Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
MỤC LỤC
NHU CẦU DINH DƯỠNG CHO TRẺ TỪ 1 ĐẾN 3 TUỔI
Tính theo trọng lượng cơ thể, nhu cầu dinh dưỡng của trẻ từ 1 - 3 tuổi cao hơn người
lớn. Tuy vậy, do hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh nên trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa còn nếu thiếu
chất trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng. Đây cũng là thời điểm để chuyển từ các thức ăn dành riêng
cho trẻ sang các thức ăn chung của cả gia đình. Sau 1 tuổi, lượng sữa bú mẹ hay sữa công
thức đều đã giảm. Điều quan trọng lúc này là trẻ cần có một chế độ ăn đa dạng, cung cấp
đầy đủ dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu cơ thể. Vì vậy nên phối hợp các nhóm thực phẩm
quan trọng gồm glucide (chủ yếu là tinh bột, nhiều loại ngũ cốc…), protein (thịt, cá,
trứng, sữa, đậu…), lipid (dầu thực vật, mỡ động vật, bơ, phô mai…), vitamin, muối
khoáng và chất xơ (chủ yếu từ rau xanh, hoa quả tươi…).
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 1
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
1. Đặc điểm sinh lí của trẻ từ 1 đến 3 tuổi
Từ 1 đến 3 là lứa tuổi phát triển rất nhanh cả về thể lực và trí tuệ. Chiều cao của trẻ
lúc 2 tuổi đúng bằng một phần hai lúc trưởng thành. Vì vậy, việc nuôi dưỡng tốt ở tuổi 1-
3 sẽ làm đà cho sự phát triển ở giai đoạn tiếp theo. Chúng ta thường theo dõi cân nặng và
chiều cao của trẻ, nhưng trẻ không chỉ phát triển về thể chất. Trẻ phải học hỏi nhiều kỹ
năng khác để phát triển trí tuệ: học chơi, học nói, học cách biểu lộ tình cảm, và thể hiện
bản thân mình. Mỗi trẻ em phát triển với một tốc độ riêng, do đó ta không thể nói được
chính xác mốc thời gian phát triển của từng trẻ. Các thông tin về gia đoạn phát triển của
trẻ chỉ giúp các bậc phụ huynh hình dung và dự đoán về những thay đổi xảy đến với trẻ.
Ở giai đoạn này, bé khám phá và học hỏi rất nhanh. Đây cũng là lúc bé hoàn thiện về
trí nhớ, khả năng tập trung, cũng như óc sáng tạo.Vì thế các bà mẹ cần chú trọng đến việc
bổ sung dinh dưỡng sao cho con mình có thể phát triển toàn diện cả về mặt thể chất lẫn trí
não.
1.1. Thể chất
- Cân nặng: từ 1–3 tuổi, trẻ tăng mỗi tháng 100g. Để bé khỏe mạnh cần có một chế
độ dinh dưỡng hợp lí.
- Chiều cao: giai đọan này trẻ sẽ cao thêm khoảng 5 – 7 cm mỗi năm.
- 2 tuổi: trẻ đã biết dành bố hoặc mẹ cho mình, cố tình làm ngược lại những điều
được dạy bảo.
- 3 tuổi: bé thường thích nghe kể chuyện và cũng hay kể chuyện. Các bé rất nhạy
bén và dễ thương đối với cha mẹ.
Thời kỳ 1-3 tuổi là thời kỳ thăm dò thế giới xung quanh để trẻ dễ thích nghi với cuộc
sống. Nắm được đặc điểm tâm lý của trẻ, các bà mẹ sẽ có thể tổ chức một nếp sống hài
hòa giữa ngủ, ăn uống, các hoạt động phát triển thể chất và tinh thần cho bé.
1.5. Vận động
Trong năm thứ 2, trẻ nhận biết được nhiều người xung quanh. Sự nhận biết về xã hội
phát triển nhanh, thích chơi với trẻ khác. Ngôn ngữ phát triển, nói được nhiều từ hơn. 18
tháng, trẻ có thể chỉ các phần cơ thể khi được hỏi. Có thể đứng lên ngồi xuống một mình,
có thể xếp hình tháp thành hình khối vuông.Ngôn ngữ phát triển nhanh, khả năng tiếp thu
tốt, có thể hát được bài hát ngắn. Đi nhanh, vượt qua bậc cửa, chạy nhanh. Vận động bàn
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 3
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
tay tinh vi nhịp nhàng hơn nên tập múa được. Trẻ có thể làm được một số việc tự phục vụ
mình như xúc cơm, cài cúc áo, đi tất, nhặt những vật nhỏ bằng hai ngón tay. Sự phát triển
tinh thần vận động, liên quan chặt chẽ với sự phát triển thể chất cũng như với đặc điểm cơ
thể của từng trẻ, đồng thời phụ thuộc vào yếu tố di truyền, dinh dưỡng… Do vậy, ngay từ
lúc được sinh ra, trẻ rất cần nhận được sự chăm sóc và quan tâm giáo dục đúng đắn, phù
hợp của các bậc sinh thành để trẻ có được nhân cách tốt sau này.
