Đề tài luận văn quan hệ quốc tế ở Đông Á - Pdf 13

ĐỀ TÀI:
QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG Á
I)Bố cục chuyên đề
Phần thứ 1
Nhập môn về Quan hệ Quốc tế
- Khái niệm về QHQT
- Tính chất của bộ môn QHQT
- Nhiệm vụ của bộ môn QHQT
- Phương pháp nghiên cứu QHQT
Phần thứ 2
Lịch sử quan hệ quốc tế ở Đông Á
Chương Một:
QHQT thời cổ đại:
Giao lưu và tiếp nhận văn hoá
Chương Hai:
QHQT thời trung đại:
Chiến tranh và xung đột.
Chương Ba:
QHQT thời cận đại:
- CNTB phương Tây và Đông Á
- NB duy tân và QHQT ở Đông Á
- CTTG và QHQT ở châu Á.
Chương Bốn:
QHQT thời hiện đại:
- Quan hệ quốc tế ở châu Á thời “chiến tranh lạnh”.
- Quan hệ quốc tế ở châu Á sau “chiến tranh lạnh”
II) Tài liệu học tập
- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các đại hội VIII, XIX và dự thảo
báo cáo đại hội X, phần nhận định về tình hình thế giới và chính sách đối
1
ngoại.

của các nhà nước và cộng đồng tộc người.
* Khi CNTB ra đời, thực hiện chính
sách thực dân, xâm lược các nước khác trên phạm vi toàn cầu thì
không gian
của quan hệ quốc tế đã được mở rộng trên phạm vi toàn thế giới.
* Ngày nay, nhân loại đang bước vào thiên niên kỷ mới, QHQT đang trở thành
một trong những quan hệ xã hội cơ bản của con người và loài người. Mối quan
hệ quốc tế trên các lĩnh vực đang và sẽ tác động lớn tới các quan hệ xã hội
trong mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng, thậm chí tới mỗi cá nhân con người.
Như vậy, QHQT ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, biến đổi mau
lẹ, đòi hỏi phải được nghiên cứu có hệ thống, cơ bản, với tính cách là một bộ
môn khoa học tương đối độc lập, từ đó tìm ra những quy luật chi phối quá trình
vận động, biến đổi của các chủ thể và các mối quan hệ cơ bản trong đời sống
quốc tế: QHQT ra đời.
Về mặt học thuật, sự hình thành bộ môn QHQT như sau:
Các bộ môn khoa
học truyền thống tức là các chuyên ngành riêng biệt - discipline. Discipline tức
là một lĩnh vực hiểu biết, một vấn đề nghiên cứu hoặc trao đổi, một chuyên
ngành ở trường ĐH. Ví dụ như Chính trị học, Kinh tế học, Lịch sử học, Xã hội
học, Nhân học, Tâm lý học…IR là môn nghiên cứu đa ngành Multi-Discipline
hay liên ngành Inter-Dicispline.
Sự hình thành IR như là một bộ môn được giảng dạy trong các trường
ĐH thế giới, trước hết là ở Anh-Mỹ như sau:
Môn khoa học chuyên biệt
Discipline
Quan hệ quốc tế
International Relations
Chính trị học
Political Sciences
Chính trị học quốc tế Inter-Politics

