoảng thế kỉ 15, nhưng không được sử dụng rộng rãi cho đến cuối
thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Bởi vì, vào thời gian đó, biết đọc và viết hanja mới
được xem là biết chữ ở Hàn Quốc. Hầu như toàn bộ tác phẩm văn học cũng
như tài liệu ở Hàn Quốc lúc bấy giờ đều được viết bằng hanja. Ngày nay thì
khác, chỉ những học giả muốn nghiên cứu sâu về lịch sử Hàn Quốc mới cần
học hanja để tìm hiểu từ những tài liệu lịch sử. Còn nhìn tổng quát, việc học
một lượng lớn hanja giúp ích trong việc hiểu những từ được ghi bởi chúng
(tên địa danh, tên người). Hanja không dùng để viết những từ gốc Hàn mà có
thể ghi bằng hangul, thậm chí những từ gốc Hán – hanja-eo ( , 漢字語)
viết những từ thuần Nhật và gairaigo (những từ không phải là từ Hán – Nhật,
cũng không phải từ thuần Nhật).
Từ thế kỉ 15 đến thế kỉ 20, trong văn bản hỗn dung Hán – Hàn, hanja được
dùng với bất cứ từ nào có thể (cho tất cả các từ Hán – Hàn), và hangul chỉ được
bổ sung để làm phụ tố mang ý nghĩa ngữ pháp và những từ thuần Hàn
Dùng hangul để viết từ Hán – Hàn chỉ phổ biến từ thế kỉ 20. Những năm 70
của thế kỉ 20, có nhiều sách báo được viết theo kiểu hỗn dung Hán – Hàn, nhưng
cũng có những bản in chỉ có hangul. Những văn bản hiện nay, dù có từ Hán –
Hàn nhưng cũng không dùng hanja để viết nữa. Ngày nay, sự chuyển đổi ấy đã
đạt đến mức hầu như các văn bản chính thức ở Hàn Quốc không còn sự xuất hiện
của hanja. Hanja chỉ còn được viết ở tiêu đề của một số mặt báo, dùng để làm rõ
12
nghĩa hoặc viết tắt cho từ nào đó (ví dụ, 日 il để thay cho 日本 ilbon, “Nhật
Bản”), hoặc ở một số tác phẩm văn học.
Dưới đây là một đoạn trong Hiến pháp Hàn Quốc, bản thứ nhất được viết bằng
hangul, bản thứ 2 viết theo lối hỗn dung Hán – Hàn
Bản 1:
3·1
4·19 ,
· , ,
· · ·
, ,
,
1948 7 12 8
.
1987 10 29
Bản 2:
前文
Từ Hán – Hàn được ước tính là chiếm khoảng 60% tổng lượng từ vựng của
tiếng Hàn. Vùng Bắc Triều Tiên đã cố gắng thay thế nhiều từ Hán – Hàn bằng
những từ thuần Hàn, tuy nhiên vẫn còn một lượng lớn từ Hán – Hàn được sử
dụng rộng rãi ở đây.
Nguồn gốc từ Hán – Hàn
Nhiều từ Hán – Hàn được du nhập vào từ văn thơ Trung Quốc. Tuy nhiên,
cũng cần nhớ rằng, trong thời gian Nhật chiếm đóng Hàn Quốc, có nhiều từ Hán
– Nhật đã được du nhập vào, tuy nhiên chúng lại được viết lại bằng hangul và
phát âm theo cách phát âm của Hàn Quốc.
Ngày nay, hầu hết các từ Hán – Hàn đều có nghĩa khác với tiếng Trung Quốc.
Điều này do nhiều tác nhân khác nhau, như việc vay mượn từ Nhật Bản, sự thay
đổi nghĩa Hàn Quốc từ gốc từ Hán, hay do người Hàn tự sáng tạo ra từ mới.