2. Đặc điểm và nhu cầu dinh dưỡng của trẻ từ 1 đến 3 tuổi
2.1. Đặc điểm dinh dưỡng của trẻ từ 1 đến 3 tuổi
Thời điểm này, bé đã bước vào tuổi nghịch ngợm, ưa hoạt động. Vì vậy, bạn cần chú
ý bổ sung nước và dinh dưỡng cho bé nhiều hơn. Nếu có điều kiện, bạn vẫn nên duy trì
chế độ bú mẹ dành cho bé 1-2 tuổi. Giai đoạn 2-3 tuổi, bé có thể ăn được cơm nát cho
những bữa chính; đồng thời, bé có thể ăn cháo trong những bữa phụ. Bạn cũng nên tập
cho bé thói quen đánh răng để bảo vệ răng miệng.
Thức ăn phải có đủ 4 nhóm chất: bột đường, chất đạm, chất béo, chất xơ.
- Chất bột đường có trong thức ăn chế biến từ gạo như: bột, cháo, cơm, mì Chất
vậy mà kích thích tăng nhu động ruột, ở đây chủ yếu do vai trò của xenluloza.
b) Nhu cầu glucid
Trẻ cần khoảng 100-110 Kcal/kg cân nặng mỗi ngày, nguồn năng lượng này được
cung cấp qua các bữa ăn như bột, cháo, cơm nát, bún… nấu với các loại thức ăn cung cấp
chất đạm như: thịt, trứng, cá, tôm, cua, đậu Ngoài ra, dầu mỡ trong bữa ăn cũng là
nguồn cung cấp năng lượng quan trọng. Trung bình mỗi ngày nên cho trẻ ăn 150-200g
gạo, cần giảm lượng gạo nếu trong ngảy trẻ đã dùng bún, mì, phở…
2.2.2. Protein
a) Vai trò protein
- Là nguyên vật liệu để cấu trúc, xây dựng và tái tạo các tổ chức trong cơ thể.
- Là thành phần chính của các kháng thể giúp cơ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn,
thực hiện chức năng miễn dịch.
- Là thành phần của enzyme và các nội tiết tố (hormon) rất quan trọng trong hoạt
động chuyển hoá của cơ thể.
- Có vai trò đặc biệt quan trọng trong di truyền, hình thành và hoàn thiện hệ thần
kinh giúp cơ thể phát triển cả về trí tuệ và tầm vóc.
- Là nguồn cung cấp năng lượng khi cơ thể bị thiếu năng lượng ăn vào (1gam
protein cung cấp 4,1 Kcal).
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 5
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
b) Nhu cầu protein
Nhu cầu chất protein của trẻ từ 1 -3 tuổi là 28g/ ngày. Có thể ước tính số gam protein
trong 100 gam thực phẩm như sau: thịt lợn hoặc thịt bò, thịt gà nạc có khoảng 20-21 g;
cá, tôm cua có khoảng 16-18 g; trứng gà (vịt) 13-14 g; đậu phụ 9 g. Với trẻ nhỏ cần ưu
tiên các loại đạm động vật như: thịt, sữa, trứng, cá , tôm. . . vì chúng có giá trị cao, có đủ
các acid min cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, ngoài ra đạm động vật còn
giàu các yếu tố vi lượng như sắt, kẽm, vitamin A giúp cho cơ thể trẻ khoẻ mạnh, tăng sức
đề kháng với bệnh tật.
Chất đạm động vật trong khẩu phần ăn của trẻ nên đạt từ 50 - 60 %. Tuy nhiên nếu
phối hợp tốt đạm động vật với đạm thực vật (đậu đỗ, vừng, lạc ) sẽ tạo nên sự cân đối
để phát triển trí não và thị lực của trẻ.
Nên cho trẻ ăn cả dầu và mỡ, nhất là mỡ các loại gia cầm như gà, ngan, vịt… vì chúng
chứa nhiều axit béo chưa no cần thiết cho sự phát triển của trẻ (nhất là các tế bào não)
như axit lioleic, axit liolenic, axit arachidonic rất cần thiết cho quá trình phát triển của trẻ.
Nếu trẻ đã ăn cơm thì nên cho mỡ hoặc dầu vào xào, rán, kho với thức ăn để trẻ ăn được.