đối sách quan hệ cụ thể và đa dạng là biểu hiện của lập trường giai cấp, lợi ích
giai cấp và theo đuổi một mục tiêu chính trị nào đó. Chính vì vậy, khi nghiên
cứu quan hệ quốc tế, các hoạt động và đối sách, các chủ trương chiến lược và
4
sách lược của các chủ thể trong quá trình giải quyết các mối quan hệ quốc tế,
chúng ta trước hết và luôn luôn chú ý đến tính chính trị của nó.
-
Tính lịch sử của IR thể hiện ở chỗ các mối quan hệ quốc tế luôn gắn liền và
có mối liên hệ với các hiện tượng, các sự kiện phong phú và đa dạng khác
trong dòng chảy lịch sử, sự vận động, biến đổi xã hội chung của loài người.
* Một hiện tượng, một sự kiện, một mối quan hệ quốc tế cụ thể đang diễn ra
đều là sự tiếp tục hoặc là hệ quả của quá khứ và đang vận động theo một xu
hướng nhất định tới tương lai.
* Các vấn đề, các sự kiện, các hiện tượng, các mối QHQT là một quá trình lịch
sử hình thành, vận động, biến đổi và phát triển.
Tính lịch sử của khoa học QHQT đòi hỏi các vấn đề mà nó phản ánh phải đảm
bảo được tính khách quan, chân thực, chính xác, không chủ quan, áp đặt,
phiến diện.
II. NHIỆM VỤ CỦA IR
1. Nhiệm vụ IR
Trên cơ sở xác định rõ đối tượng nghiên cứu, hệ thống các phạm trù,
khái niệm và những tính quy luật quan hệ quốc tế. IR có những nhiệm vụ
nghiên cứu chủ yếu sau đây:
-
Thứ nhất, nghiên cứu sự hình thành, vận động, biến đổi của các chủ thể
trong đời sống quốc tế.
IR luôn đặt chủ thể trong mối liên hệ, quan hệ tác động lẫn nhau với các
chủ thể khác và trong bối cảnh quốc tế

mà chủ thể ra đời, tồn tại và biến đổi.

biến động của đời sống quốc tế.
IR chú ý đến tình hình quan hệ quốc tế đang
diễn ra trên thế giới, nghiên cứu các đối sách, các chiến lược, sách lược, quan
điểm, chủ trương, nhiệm vụ, đối ngoại của các chủ thể.
Đặc biệt là quan điểm,
chính sách và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đối với các chủ
6
thể quan hệ quốc tế trong các giai đoạn, thời kỳ lịch sử đã qua.
.
2. Phạm trù, quy luật trong nghiên cứu QHQT
a- Hệ thống phạm trù
IR có hệ thống các phạm trù, khái niệm, các quy luật và những vấn đề có tính
quy luật đặc thù.
* Phạm trù cơ bản của IR là phạm trù
Quan hệ giữa các quốc gia có chủ
quyền.
Phạm trù
Quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền
chỉ ra mối liên hệ cơ
bản, chủ yếu trong quan hệ quốc tế. Nó nghiên cứu và làm rõ mối quan hệ của
chủ thể chính, quan trọng nhất trong các chủ thể cấu thành đời sống quốc tế.
IR nghiên cứu quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền không phải với tư cách
là một thực thể độc lập tách rời với bối cảnh và các mối liên hệ quốc tế. Sự vận
động, biến đổi, phát triển của các quốc gia có chủ quyền được xem xét trong
quan hệ tác động qua lại của nó đối với các chủ thể khác và đặt trong giới hạn
không gian, thời gian của bối cảnh thế giới trong giai đoạn lịch sử nhất định.
Phạm trù này phản ánh một quan hệ rất cơ bản của đời sống con người,
đó là quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trong cộng đồng quốc tế.
* Một phạm trù rất quan trọng của IR là
Trật tự thế giới