Bảng dưới đây cho thấy một số từ có thể giống cũng có thể khác giữa tiếng
Hàn, Nhật và Trung Quốc
Hangul Hanja Nhật Bản
(Shinjitai/Kyujitai
Trung Quốc
(giản thể/phồn
Nghĩa
15
) thể)
(ilgi)
日氣 天国/天氣 天氣/天国
Thời tiết
(jadongcha)
自動車 自動車 汽車/汽国
Ô tô
(daetongnyeon
国師/国者,醫師/
醫者
醫生 /国生 ,大
夫 (国国)
Bác sĩ
(sikmo)
食母 下女
女傭 /女国 ,女
国
Người hầu
gái
(hyuji)/
(haeji)/
(choi-so)
休 止 / 解
止
禁止,取消 阻止/取消
Hủy bỏ
(gongbu)
工夫 勉国,国習/學習 學習/国国
Học
(gonghang)
空港 空港
機場 /机国 ,航
空港
Sân bay
(bihaenggi)
飛行機 飛行機 飛機/国机
映畵 映国/映畵 電影/国影
Phim
(jiweon)
支援 国国/對應 支援
Chi viện
Một vài từ Hán – Hàn có nguồn gốc từ kun'yomi trong tiếng Nhật – đó là
những từ gốc Nhật Bản được viết bằng chữ Hán. Khi vào Hàn Quốc, những chữ
này cũng được gọi là chữ Hán – Hàn (trong khi ở Nhật, những chữ thế này không
gọi là chữ Hán – Nhật mà chúng được xem như những từ gốc Nhật Bản)
17
Nhật Bản Hanja Hangul Trung Quốc Nghĩa
組み立て
kumi-tate
zǔhé
組立
jorip
조립
jorip
組合/国合
zǔhé
Lắp ráp
建物
tate-mono
建物
geonmul
건물
geon.mul
建築物/建筑物,樓宇/国宇
jiànzhùwù/lóuyǔ
Tòa nhà
Hán- Hàn
Ví dụ: 歌- ca - (ga) 缺 - kết - (gyol)
貴 - quí - (gwi) 觀 - quan- (gwan)
家- gia - (ga) 開- khai - (gae)
Các phụ âm đầu D,M,V trong từ Hán- Việt tương ứng với phụ âm đầu trong từ
Hán-Hàn
- Phụ âm đầu D tương ứng với phụ âm đầu từ Hán Hàn và một số trường hợp
tương ứng với nguyên âm y- và trong từ Hán Hàn.
Ví dụ: 謠- dao – (yo) 譯 - dịch- (yeok)
名- danh- (myeong) 民 – dân – (min)
- Phụ âm m trong tiếng Hán- Việt tương ứng với phụ âm trong từ Hán- Hàn
Ví dụ: 魔- ma – (ma) 木 – mộc - (mok)
- Phụ âm V trong từ Hán- Việt tương ứng với phụ âm ,hay âm W – hay y- trong
từ Hán – Hàn
Ví dụ: 王- vương- (wang) 文- văn – (mun)
Phụ âm đầu Đ trong từ Hán-Việt tương ứng với phụ âm đầu , , trong từ Hán-
Hàn
Ví dụ: 談- đàm - (dam) 特- đặc- 특(theuk)
定- định- 정(jeong)
Phụ âm đầu H trong từ Hán- Việt tương ứng với phụ âm đầu trong từ Hán- Hàn
Ví dụ: 花 - hoa- (hwa) 鶴 - học – (hak)
19
Phụ âm đầu L trong từ Hán- Việt tương ứng với phụ âm đầu trong từ Hán- Hàn
Ví dụ: 大路- đại lộ - 한(dae lo) 獨立- độc lập- 한( doknip)
Phụ âm đầu N trong từ Hán- Việt tương ứng với phụ âm trong từ Hán- Hàn
Ví dụ: 男 – nam- ( nam) 年 – niên- (nyeon)
Phụ âm đầu nh, ngh,ng trong từ Hán- Việt tương ứng với phụ âm đầu trong từ
Hán- Hàn
Ví dụ: 忍- nhẫn- (in) 業- nghiệp – (op)
愚- ngu- (u)
ví dụ: 東-đông- (dong) 農- nông- (nong)
- Nguyên âm o tương ứng với nguyên âm , ,
ví dụ: 房 - phòng- (bang) 玉- ngọc- (ok)
重 - trọng – (jung)
- Nguyên âm â tương ứng với nguyên âm , ,
ví dụ: 心- tâm- ( sim) 吸- hấp- (hup)
21
晙- chuẩn – (jun)
Nguyên âm kép
- Nguyên âm iê, yê tương ứng với ,
Ví dụ: 点- điểm- (jeom) 傳- truyền- ( jeon)
- Nguyên âm uô tương ứng với , ua tương ứng với , ươ tương ứng với , , oa
tương ứng với oai tương ứng với , , ôi tương ứng với , ai tương ứng với , ao, iêu
tương ứng với ,( ), âu tương ứng với , uâ tương ứng với , , uê tương ứng với
( ).