2.2.4. Chất khoáng
a) Vai trò của chất khoáng
Khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng giữ vai trò
trong nhiều chức năng quan trọng đối với cơ thể. Cơ thể con người có gần 60 nguyên tố
hóa học. Một số chất có hàm lượng lớn trong cơ thể được xếp vào các yếu tố đa lượng
(macroelements), số khác có hàm lượng nhỏ được xếp vào nhóm các vi yếu tố
(microelements). Các yếu tố đa lượng là Ca (1,5%), P (1%), Mg (0,05%), K (0,35%), Na
(0,15%); các yếu tố vi lượng là I, F, Cu, Co, Mn, Zn còn gọi là yếu tố vết. Các chất
khoáng rất cần cho sự tạo xương, tạo răng, tạo máu và các hoạt động chức năng sinh lý
của cơ thể.
b) Một số chất khoáng
- Canxi, photpho:
Cần có một tỷ lệ thích hợp giữa can xi và photpho mới giúp trẻ hấp thu và sử dụng
được hai loại khoáng chất này. Tỷ lệ tốt nhất giữa canxi : photpho = 1 : 1,5. Chuyển hóa
canxi và photpho trong cơ thể được điều hòa bởi vitamin D. Vitamin D có trong lòng đỏ
trứng, thịt, gan và dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời tiền vitamin D (dưới dạng dự trữ
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 7
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
dưới da) sẽ chuyển thành Vitamin D hoạt động. Do vậy ngoài ăn uống đủ, thỉnh thoảng
cần cho trẻ ra ngoài tắm nắng.
Canxi có vai trò quan trọng trong sự phát triển và là khoáng chất nhiều nhất của cơ
thể với 99% tập trung ở xương và răng, 1% còn lại nằm trong máu, mô tế bào. Khi thiếu
canxi kéo dài sẽ dẫn đến trẻ bị còi xương, chậm lớn. Nếu hấp thu đủ canxi, trẻ sẽ có
khung xương chắc khỏe khi trưởng thành. Canxi rất cần thiết cho não và hệ thần kinh,
cho quá trình đông máu, sự chắc khỏe của xương và răng cũng như hấp thu vitamin B12.
cho sự tạo máu, tăng cường đề kháng chống đỡ với các yếu tố không thuận lợi.
a) Vitamin A
Vitamin A là một vitamin tan trong chất béo được lưu trữ trong các mô mỡ của cơ
thể. Vitamin A cần cho sự tăng trưởng, bảo vệ da, niêm mạc, tăng sức đề kháng của cơ
thể, chống các bệnh nhiễm khuẩn, bảo vệ mắt, chống quáng gà và các bệnhkhô mắt.
Nhu cầu vitamin A là 300 mcg/ngày. Vitamin A có nhiều trong gan, trứng, sữa, gan
cá biển; dầu cọ, dầu mè , dầu phụng , các loại củ quả có màu như cà rốt , đu đủ , bí đỏ …,
rau ngót, rau muống. Thiếu vitamin A còn làm cho trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng như
nhiễm khuẩn đường hô hấp và đường tiêu hóa.
b) Vitamin D
Vitamin D giúp cơ thể hấp thu canxi, photpho để duy trì và phát triển hệ xương, răng
vững chắc, chống bệnh còi xương. Dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời vào buổi sáng,
tiền vitamin D ở dưới da sẽ chuyển thành vitamin D. Do vậy muốn phòng chống còi
xương ở trẻ, ngoài việc ăn uống đầy đủ, phải cho trẻ ra ngoài trời tắm nắng vào buổi sáng.
Nhu cầu vitamin D là 400 UI/ngày (10mcg).
c) Vitamin C
Vitamin C là một vitamin tan trong nước nên nó cần phải được thường xuyên bổ
sung. Trẻ em nên ăn nhiều hơn khẩu phần vitamin C hàng ngày để giữ cho các mô cơ thể
khỏe mạnh và để giúp vết thương lành lại. Vitamin C cũng giúp cơ thể của trẻ chống lại
nhiễm trùng và hỗ trợ trong việc hấp thụ sắt.
Trẻ thiếu hụt vitamin C do không ăn đủ trái cây và rau quả. Thiếu vitamin C dễ gây
chảy máu dưới da và niêm mạc, làm giảm sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật, đặc biệt
là các bệnh nhiễm trùng. Nhu cầu vitamin C là 15 mg/ngày.
d) Vitamin E
Vitamin E hạn chế sản sinh ra những nhân tố có thể gây hại tới các tế bào. Nó đóng
vai trò quan trọng trong miễn dịch, sửa chữa AND và quá trình trao đổi chất. Vitamin E
được tìm thấy ở nhiều loại thực phẩm như hoa quả, rau xanh, đậu đỗ và các loại hạt.