quan hệ song phương, quan hệ đa phương, hiệp ước, lễ tân, lễ nghi ngoại
giao
.
Nắm vững hệ thống phạm trù cơ bản của IR là công cụ cơ bản để người
nghiên cứu, học tập có thể tiếp cận và nhận thức sâu sắc bản chất các mối
quan hệ quốc tế từ các hiện tượng phức tạp, biến động của tình hình.
b- Quy luật của QHQT
*
Trước hết đó là vấn đề đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia dân tộc trong giải
quyết các quan hệ quốc tế
.
Điều này xuất phát từ vị trí của quốc gia dân tộc là chủ thể cơ bản,
xuyên suốt của quan hệ quốc tế. Mọi quan hệ quốc tế, suy đến cùng phải thông
qua quan hệ giữa các quốc gia dân tộc. Lợi ích quốc gia dân tộc là lợi ích cơ
bản nhất, là cơ sở để giải quyết và thực hiện các lợi ích khác trong quan hệ
quốc tế. Mặc dù các giai cấp khác nhau có quan điểm khác nhau về lợi ích dân
8
tộc, song giai cấp cầm quyền bao giờ cũng biến lợi ích của mình thành lợi ích
dân tộc và trong quan hệ quốc tế các giai cấp đó đều nhân danh đại biểu cho
dân tộc và theo đuổi lợi ích dân tộc phù hợp với quan điểm và lợi ích giai cấp
của mình.
* Q
uy luật về sự thích ứng của chiến lược đối ngoại của mỗi chủ thể với đặc
điểm tình hình xu thế quan hệ quốc tế và trật tự thế giới.
Mỗi chủ thể quan hệ, trong đường lối, chiến lược, chính sách đối ngoại
của mình đều phải căn cứ vào đặc điểm tình hình thế giới, xu thế quốc tế trong
giai đoạn lịch sử tương ứng. Đây là cơ sở hiện thực khách quan để từ đó hoạch
định đường lối, chính sách và các hoạt động đối ngoại phù hợp. Việc đề ra
đường lối, chính sách đối ngoại có đúng đắn và hiệu quả hay không, một mặt
phải xuất phát từ tình hình của đất nước, đồng thời phải căn cứ vào tình hình

phương pháp luận của chủ nghĩa Marx, đứng trên lập trường dân tộc Việt Nam,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới hiện nay khi xem xét các vấn đề QHQT.
- C
hức năng thời sự
Trong đời sống quốc tế hiện đại, hàng ngày, hàng giờ diễn ra biết bao
sự kiện lớn trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Bám sát sự biến đổi của thời đại
và của mỗi chủ thể, IR thông tin một cách kịp thời, tương đối có hệ thống
những sự kiện quốc tế nổi bật đang diễn ra với sự phân tích sâu sắc và nhận
định xác đáng. Sự phản ánh các sự kiện quốc tế có tính thời sự đó làm cho nội
dung lý luận của bộ môn luôn được đổi mới, tạo cho nó có tính hấp dẫn, sinh
động và mới mẻ, giúp cho người học có nhận thức nhanh, nhạy, theo kịp sự
biến đổi của cuộc sống; đồng thời kích thích nhu cầu ham hiểu biết, sự quan
tâm đến các vấn đề quốc tế và tính tích cực chủ động của họ tham gia vào hoạt
10
động chính trị.
-
Chức năng dự báo khoa học
IR có chức năng dự báo khoa học bởi nó đưa ra được những phán đoán,
nhận định về khả năng sẽ diễn ra trong sự vận động của các chủ thể và mối
quan hệ quốc tế theo những xu thế tất yếu khách quan.
Khi phân tích, đánh giá một chủ thể hoặc một mối quan hệ quốc tế nào
đó, IR khảo sát chúng trong một quá trình: hình thành, tồn tại, biến đổi và phát
triển, cả quá khứ và hiện tại, nhìn thấy sự tác động của bối cảnh quốc tế tới
mỗi quá trình đó và cả sự tác động trở lại của nó tới các chủ thể khác và bối
cảnh quốc tế nói chung. Từ sự hiểu biết đầy đủ và đúng đắn thực trạng của các
chủ thể, cho phép đưa ra những dự báo khoa học của nó.
Dự báo khoa học về xu thế quan hệ quốc tế là một căn cứ quan trọng để
chủ thể chủ động đề ra chiến lược đối ngoại thích hợp.
2. Phương pháp nghiên cứu

học, xã hội học, dân tộc học
(Tham khảo: Các lý luận về IR trên thế giới)
Chủ nghĩa hiện thực

