Bài luận văn đề tài nhìn lại quá trình gia nhập AFTA ảnh hưởng đến nguồn thu nhập ngân sách và xuất khẩu của Việt Nam - môn kinh tế đối ngoại - Pdf 13


: 
ÑEÀ TAØI

 !"#
$%&#'(
Thành phố Hồ Chí Minh
)*+*, /,01234.50,-6078
1. AFTA( ASEAN FREE TRADE AREA- Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á) :
 
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môi
trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước Asean đứng trước
những thách thức lớn không dễ vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ hơn và những
nỗ lực chung của toàn khối. Toàn cầu hóa về kinh tế đặc biệt là thương mại diễn ra vô
cùng mạnh mẽ nên phương thức bảo hộ truyền thống của các nước Asean ngày càng trở
nên không phù hợp với thực tế nữa. Thêm nữa sự hình thành các khối liên kết kinh tế
quốc tế như EU, NAFTA có tổ chức khép kín sẽ gây trở ngại cho hàng hóa Asean khi
thâm nhập vào thị trường này. Những thay đổi về chính sách mở cửa, khuyến khích và
dành ưu đãi rộng rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài
nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Nga và các nước Đông
Âu đã trỏ thành thị trường dầu tư hấp dẫn hơn Asean , đòi hỏi Asean vừa phải mở rộng
vè thành viên, vừa phải nâng cao tầm hợp tác khu vực.
Cho đến Hội nghị thượng đỉnh Asean lần 3(1987) thì vấn đề loại bỏ hàng rào thuế
quan để tiến tới xây dựng một khu mậu dịch tự do giữa các nước thành viên Asean mới
chính thức ghi vào văn bản trong Tuyên bố Manila 1987.
Tháng 1-1992 các nước thành viên Asean ký vào bản Tuyên bố tại Singapore, cam
kết tăng cường hợp tác kinh tế trong toàn khu vực. Nội dung chính của bản tuyên bố này
là Sự thành lập của Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á trong vòng 15 năm (từ 1993
đến 2005).
Tuy nhiên trước những thay đổi chóng mặt của nền kinh tế thế giới, tại Hội nghị Bộ
trưởng kinh tế Asean( AEM) lần thứ 26 tại Chieng Mai(Thái Lan) tháng 9-1994, các

trừ hoàn toàn ( General Exclusion List –GEL) còn tất cả loại hàng hóa còn lại đều nằm
trong danh mục giảm thuế ngay, giảm thuế thông thường và danh mục loại trừ tạm thời.
3. Những thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam khi tham gia AFTA:
% &'#()*(+, -
Khi gia nhập AFTA , hàng hoá của Việt nam sẽ được hưởng thúê suất ưu đãi thấp
hơn cả thuế suất tối huệ quốc mà các nước ASEAN dành cho các nước thành viên WTO,
3
từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để hàng hoá Việt nam có thể thâm nhập thị trường của
tất cả các nước thành viên ASEAN.
Bên cạnh những thuận lợi thu được từ hoạt động thương mại trong nội bộ khối , khi
gia nhập AFTA, VN sẽ có thế hơn trong đàm phán thương mại song phương và đa biên
với các cường quốc kinh tế, cũng như các tổ chức thương mại quốc tế lớn như Mỹ, nhật,
EU hay WTO
Tuy có những trùng lặp giữa VN và các nước ASEAN, nhưng có nhiều lĩnh vực mà
VN có thể khai thác từ thị trường các nước ASEAN như VN có thế mạnh trong xuất khẩu
nông sản, hàng dệt và may mặc, và ta cũng có nhu cầu nhập nhiều mặt hàng từ các nước
ASEAN với giá thấp hơn từ các khu vực khác trên thế giới.
Một mặt Doanh nghiệp được lợi do tăng được khả năng cạnh tranh so với các nước
ngoài ASEAN về giá cả, mặt khác người tiêu dùng được hưởng lợi do giá cả rẻ hơn và
chủng loại hàng hoá phong phú hơn.
Thu hút vốn đầu tư, tiếp thu công nghệ, tận dụng nhân công, sử dụng vốn và kỹ
thuật cao trong khu vực
/ &'0102 3&4 !5 60, -
Lợi ích trực tiếp của nhà nước là nguồn thu ngân sách về thuế xuất nhập khẩu
giảm.
Việc tham gia dẫn tới sự xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi quan thuế, nghĩa là
xoá bỏ sự bảo hộ của chính phủ đối với các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải
tham gia thật sự vào cuộc chới cạnh tranh khốc liệt trên thị trường khu vực : cạnh tranh
thúc đẩy sản cuất phát triển, nhưng đồng thời có thể làm điêu đứng và phá sản hàng loạt
các doanh nghiệp, thậm chí hàng loạt ngành. Dẫn tới việc thay đổi cơ cấu kinh tế. Đây là