2.2.6. Nước
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 9
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 10
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
Ở lứa tuổi này bữa ǎn hàng ngày của bé rất quan trọng để giúp bé phát triển tốt cả về
thể lực, trí tuệ và làm đà tốt cho sự tǎng trưởng của những thời kỳ tiếp theo. Nên tận dụng
sữa mẹ để hỗ trợ thêm cho bé dinh dưỡng và kháng thể. Cố gắng cho trẻ bú đến 18 – 24
tháng. Khẩu phần ǎn của trẻ cần được cung cấp đủ nǎng lượng, chất đạm, chất béo,
vitamin và muối khoáng. Và sau đây là một số thực phẩm dinh dưỡng cho trẻ :
4.1. Các loại thịt
Khi trẻ bước vào giai đoạn ăn dặm thì lượng chất sắt hấp thụ từ sữa mẹ giảm đi. Vì
thế cần bổ sung sắt vào khẩu phần ăn dặm của trẻ. Một trong những nguồn cung cấp chất
sắt tốt nhất cho trẻ là các loại thịt, đặc biệt là thịt bò và thịt cừu.
Thịt được phân loại dựa vào màu sắc
- Thịt đỏ: là loại thịt có màu đỏ tươi hay đỏ sẫm. như thịt lợn , thịt bò, thịt dê.
- Thịt trắng: là loại thịt có màu trắng nhạt như thịt gà, thịt cá, thịt vịt.
- Không màu: các loại thịt này dường như không có màu sắc như các loại nghêu,
sò…
Các chuyên gia chỉ ra rằng thịt có màu nhạt hoặc không có màu chất béo bão hòa và
cholesterol sẽ thấp hơn nhiều so với thịt đỏ. Vì vậy các bà mẹ nên cho trẻ ăn nhiều thịt cá,
thịt tôm hoặc thịt của các loại sò nhiều hơn.
4.1.1. Thịt bò
Dinh dưỡng có trong 100g thịt bò: Vitamin B1(6mg), vitamin B2(16mg), photpho
(186mg), magie (20mg), sắt (2mg), canxi (6mg), kali (241mg), nitrat (5.43mg).
Thịt bò nhiều protein, mà protein trong thịt bò lại khó tiêu hóa hơn so với một số loại
thịt khác như thịt lợn, thịt gà, Khi chế biến, có thể dùng máy sinh tố xay thịt bò sống
với một chút nước (hoặc nước xương) đến khi thịt gần mịn thì cho thêm rau xanh vào xay
cùng. Dùng hỗn hợp này nấu bột cho bé.
Ngoài ra, có thể dùng cách hấp thịt bò (cách này có tác dụng tránh hao hụt vitamin có
trong thịt). Sau đó, cho thịt bò đã hấp chín vào máy xay (hoặc có thể băm nhuyễn thịt bò,
nếu băm nhuyễn nên dùng rây (dụng cụ rây bột - lọc bột), rây lại thịt để thịt không còn
những cục bã). Tiếp đến, nấu thịt bò với bột và cháo của bé theo cách thông thường, tức
Vitamin: Thịt là nguồn vitamin nhóm B trong đó chủ yếu là B
1
tập trung ở phần
thịt nạc. Các vitamin tan trong chất béo chỉ có ở gan, thận. Ngoài ra, ở gan, thận, tim,
não có nhiều colesteron và photphatit.
Lưu ý :
Khi chế biến nên loại bỏ hết mỡ, bỏ gân, băm nhỏ hoặc xay nhuyễn
4.1.3. Thịt gà
Thịt gà chứa nhiều protein và chất sắt - nguồn dinh dưỡng chất lượng dành cho bé.
Phần ức và phần thịt nạc (lườn) của gà giàu protein, ít chất béo; phần thịt đùi gà chứa
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 12
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
nhiều sắt và có hàm lượng chất béo cao. Thịt gà dễ tiêu hóa nhất trong số các loại thịt,
nên cho bé ăn thịt gà trong giai đoạn đầu ăn dặm.
Để chế biến thịt gà cho bé, một trong những cách tốt nhất để làm điều này là trộn thịt
gà với các loại rau củ như cà rốt, khoai lang, bí đao Khi nấu bột cho bé: thịt gà bỏ da,
xương, băm nhuyễn, thêm nước, cho vào nồi nấu chín, lọc cho thật mịn. Dùng phần nước
vừa luộc thịt gà và phần thịt gà đã được rây mịn, để nấu bột. Cách này giúp bát bột có
chất liệu mềm, khiến bé dễ nuốt và hương vị ngọt của bát bột kích thích vị giác cho bé
Cũng có thể dùng cách hấp gà, vì hấp là phương pháp giảm thiểu nguy cơ hao hụt
dinh dưỡng có trong thực phẩm. Sau đó, dùng phần thịt gà đã được hấp chín, hòa thêm
chút nước, xay nhuyễn. Rây lại phần thịt gà đã được xay cho thật mịn và nấu bột cho bé
theo cách thông thường.