Realism


+ Chủ nghĩa hiện thực mới

Neorealism

+ Chủ nghĩa hiện thực kinh điển mới

Neoclassical Realism

Chủ nghĩa ý tưởng

Idealism

Chủ nghĩa tự do

Liberalism


+ Lý luận tương tác lẫn nhau
+ Lý luận về thể chế
+ Chủ nghĩa chế độ tự do mới

Neoliberal Institutionalism


English school

12
Phần thứ 2
LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG Á
Chương Một
QHQT Ở ĐÔNG Á THỜI CỔ ĐẠI
- Sự truyền bá và tiếp nhận văn minh-
I. Các nền văn minh phưong Đông
1.Trung Quốc
- Văn minh Trung Quốc: gần 5000 năm
Hạ:Nghiêu(2356-2255TCN;
Thương-Ân:Thuấn(2255-2205 TCN).
Chu với Văn vương, Võ vương.
Xuân Thu (722-479 TCN)
Chiến Quốc (478-221).
Năm 221 TCN (thế kỷ III TCN) nhà Tần

:thống nhất đất nước, lập nên một
đế quốc cổ đại hùng mạnh nhất ở châu Á. Từ đó về sau các triều nhà Hán

,
Tam Quốc, Nam Bắc Triều, Tùy, Đường.
- Văn minh TQ với “bảo vật” là chữ Hán, Nho giáo, chế độ luật lệnh truyền bá
sang châu Á.
Và đó là dòng chính của QHQT ở phương Đông thời cổ.
2. Văn minh Ấn Độ
- Â Đ có nền văn minh lâu đời: có ảnh hưởng sâu sắc tới các nước Đông Á và
ĐBÁ.
Triều Tiên

- TKI: Đã có giao lưu TQ-TT-NB:
*Hán thư
漢書東夷伝
:“người lùn”
倭人
(wajin).
*Hậu Hán thư
後漢書
:Nụy-nô
倭奴
,cử sứ đến “triều cống”
朝貢
nhà Hán và
được vua Quang Vũ nhà Hán ban cho một cái ấn vàng (đã tìm thấy ở Kyushu


).
*Tam quốc có Giao lưu Ngụy-NB: Ngụy chí
魏志倭人伝
có Yamatai
邪馬台国
.
Nữ vương Himiko
卑弥呼
. Nữ vương được nhà Ngụy ban cho ấn vàng có khắc 4
chữ “Thân Ngụy Nụy vương”
 親魏倭王
.
- Vương quốc Yamato
大和

Như vậy, trong thời cổ đại, trào lưu chính trong quan hệ của các nước
phương Đông là sự truyền bá(TQ,ÂĐ,TT) và tiếp nhận văn minh(NB,ĐNÁ).
Trong thời kỳ này, tuy trong nội bộ các nước phương Đông luôn có những xung
đột nhưng quan hệ QT ở phương Đông chủ yếu là quan hệ giao lưu, truyền bá
văn hóa, kỹ thuật và xác lập các quan hệ ngoại giao giữa các nước.
15
Chương Hai
QUAN HỆ QUỐC TẾ PHƯƠNG ĐÔNG THỜI TRUNG ĐẠI
- Những cuộc xung đột và chiến tranh-
I. Các cuộc xung đột ở khu vực phương Đông
Như phần trên đã trình bày, ở thời Cổ đại, quan hệ giữa 3 Trung-Triều-
Nhật ít có sự xung đột lẫn nhau, ngoại trừ xung đột trong nội bộ Triều Tiên và
Trung Quốc. Tuy nhiên, sau khi nhà Đường của TQ sụp đổ thì những cuộc xung
đột lan rộng ở Trung Quốc, lan sang cả TT và lôi cuốn Nhật Bản vào vòng xoáy
của sự xung đột này.
Ở Trung Quốc sau khi nhà Đường

sụp đổ (907) thì Trung Quốc rơi vào
tình trạng loạn lạc và cứ kéo dài. Lịch sử Trung Quốc gọi là thời kỳ Ngũ Đại
Thập Quốc
五代十 国
kéo dài 53 năm (907-960). Đó là sự xung đột giữa nhà
Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Đây cũng là thời kỳ trỗi
dậy của các bộ tộc phương Bắc Trung Quốc. Trong đó chủ yếu là sự trỗi dậy
của bộ tộc Khiết Đan
契丹
(Khitan). Khiết Đan là một bộ tộc du mục, hết sức
thiện chiến, sống chủ yếu ở phía Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên ngày
nay. Khi nhà Đường suy yếu họ đánh chiếm một bộ phận Đông Bắc Trung Quốc
và thiết lập một nước Khiết Đan. Nước này nhiều lần xâm nhập sâu vào nội địa