của Việt Nam
1 3 2
Tỷ trọng so với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (%)
20,8 16,3 24,2
 !" 
Thứ hạng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong ASEAN
5 6 5
Tỷ trọng so với tổng kim ngạch xuất khẩu của ASEAN (%)
8,3 7,0 9,6
:&;<=>43&4 ?40@--&A
Và bảng số liệu dưới đây là tình hình xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam và
Asean từ 2003 đến 2009, cho thấy lượng giao dịch thương mại giữa hai bên tăng trưởng
mạnh hàng năm.
5
$?M61234>2N?/,90,-607*+.X.1;C.YZ016[STT\]E1STT^
_
8
STT\ STT` STTa STTb STTc STTU STT^
$?M6
>2N?
2.945,84 3.874,62 5.450,10 6.358,18 7.813,20 10.194,81 8.592
234
>2N?
5.938,83 7.766,21 9.414,00 12.480,00 15.814,00 19.570,86 13.813
234
Y,W?
2.992,99 3.891,58 3.963,90 6.121,82 8.000,80 9.376.05 5.221
2d1/>W>,71/J.22+1/2K0L?M6>2N?O1234>2N?*+.X1.e162;f1/7J,
2+1/2K0/,90,-607P"Q/,0,]=J1STTaPSTT^
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009

trường này. Cụ thể:
#$%&'(%)*+,- !" 
./0123456780'9, đây là 2 mặt hàng có nhiều biến động về
giá nên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này chịu ảnh hưởng lớn của giá
dầu thô và gạo trên thị trường thế giới. Tổng trị giá xuất khẩu hai nhóm hàng trên sang thị
trường ASEAN chiếm khoảng trên 42% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
khu vực thị trường này. Do lợi thế về vận tải và nhu cầu gạo phẩm cấp thấp phù hợp với
sản xuất của Việt Nam nên thị trường ASEAN vẫn là thị trường quan trọng trong việc
xuất khẩu gạo Việt Nam.
Trong khi đó, nhiều sản phẩm xuất khẩu là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt
Nam như hàng dệt may, giày dép và thủy sản hiện mới chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN mà nguyên nhân chủ
yếu là do một số nước thành viên lớn của ASEAN cũng có lợi thế sản xuất, xuất khẩu các
mặt hàng tương tự này nên hàng của Việt Nam khó thâm nhập vào.
Đối với mặt hàng rau quả, đặc biệt là rau quả tươi thì thì trường Malaysia và
Singapore có nhu cầu tương đối lớn nhưng về phía Việt nam vẫn chưa chú trọng lắm đến
mặt hàng này đặc biệt là trong khâu vận chuyển, bảo quản, quảng bá, tiếp thị, xúc tiến
thương mại
2d1/>W>,71/J.2O6F6GH1/L?M6>2N?7g6Yd12K77h62+1/.2i12.50
,-607Y01/>2?*@.62B6G;j1/"Q1R7STT^
7
Stt Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
Trị giá
(triệu USD)
Tỷ trọng (%)
Trong tổng
kim ngạch xuất
khẩu
sang ASEAN
Trong tổng kim