Thực phẩm có thể trộn chung với thịt gà là: táo, nho, xoài, đu đủ, lê, đào; súp lơ xanh
(bông cải xanh), cà rốt, cà tím, đậu đỗ; khoai tây, khoai lang, bí xanh, lúa gạo.
Lưu ý :
Nếu bé đã bước vào tuổi ăn bốc, có thể xắt thịt gà thành những miếng mỏng, cùng với
cà rốt, khoai tây hoặc khoai lang được nấu chín, cắt dạng hạt lựu. Hoặc có thể chọn một
trong số những thức ăn trên để cho bé ăn cùng thịt gà bằng cách dùng tay bốc.
4.1.4. Thịt cá
canxi và magie trong thịt tôm phong phú hơn giúp cho trẻ lớn nhanh hơn.
Tôm, cua và những loại vỏ sò được xếp vào nhóm gây dị ứng cao. Do đó, một số
chuyên gia khuyên nên cho bé ăn tôm khi bé được 1 tuổi – thời điểm hệ tiêu hóa và miễn
dịch ở bé đã tương đối hoàn chỉnh. Nếu bé có tiền sử dị ứng với tôm, bác sĩ sẽ chỉ định
thời gian an toàn cho bé ăn tôm, khoảng 2-3 tuổi.
Chế biến tôm bằng cách bóc vỏ, bỏ đầu, cho vào nồi hấp đến khi tôm chín là được.
Tiếp đến, băm nhuyễn tôm (có thể xào qua tôm bằng chút dầu ăn). Khi cháo đã nấu chín
cùng với rau (củ), cho tôm vào nồi, đánh tan ra. Chờ nồi cháo sôi lại là được.
Bạn cũng có thể bóc vỏ, bỏ đầu, xào chín. Sau đó xay nhuyễn phần tôm chín, khuấy
đều với một chút nước đun sôi để nguội cho tôm tan ra và để riêng. Chờ bột chín, cho hỗn
hợp tôm vào nồi, quấy đều tay, nấu cho sôi lại. Bắc nồi xuống bếp và thêm một chút dầu
ăn.
Lưu ý:
Nếu xay nhuyễn tôm khi còn sống, tôm dễ bị vón cục, gây khó khăn khi chế biến.
Nếu bé đã bước vào tuổi ăn bốc, có thể hấp tôm, bỏ vỏ, lấy phần thịt tôm, cắt dạng
hạt lựu và cho bé ăn bằng tay. Bé có thể sẽ không thích ăn các loại thịt khó nhai như thịt
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 14
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
vịt, thịt bò, thịt dê, mà thích ăn các loại thịt dễ nhai, mềm như thịt ếch, tôm, lươn… vì vậy
nên chế biến sao cho món ăn của bé mềm dễ nuốt sẽ khiến trẻ ăn được nhiều hơn.
4.3. Trứng
Trứng là một loại thực phẩm quen thuộc vô cùng bổ dưỡng rất tốt với trẻ. Tuy nhiên,
trứng chỉ có thể phát huy được hết đặc tính của nó nếu như trứng được ăn đúng cách.
Trứng rất giàu protein và một loạt các chất dinh dưỡng khác bao gồm , canxi, photpho,
sắt, chất khoáng, các men, hormone và nhiều vitamin (Vitamin E, vitamin B ) có lợi cho
sự phát triển của trẻ. Chất đạm của trứng có đầy đủ các loại axit amin cần thiết ở tỷ lệ cân
đối do đó trẻ dễ hấp thu. Chất đạm trong lòng đỏ trứng chủ yếu thuộc loại đơn giản và ở
trạng thái hòa tan có thành phần các acid amin tốt nhất và toàn diện nhất, là nguồn cung
cấp rất tốt các acid amin cần thiết có vai trò quan trọng cho cơ thể, đặc biệt cần cho sự
phát triển cả về cân nặng và chiều cao của trẻ. Cả trong lòng đỏ và lòng trắng trứng đều
Sữa là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chứa đầy đủ các nhóm chất cần thiết cho
cơ thể như protein, lipit, đường, vitamin và các khoáng chất. Protein sữa có thành phần
acid amin cân đối và có độ đồng hóa cao. Protein sữa bao gồm casein, lactoalbumin và
lactoglobulin. Casein có đủ tất cả các acid amin cần thiết. Đặc biệt là Lysin là một acid
amin cần thiết cho sự phát triển của trẻ em. Chất béo sữa có trạng thái nhũ tương có độ
phân tán cao, chứa nhiều acid béo chưa no. Chính vì vậy, chất béo sữa có độ tan chảy
thấp và dễ đồng hóa, có giá trị sinh học cao.