渤海
(Parhae) làm cho quan hệ khu vực phức
tạp hơn. Lợi dụng cuộc nổi dậy của người Khiết Đan, một vị tướng Koguryo bị
nhà Đường cầm tù đã trốn tù, chỉ huy một đạo quân, đánh chiếm một khu vực
rộng lớn trong lãnh thổ cũ của vương quốc Phù Dư
扶 余
(Puyo) bị Koguryo
chiếm. Cư dân ở vùng này gồm người TT, Khiết Đan và người Nữ Chân
女真
(về
sau thành người Mãn Châu
満州
). Sự ra đời của Bột Hải có ảnh hưởng to lớn
đến TT thống nhất, vì sau khi Shilla đánh đuổi nhà Đường để thống nhất toàn
bộ bán đảo TT thì lãnh thổ bị thu hẹp hơn trước nhiều.
Sau khi thống nhất TT, Shilla đã nhanh chóng cải thiện quan hệ với TQ và
NB. Đối với nhà TQ, TT thiết lập quan hệ thân thuộc. Đối với NB, TT đã cử sứ
đoàn sang NB thiết lập quan hệ hữu hảo. Tuy nhiên, do NB thiết lập quan hệ
buôn bán với Bột Hải nhưng Shilla lại thực thi chính sách thù địch với vương
quốc này nên quan hệ Shilla và NB bị gián đoạn.
Mặc dầu Shilla đã thống nhất TT nhưng trong nước hậu duệ của hai vương
quốc cũ là Koguryo và aPaekche không ngừng nổi dậy chống lại. Năm 918,
Wang Kon
王建
(Vương Kiến), một tướng của vua Hậu Koguryo nổi lên lật đổ
chủ mình và tự lên ngôi, đổi tên nước là Koryo
高麗
(Cao Ly). Vua Hậu Paekche
cũng nổi dậy, tấn công đánh chiếm kinh đô Shilla, giết chết vua. Vua mới của
Shilla cầu cứu Koryo và nhân cơ hội đó Wang Kon đem quân chiếm Shilla, tiêu

chiến dịch thôn tín Koryo. Mông Cổ lôi kéo, mua chuộc, liên minh với Koryo để
chống lại các thế lực khác trên lãnh thổ Trung Quốc và bằng cách đó người
Mông Cổ đã từng bước lệ thuộc nước Koryo vào mình.
Từ 1259 trở đi, Mông Cổ trực tiếp chi phối Koryo đặt các quan lại người
Mông Cổ cai trị Koryo, bắt Koryo phải cống hiến những phụ nữ xinh đẹp cho
quan lại Mông Cổ và bắt con gái của Mông Cổ lấy người Koryo để ràng buộc
Koryo trong vòng kiểm soát của Mông Cổ.
Sau này, trong quá trình xâm lược Nhật Bản, Mông Cổ đã huy động một
bộ phận lực lượng của Triều Tiên tham gia, sử dụng lãnh thổ của Triều Tiên
làm bàn đạp để tấn công Nhật Bản.
Về Nhật Bản thì từ trước đến nay Nhật Bản chưa hề bị một thế lực bên
ngoài nào đến xâm lược. Tuy nhiên, khi người Mông bành trướng thế lực ra Á-
Âu thì Nhật Bản thành mục tiêu xâm lược trực tiếp của đế quốc này.
1274 Nguyên Mông huy động 3 vạn quân (người Mông Cổ, TQ, Triều
Tiên), 900 chiến thuyền vượt biển Đông, tấn công vào lãnh thổ Nhật Bản. Quân
Nguyên Mông chiếm được một số hòn đảo nhỏ ở ngoài khơi đảo Kyushu nhưng
18
nhờ Nhật Bản đã tổ chức phòng vệ tốt và tinh thần chiến đấu hăng hái dũng
cảm của tầng lớp võ sĩ của Kamakura Bakufu
鎌倉幕府
do dòng họ Hojo
北条
lãnh đạo nên đã cầm cự được với quân đội Nguyên Mông.
Mặt khác, do không tấn công được vào đất liền, quân Nguyên Mông phải
lưu trú trên các thuyền ở ngoài khơi nên đã bị các trận cuồng phong nổi lên
nhấn chìm nhiều chiến thuyền, gây tổn thất nặng nề, do vậy quân Nguyên
Mông phải rút chạy về Đại lục, kết thúc thảm bại cuộc chiến tranh xâm chiếm
NB lần thứ 1.
Mặc dù vậy, năm sau 1275, Hốt Tất Liệt vẫn sai sứ nhà Nguyên sang Nhật
Bản thuyết phục Nhật đầu hàng. Lần này, NB bày tỏ sự phản kháng kiên quyết