khẩu từ các
nước ASEAN
Trong tổng kim ngạch
mặt hàng nhập khẩu
của Việt Nam từ tất cả
các thị trường
1 Dầu Diesel 1.230 8,9 37,8
2 Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng 1.207 8,7 9,5
3 Xăng 944 6,8 47,9
4 Máy vi tính, SP điện tử & linh kiện 804 5,8 20,3
5 Chất dẻo nguyên liệu 756 5,5 26,9
6 Dầu Mazut 622 4,5 99,3
7 Giấy các loại 462 3,3 60,0
8 Linh kiện ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống 427 3,1 51,4
9 Dầu mỡ động, thực vật 405 2,9 81,6
10 Sắt thép các loại 402 2,9 7,5
11 Hàng hoá khác 6.554 47,4 17,6
Tổng cộng 13.813 100,0 19,7
:&;<=>4A
Theo lộ trình AFTA, Việt Nam có ba nhóm hàng hóa chính: nhóm nhạy cảm cần
bảo hộ, nhóm bình thường và nhóm không cần bảo hộ. Với nhóm hàng hóa cần bảo hộ,
Bộ Tài chính thực hiện chính sách nâng thuế nhập khẩu lên sau đó hạ xuống từ từ để các
doanh nghiệp trong nước "làm quen" với áp lực cạnh tranh từ các nước trong khu vực.
Hàng hóa thuộc nhóm bình thường áp dụng lộ trình chung. Với nhóm hàng hóa không
cần bảo hộ, Việt Nam sẵn sàng mở cửa như gạo, rau quả, chuẩn bị đến năm 2013, thực
hiện thuế suất 0% trong cả khu vực. Việc cắt giảm thuế hình thành khu vực mậu dịch tự
do, tạo điều kiện thuận lợi cho các nước trong khối ASEAN thâm nhập thị trường lẫn
nhau.
Nhờ tập trung đầu tư đổi mới thiết bị, ổn định chất lượng sản phẩm và nâng cao
năng suất lao động hàng Việt Nam xuất sang thị trường ASEAN chỉ chiếm 14,6% tổng

Theo như các số liệu đã thống kê trong phần tìm hiểu ở trên, điều dễ dàng nhận
thấy là Việt Nam nhập siêu vô cùng lớn từ các nước Asean đồng nghĩa với cán cân
thương mại không cân bằng và đang nghiêng về phía các nước Asean và Việt Nam còn
phải có nhiều nỗ lực mới có thể lật ngược tình thế để đem lại sự thăng bằng cán cân
10
thương mại giữa hai bên. Trên thực tế điều này xảy ra là vì sự không đồng bộ hay tương
thích giữa các mặt hàng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước Asean. Việt Nam chủ
yếu xuất khẩu các mặt hàng thô, nông phẩm nhưng lại nhập khẩu các nguyên vật liệu
dùng cho sản xuất và hàng công nghiệp là những mặt hàng có giá trị cao. Hơn nữa các
mặt hàng này đã có thuế suất dưới 5% trước khi thực hiện CEPT. Vì vậy, AFTA không
có tác động trực tiếp tới việc nhập khẩu những mặt hàng này.
Ngoài ra do trình độ thua kém hơn, Việt Nam chỉ có thể cạnh tranh trên thị trường
ASEAN nhờ tính độc đáo của chủng loại, mẫu mã và do đó, chỉ mang tính bổ sung cho
cơ cấu hàng hóa nước đối tác.
Đối tác lớn nhất của Việt Nam với ASEAN là Singapore. Phần lớn hàng Việt Nam
xuất sang Singapore sẽ được tái xuất sang các nước khác. Nhưng ở nước này, hệ thống
thuế xuất nhập khẩu trước AFTA vốn đã thấp, gần như bằng 0%. Do vậy, khi thực hiện
CEPT trên toàn khối ASEAN, kim ngạch xuất nhập khẩu còn lại của Việt Nam với các
nước ASEAN khác sẽ chưa làm thay đổi nhiều xuất khẩu Việt Nam nếu xét theo khía
cạnh được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu thấp.
Do đó có thể kết luận rằng: chỉ khi nào Việt Nam tạo được sự dịch chuyển cơ cấu
sản xuất và xuất khẩu theo hướng tạo ra được nhiều chủng loại hàng hóa có sức cạnh
tranh và nằm trong danh mục cắt giảm của CEPT, các doanh nghiệp Việt Nam mới có
thêm thuận lợi về yếu tố giá cả khi muốn xuất khẩu sang ASEAN. Khi đó thì mới có khả
năng mang lại nguồn lợi cho đất nước bằng nguồn thu xuất khẩu để bù lại khoản thu đã
mất do việc giảm thuế nhập khẩu để thực hiện lộ trình CEPT.
Đặc biệt vào 2010, 6 nước ASEAN cũ gồm Brunei, Indonesia, Thái Lan,
Philippines, Malaysia và Singapore cắt giảm toàn bộ thuế nhập khẩu từ các nước ASEAN
xuống còn 0% là điều kiện để các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu sang các
thị trường này. Tuy nhiên cần phải nắm rõ thị hiếu, sở thích, phong tục, tập quán và văn