Chất khoáng trong sữa có nhiều: Calci, Kali, Phospho, vì vậy sữa là thức ăn gây
kiềm. Sữa là nguồn thức ăn cung cấp Calci quan trọng cho trẻ em. Sữa cung cấp chủ yếu
Vitamin A, B1, B2, còn các vitamin khác không đáng kể.
Sử dụng sữa đúng cách:
Sữa là thực phẩm hoàn hảo, nhưng nó sẽ mất đi một nửa hàm lượng vitamin A nếu bị
lọc bớt một nửa kem và sẽ mất toàn bộ khi gạn lọc hết phần kem. Vì vậy, không nhất thiết
phải uống sữa tách bơ, kem nếu bạn không phải ăn kiêng do béo phì hay tiểu đường.
Trong sữa, casein ở dưới dạng muối casenat calci dễ hòa tan. Khi gặp acid yếu casein sẽ
kết tủa do sự tách các liến kết của casein và calci. Casein kết tủa, lắng đọng lại rất khó
tiêu, trường hợp nghiêm trọng sẽ gây ra đầy bụng hoặc tháo dạ. Do vậy không nên dùng
sữa, sản phẩm từ sữa chung với các loại trái cây chua có tính axit. Trong sữa nhiều calci
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 16
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
thường thiếu men lactoza để phân huỷ đường lactoza trong dạ dày. Khi uống sữa có triệu
chứng bị rối loạn tiêu hoá, sôi bụng, đầy hơi, tiêu chảy…thay vì uống nhiều sữa calci một
lúc, bạn nên uống dần dần từng ít một để cơ thể thích ứng từ từ và dạ dày sẽ có đủ thời
gian để tiết ra men tiêu hoá đường lactoza. Thời điểm uống sữa tốt nhất trong ngày là vào
bữa phụ hoặc sau bữa ăn. Đối với các loại kem tươi làm từ sữa, thỉnh thoảng dùng vào
cuối bữa ăn nhẹ sẽ cho cảm giác ngon miệng hơn.
4.4.2. Sữa chua
Cho trẻ ăn sữa chua mỗi ngày ngoài việc cung cấp cho trẻ một lượng chất canxi lớn
cho cơ thể trẻ nó còn rất tốt cho hệ tiêu hóa của trẻ, giúp trẻ nhanh chóng tiêu hóa lượng
thức ăn mà trẻ dung nạp.
- Không dùng chung với các loại thuốc khác: các chất có trong thuốc kháng sinh,
hay các loại thuốc có chứa thành phần amin lưu huỳnh cũng có thể làm phá vỡ
hoặc tiêu diệt vi khuẩn có lợi trong sữa chua.
4.4.3. Phô mai
Các loại phô mai đều có nguồn gốc từ sữa có hàm lượng đạm, béo, đặc biệt là hàm
lượng canxi rất cao. Vì thế nên cho trẻ ăn phô mai giúp trẻ tăng trưởng tốt. đặc biệt phô
mai không chứa đường nên có những trẻ không thể uống sữa do bất dung nạp đường
lactose thì phô mai là một sản phảm thay thế tốt.
Tuy nhiên nếu thấy bé xuất hiện dấu hiệu lạ khi ăn phô mai thì tạm ngưng ngay
không cho bé ăn nữa và hỏi ý kiến bác sĩ. Vì có một số trẻ có thể bị mẫn cảm với sữa bò
Những lưu ý khi cho bé ăn phô mai
- Chỉ ăn phô mai không sẽ không đảm bảo dinh dưỡng cho bé. Vì thế, nên cho con
ăn phô mai như một bữa phụ, hoặc kết hợp với các sản phẩm khác như: phết vào
bánh mì, trộn vào bột, cháo… để vừa bổ sung thêm năng lượng, vừa có các
vitamin, chất khoáng từ nguồn thực phẩm khác trong bát cháo.
- Ăn phô mai thường có thể bị đầy bụng nên không nên cho trẻ ăn phô mai trước
khi di ngủ
- Khi mới tập ăn phô mai cho trẻ nên tập ăn lúc đói thì dễ dàng hơn
- Nên cho phô mai vào bột/cháo của bé hàng ngày, hãy chọn những thực phẩm phù
hợp như: khoai tây, cà rốt, thịt bò, gà, tôm. Không nên cho phô mai nấu chung
với thực phẩm như: cua, lươn, rau mồng tợi, rau dền.