đó là sự bành rướng của Trung Quốc đối với bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản.
Vào thế kỷ XVI có một hiện tượng mới đó là sự bành trướng trở lại của Nhật
19
Bản vào Đại lục. Và chính điều này mang lại cho quan hệ Đông Á những sắc
thái mới.
Thực ra, trong các thế kỷ XIV và XV giữa các nước Đông Á có sự buôn bán
phát đạt trên biển Đông và đó là một phần “con đường tơ luạ trên biển”. Trong
quá trình buôn bán đó, các nước Đông Á gặp phải một vấn đề gay cấn - bị nạn
hải tặc
海賊倭寇
hoành hành thường xuyên. Phía Trung Quốc cho rằng do các
lãnh chúa Nhật Bản đã nuôi dưỡng bọn hải tặc này bởi vì chính nhờ hải tặc mà
các lãnh chúa NB trở nên rất giàu có. Vì vậy mà TQ

thực thi lệnh hải cấm


(cấm buôn bán). Điều này làm cho các lãnh chúa
大 名
NB nổi giận. Tuy
nhiên, vào thế kỷ XV-XVI, Nhật Bản rơi vào tình trạng hỗn chiến kéo dài mà lịch
sử gọi là thời đại Chiến quốc,
戦 国 時 代
nên Nhật không thể thực hiện hành
động quân sự để chống lại lệnh hải cấm của TQ.
Vào giữa thế kỷ XVI đầu thế kỷ VII ở Nhật Bản xuất hiện 3 nhân vật nổi
tiếng là: Oda Nobunaga
織田信長
, Toyotomi Hideyoshi
豊臣秀吉