Ví dụ: 光-quang- (gwang) 口 -khẩu – (gu)
道- đạo- (do) 海- hải- ( hae)
3 . 1. 3. So sánh phụ âm cuối:
Phụ âm cuối c,ch tương ứng với âm , m tương ứng với , ng, nh tương ứng với ,
p tương ứng với , , t tương ứng với
Ví dụ: 惡 -ác – (ac) 敵- địch- ( jeok)
音- âm- (eum) 羊 - dương- (yang)
法- pháp- (beop) 蜜 - mật-밀( mil)
Tóm lại :
Bảng tương ứng giữa phụ âm của từ Hán Việt và từ nguyên âm của từ Hán- Hàn
Hán – Việt Hán - Hàn Hán- Việt Hán – Hàn
B-, ph- -, Nh,nh,ngh -
D- -, y V- -
Đ- -, - Ch- -
H - - S- -, -, -
- ,
-n
-
-t
-
3.2. So sánh cấu tạo từ Hán-Hàn và từ Hán –Việt
Từ Hán-Hàn và từ Hán- Việt đều có những đặc trưng riêng của nó. Từ Hán-Hàn
và Hán –Việt đều được khu biệt với những từ ngoại lai khác. Phần lớn các thuật ngữ
chính trị, kinh tế, khoa học , nghệ thuật, tôn giáo là từ Hán-Hàn trong tiếng Hàn và từ
Hán-Việt trong tiếng Việt
Khác với từ Hán-Việt, những từ Hán-Hàn chủ yếu sử dụng những danh từ và những danh
từ này có thể trở thành động từ, tính từ bằng cách thêm < (ha da), (doe da), ,
(jis da)>, Phương thức này có khả năng khu biệt từ loại bằng hình dạng ngoài của từ.
Ngược lại, trong tiếng việt, có hiện tưởng chuyển loại bên ngoài (vấn đề cấu tạo từ tiếng
việt Hồ Lê 1976), mỗi động từ, tính từ có khả năng có một danh từ tương ứng bằng cách
kết hợp các yếu tố ngữ pháp như <việc, cái, sự, nỗi, niềm>
23
Ví dụ:
Chữ hán Từ Hán-hàn Từ Hàn-Việt
Danh từ Động từ, tính từ Danh từ Động từ,tính từ
發展
(bal jeon) - ( ha da) Sự phát triển Phát triển
鬪爭
(tu jaeng) - ( ha da) Sự đấu tranh Đấu tranh
善
( seon) - ( ha da) Điều thiện Thiện
3.2.1. So sánh từ đơn Hán –Hàn và từ đơn Hán việt
- Từ đơn Hán- Hàn và từ đơn Hán Việt đều là những từ thường dùng.
- Từ đơn là một âm tiết độc lập hoặc là một hình vị có tính độc lập và các từ đơn được
dùng làm yếu tố cấu tạo từ phức.
九
Cửu
(jo)
兆
Triệu
Đơn vị từ
(gwon)
券
Quyển
(jang)
張
Trang
(geun)
斤
Cân
(hang)
項
Hạng
24
(beon)
蕃
Phiên (yang)
量
Lượng
(haeng)
行
Hàng (jo)
條
Điều
Khác biệt lớn nhất là từ đơn Hán –Hàn chủ yếu danh từ có tính độc lập còn từ đơn
khoa Danh từ, một yếu tố
價
(ga)
giá Một yếu tố tạo từ phức
25