Lượng đạm trong phô mai rất cao. Nếu nấu phô mai chung với thịt, cá, trứng, mẹ
cần điều chỉnh lượng phù hợp tùy với thể trạng từng bé (tránh trường hợp bị nhiều
đạm, thừa đạm). Lúc nào bé không chịu ăn thịt, cá, mẹ chỉ cần cho bé ăn 2 viên
phô mai là đủ chất.
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 18
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
4.5. Trái cây
Trái cây cung cấp nhiều vitamin, các acid hữu cơ, khoáng chất cho sự phát triển của
trẻ nhỏ. Tuy nhiên tùy từng loại mà nguồn cung cấp vitamin và năng lượng khác nhau.
Táo cung cấp các loại vitamin A, C, E, kali và các chất chống oxy hóa cũng rất
phong phú. Lượng canxi trong táo cũng cao hơn các loại hoa quả khác cung cấp thêm
canxi cho sự phát triển của bé. Với lượng iốt nhiều gấp tám lần trong chuối tiêu và gấp 13
lần trong quýt, táo có thể chống bệnh bướu cổ. Bạn có thể ép táo lấy nước hoặc nấu cho
trẻ ăn hay uống để phòng ngừa những bệnh về đường hô hấp. Chất xơ trong táo còn giúp
ngăn ngừa táo bón.
4.5.5. Đu đủ
Đu đủ chứa nhiều vitamin A, canxi và dồi dào nguồn kali. Đu đủ chứa vitamin B
(B6, B1) và Riboflavin rất tốt cho tiêu hóa, ngăn ngừa táo bón cho trẻ. Ngoài ra nó cũng
giàu vitamin C giúp tăng cường hệ miễn dịch phòng bệnh cảm cúm và ho. Khi chín, loại
trái cây này có thịt mềm và ngọt thích hợp dành cho trẻ em ít tháng tuổi.
4.5.6. Các loại trái cây khác
- Xoài: Là một trong ba loại trái cây (cùng với đào và dưa tây) có chứa nhiều tiền
vitamin A (β-carotene) nhất. Thành phần tiền vitamin này đóng vai trò quan trọng
đối với thị lực ban đêm, tình hình ổn định của màng nhầy và da, khả năng kháng
viêm của cơ thể. Về thành phần vitamin C, xoài đứng ngang hàng với cam quít.
Một điều ít được biết đến là xoài có chứa một lượng chất sắt đáng kể. Theo một
số công trình nghiên cứu, cơ thể trẻ em thiếu chất sắt sẽ làm giảm khả năng
kháng viêm và ảnh hưởng đến cả sự phát triển vận động, tinh thần và học tập.
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 20
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
- Dưa hấu: Loại trái cây có tác dụng giải khát rất tốt, dành cho trẻ khi thời tiết trở
nên nóng bức. Dưa hấu có tính mát, lại nhuận tràng, rất tốt cho trẻ khi bị táo bón.
Tuy nhiên không nên cho trẻ ăn nhiều, đặc biệt là những trẻ bụng yếu dễ gây đau
bụng, tiêu chảy, mỗi lần chỉ nên cho trẻ ăn từ 100-150g.
- Dứa: Có vitamin C và tiền vitamin A. Nó chứa bromeline, một loại enzyme đặc
biệt đóng vai trò quan trọng trong việc khởi động điều hòa các protein từ thịt, cá
và trứng.
- Kiwi: Chứa rất nhiều sinh tố C, nhiều gấp đôi trái cam, nhiều chất xơ hơn táo,
một trái kiwi cung cấp nhiều gấp hai lượng sinh tố C cho nhu cầu tối thiểu hàng
đỏ, và màu vàng. Loại đậu này có rất nhiều protein, chất sắt, chất xơ hòa tan
giúp làm giảm cholesterol cũng như lượng đường trong máu. Các chất xơ
không chỉ giúp ngăn ngừa táo bón, mà còn giúp ngăn ngừa rối loạn tiêu hóa
như hội chứng ruột kích thích và viêm ruột thừa. So với các loại cây họ đậu
khác, đậu lăng chứa lượng vitamin B và kẽm nhiều nhất.