20
Nhật Bản. Và đặc biệt là lúc bấy giờ có sự xuất hiện một vị Đô đốc thủy quân
tài ba là Yi Shunshin
李舜臣
(Lý Thuấn Thần). Ông cho đóng các thuyền chiến
hình con rùa, gọi là thuyền rùa. Và chính các thuyền rùa này chiến đấu và chiến
thắng hải quân Nhật gây cho NB tổn thất to lớn.
Khi quân Nhật đến sát biên giới Trung Quốc thì nhà Minh cũng cử quân
sang đánh Nhật. Liên quân giữa Trung Quốc và Triều Tiên đã đẩy lùi quân Nhật
về tận hải cảng phía nam là Pusan. Đến đây 2 bên đã sức cùng lực kiệt nên đã
quyết định đình chiến để đàm phán hòa bình. Trong các cuộc đàm phán, Nhật
Bản đưa ra đòi hỏi vô lý: cắt nửa bán đảo Triều Tiên cho Nhật Bản, cử Hoàng
tử và thân vương sang NB làm con tin cho Nhật Bản. Phía Triều Tiên không
chấp nhân đòi hỏi như vậy nên dù cuộc đàm phán kéo dài đến 3 năm mà
không có kết quả.
Năm 1597, 14 vạn quân Nhật Bản mở cuộc xâm lược TT lần 2. Quân Nhật
lúc đầu cũng giành một số thắng lợi, chiếm được miền Nam TT nhưng sau đó
vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của liên quân Triều -Trung nên chiến sự dẫm
chân tại chỗ.
Năm 1598 Hideyoshi đột ngột qua đời. Phía Triều Tiên cũng có sự tổn thất
vô cùng to lớn là Yi Shunshin tử trận. Cuối cùng 2 bên cùng chủ trương giảng
hòa và 2 bên chấp nhận biến cảng Pusan thành cảng tự do buôn bán của 2
nước Nhật Bản và Triều Tiên.
Sự bành trướng của Nhật Bản vào Đông Á và sự thất bại của nó nói lên
rằng trong quan hệ Đông Á thì mọi mưu đồ thôn tín, bành trướng đại lục của
Nhật Bản đều đi đến thất bại.
Nhà Lý của Triều Tiên được sự giúp đỡ của nhà Minh Trung Quốc đã ngăn
chặn được âm mưu bành trướng của Nhật Bản. Tuy nhiên điều đó càng làm
cho nhà Lý bị lệ thuộc vào nhà Minh của Trung Quốc và đó cũng là không phải
con đường thuận lợi cho sự phát triển của Triều Tiên.

Đông buôn bán. Họ đến các hải cảng của các nước phương Đông xin lập các
thương điếm để buôn bán. Trong giai đoạn này, vì mục đích buôn bán của họ
rõ ràng nên ít gặp phản kháng từ chính quyền và nhân dân các nước phương
Đông.
Bước thứ hai: Các đoàn truyền giáo rầm rập sang các nước phương Đông.
Họ đảm nhận sứ mệnh theo đức tin của họ là truyền bá Thiên chúa giáo ở
những nơi chưa được giáo hóa. Tuy nhiên, trong quá trình truyền giáo họ thu
nhập rất nhiều thông tin về các nước phương Đông và vô tình hay cố ý, họ
cung cấp những thông tin này cho chính phủ và quân đội các nước phương
Tây. Điều này gây ra một hệ quả xấu trong quan hệ Tây-Đông sau này.
Bước thứ ba: Càng xâm nhập sâu vào phương Đông, phương Tây thấy
phương Đông càng hấp dẫn và huyền bí. Họ muốn dùng mọi biện pháp để xâm
nhập sâu hơn vào phương Đông. Nhưng các nước phương Đông đã cảm thấy
nguy cơ của sự xâm nhập của CNTB phương Tây và bắt đầu phản kháng. Các
nước phương Tây sử dụng thủ đoạn cuối cùng là mang các hạm đội với những
khẩu đại bác lớn sang xâm lược phương Đông. Với những hạm đội tối tân đó,
phương Tây bắt các nước phương Đông ký các hiệp ước bất bình đẳng, nếu
không ký thì các hạm đội sẽ trực tiếp nổ súng xâm lược. Đứng trước hiện tượng
đó ở các nước phương Đông đều có tư tửơng liên kết với nhau để chống lại
phương Tây. Tuy nhiên ở các nước phương Đông đã xuất hiện những luồng tư
22
tưởng là thừa nhận sự yếu kém của các nước phương Đông đối với phương
Tây. Tìm cách học tập phương thức để chống lại phương Tây. Và ở nước nào
cũng có luồng tư tưởng đó. Tuy nhiên các đối sách của từng nước trước các đại
nạn của phương Đông có khác nhau và điều đó ảnh hưởng đến con đường phát
triển của các nước sau này.
Quá trình xâm nhập của CNTB phương Tây vào một số nước tiêu biểu
Trung Quốc:
Trung Quốc luôn luôn là mục tiêu hấp dẫn, thu hút các thương nhân, giáo
sĩ, hạm đội của phương Tây. Quá trình xâm nhập của phương Tây vào Trung