- Đậu ván trắng: Đặc biệt tốt cho những tháng cuối mùa hạ và đầu mùa thu, có
thể cầm tiêu chảy, thanh nhiệt, làm ấm tỳ vị, trừ thấp nhiệt và làm hết chứng
tiêu khát. Hạt đậu ván trắng chứa 22,7% protid trong đó có các acid amin như
arginin, lysin, tryptophan, tyrosin; 57% tinh bột; 1,8% chất béo; các vitamin A,
B1, B2, C, đường, các men tiêu hóa. Protein trong đậu ván giúp tái tạo tế bào
trong quá trình tăng trưởng và phát triển, trẻ em, thiếu niên và phụ nữ mang
thai cần protein.Tiêu thụ các loại thực phẩm như đậu ván giúp cung cấp cho cơ
thể trẻ chất sắt giúp các protein tên là hemoglobin và myoglobin vận chuyển
oxy. Hemoglobin được tìm thấy trong các tế bào hồng cầu và myoglobin trong
cơ bắp.Vitamin C trong đậu ván cần thiết cho sự tăng trưởng của mô, vitamin
C cũng là một trong nhiều chất chống oxy hóa. Chất chống oxy hóa giúp cơ
thể ngăn chặn thiệt hại từ các gốc tự do. Chất xơ có trong đậu ván hỗ trợ tiêu
hóa. Ngoài ra, chất xơ có thể giúp trẻ cảm thấy no và giúp quản lý cân nặng.
- Đậu ngự: Như nhiều loại đậu khác, đậu ngự là thực phẩm giàu đạm, ít béo,
nhiều chất xơ, tốt cho hệ tim mạch. Ngoài ra, đậu ngự còn có nhiều vitamin
nhóm B, sắt, potasium và calories. Vitamin B trong đậu ngự cần thiết cho các
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 22
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
chức năng của não.Đậu ngự cũng là thực phẩm giàu inositol có thể cải thiện
triệu chứng suy nhược trí nhớ. Loại đậu này là nguồn cung cấp các sợi hòa tan
giúp vận chuyển thức ăn, thải trừ cholesterol, ổn định đường trong máu. Đồng
thời chứa hàm lượng đáng kể stesrol có cấu trúc gần giống cholesterol từ động
vật. Chất saponin trong đậu ngự hạn chế việc hình thành sạn thận. Chất lectin
có đặc tính chống nấm, vi-rut và ung thư.
- Đậu cô ve: Đậu cô ve giàu protein, chất xơ, vitamin, sắt. Một chén đậu nấu
cho các enzym vốn hay gây trở ngại cho vấn đề tiêu hóa. Hạt tươi phải được nấu trong
30-40 phút. Với đậu khô, chúng rất giàu protein và muối khoáng, do đó nó đòi hỏi thời
gian chuẩn bị lâu hơn (khoảng 1 giờ). Ngâm đậu trong nước ít nhất 8 giờ, thay nước
nhiều lần, sau đó rửa sạch rồi mới chế biến cho trẻ.
4.7. Các loại rau, củ
Rau xanh và củ là nhóm thực phẩm cung cấp các loại vitamin và chất xơ, trong đó
nhiều nhất là vitamin C, caroten (tiền vitamin A). Trong rau còn chứa nhiều loại muối
khoáng như: sắt, đồng, coban (cần cho tạo máu), canxi, photpho (cần cho tạo xương), và
nhiều yếu tố vi lượng khác như: kẽm, mangan, magie… cần thiết cho sự phát triển của
trẻ. Vì vậy việc tập cho trẻ ăn rau củ ngay từ khi còn nhỏ là điều đáng lưu ý.
4.7.1. Nấm
Nấm rất giàu protein, đầy đủ các acid amin thiết yếu, hàm lượng chất béo ít và là
những acid béo chưa bão hòa. Đồng thời nấm có chứa lượng natri, carbohydrate, giàu
chất xơ và chứa khoảng 80-90% nước,. Là một nguồn tuyệt vời cung cấp kali, chất giúp
hạ huyết áp và giảm nguy cơ đột quỵ, do đó, nấm tốt cho những người bị cao huyết áp.
Nấm cũng rất giàu đồng, một khoáng chất có tác dụng bảo vệ tim.
Nấm được cho là giúp chống lại ung thư, bởi thực phẩm này giàu selen, một chất
chống oxy hóa khi kết hợp với vitamin E giúp tế bào chống khỏi các tác hại của gốc tự
do.
GVHD: Lương Thị Kim Tuyến 24
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 1-3 tuổi
Nấm nút trắng có nhiều khả năng thu dọn gốc oxy hơn các loài nấm khác, bởi
aromatase, một loại enzyme tham gia vào sản xuất estrogen, và 5-alpha-reductase, một
loại enzyme có thể chuyển đổi testosterone thành DHT. Đồng thời, loại nấm này có thể
làm giảm nguy cơ ung thư, giúp giảm bớt sự tăng sinh tế bào trong cũng như kích thước
khối u.
Nấm shiitake (nấm hương) giúp điều hòa khí huyết, tăng cường hoạt động của hệ
miễn dịch cơ thể, ức chế tế bào gây ung thư, và kích thích hoạt động của hệ tiêu hóa. Đặc
biệt, chất Ergosterol có trong nấm hương dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng
mặt trời sẽ chuyển hóa thành vitamin D2 giúp cơ thể đề phòng và chữa bệnh còi xương