Trung Quốc khánh kiệt; quan lại hũ bại; sức khỏe nhân dân bị suy thoái và xã
hội hỗn loạn.
Chính quyền Mãn Thanh quyết định cấm buôn bán và sử dụng thuốc phiện
và thực thi một cách kiên quyết chính sách đó. TQ đã cử một vị quan cao cấp
trong triều đình đến Quảng Châu, tịch thu thuốc phiên của các công ty buôn
bán của Anh về đốt. Lửa cháy nghi ngút suốt nhiều ngày liền.
Các thương nhân của Anh kêu cứu hải quân và chính phủ can thiệp. Năm
1840, liên quan đến vấn đề cấm buôn bán thuốc phiện,Anh phát động chiến
tranh với Trung Quốc, mà lịch sử gọi là “chiến tranh thuốc phiện”. Đây không
phải đơn thuần là chiến tranh vì thuốc phiện mà đây là sự đụng độ giữa
phương Đông và phương Tây; là sự đụng độ giữa CNTB và CNPK; là câu trả lời
cho một vấn đề lớn của thời đại: mở cửa hay đóng cửa.
Quân Anh với tranh bị vũ khí hiện đại đã nhanh chóng giành được thắng
lợi. Đây không chỉ là thắng lợi của Anh đối với Trung Quốc mà là thắng lợi của
phương Tây đối với phương Đông và cũng là thắng lợi của CNTB đối với CNPK;
là bằng chứng về thất bại của chính sách đóng cửa của TQ.
Đây còn là sự kiện tạo ra bước ngoặt trong lịch sử TQ và ảnh hưởng to lớn
đến các nước châu Á và tất nhiên cũng ảnh hưởng đến quan hệ giữa các nước
châu Á. Với sự thất bại này cũng có thể nói rằng sự đối đầu trực tiếp với
phương Tây là không đem lại hiệu quả.
Triều Tiên:
Sau khi đánh đuổi xâm lược của Nhật Bản (vào 1592,1597), thời kỳ tiếp
theo tình hình TT không có gì sáng sủa. Đầu thế kỷ XVII, TT vấp phải sự bành
trướng của người Mãn Châu. Tiếp theo đó một thời gian dài, nhà Lý của TT lại
bị lệ thuộc quá nặng nề vào các triều đình TQ, nhà nước trở thành một nước
Triều cống rất đều đặn đối với Mãn Thanh. Nhà Lý của TT buộc phải cam kết
với nhà Thanh là sẽ đưa lực lượng quân đội sang nhà Thanh khi nhà Thanh có
chiến tranh do 2 nước này là liên minh quân sự. TT chưa phải là mảnh đất mà
các nước phương Tây muốn xâm chiếm. Vì phương Tây cho rằng TT lệ thuộc
nhiều vào TQ và đây là một khu vực không ổn định. Việc xâm nhập vào TT sẽ

lo lắng cho chính quyền Bakufu. Cho nên Nhât Bản đi tới chính sách đóng cửa.
Tuy nhiên khác với chính sách đóng cửa của Trung Quốc-Việt Nam có 2 điểm
lớn:
Chính sách này lúc đầu không nhằm trực tiếp chống lại phương Tây mà
chủ yếu cấm người Nhật buôn bán với nước ngoài. Thứ hai là đóng cửa nhưng
không khép kín cửa. NB vẫn đề cửa ngõ là hải cảng Nagasaki để buôn bán với
nước ngoài. Chính quyền Nhật Bản chỉ cho phép người Hà Lan và Trung Quốc
được buôn bán ở đấy. Vì thế tuy đóng cửa nhưng không đoạn tuyệt với thế giới
bên ngoài. Người Nhật vẫn tìm hiểu thế giới phương Tây qua Nagasaki qua
người Hà Lan. Ở Nagasaki, người Hà Lan mở các trường học dạy tiếng Hà Lan,
25

Trích đoạn Quan hệ quốc tế Đôn gÁ những năm 1960- Khái quát về quan hệ châuÁ sau “chiến tranh lạnh”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status