đối với hàng hoá sản xuất trong nước. Và các doanh nghiệp Việt Nam cũng được cho
rằng một khi đã gia nhập AFTA sẽ đẩy mạnh cạnh tranh hơn nữa, sản xuất đa dạng và với
số lượng lớn để hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn đảm bao chất lượng.
Tuy nhiên tình hình thực tế lại cho thấy khả năng hàng ngoại đang chiếm thị phấn
lớn trên thị trường trong nước và gây ra nhiều mối lo về hàng Việt có thể bị tẩy chay
ngay trên chính sân chơi của mình.
Xét đến mặt hàng điện tử đồ gia dụng thì từ năm 2004 đến nay, các trung tâm, siêu
thị điện máy ở TP Hồ Chí Minh liên tục giảm giá các mặt hàng điện tử, điện máy nhập
khẩu có nguồn gốc từ các nước ASEAN từ 5 đến 10%/năm so với mức giá trước năm
2006. Riêng hàng điện tử, điện máy gia dụng phổ thông như bàn là, nồi cơm điện, bếp ga,
lò vi sóng, lò nướng, máy xay sinh tố có mức giảm khá cao từ 15 đến 20%/năm. Cục
Hải quan TP Hồ Chí Minh cho biết, việc thực hiện AFTA đã khiến số thu thuế nhập khẩu
từ khu vực ASEAN giảm mỗi ngày từ hai đến ba tỷ đồng. Tại các chợ chạy, chợ chồm
hổm, chợ chui mọc lên ở các khu chung cư, khu chế xuất, khu công nghiệp đến các chợ
lớn như Bến Thành, Tân Ðịnh, Bà Chiểu, hàng các nước Thái-lan, Malaysia, Singapore,
Indonesia được bày bán khá nhiều. Bên cạnh nhiều thương hiệu mới xuất hiện để làm
quen với thị trường, người ta còn thấy có sự chuyển dịch trong việc thay xuất xứ hàng
nhập khẩu của các thương hiệu nổi tiếng. Chẳng hạn như đối với các sản phẩm của
Toshiba, trước đây hàng nhập về còn thấy nhiều mặt hàng ghi xuất xứ Mexico, Brazil
nhưng nay chủ yếu là từ Thái Lan.
Vào năm 2006, việc tiếp tục thực hiện các cam kết với AFTA có tác động lớn đến
các ngành công nghiệp đương trên đường phát triển của VN. Những mặt hàng nguyên ở
trong TEL nhưng đuợc chuyển sang Il năm 2001 là thép xây dựng, chế phẩm kính, bộ
phận và linh kiện TV, máy phát điện, v.v Những ngành dự định chuyển từ TEL sang IL
vào năm 2002 là máy giặt, tủ lạnh, đồng hồ, linh kiện đồng hồ, rượu vang, nước hoa,
v.v Năm 2003, những ngành chuyển từ TEL sang IL dự kiến sẽ là bia, rượu, xăng dầu,
xe hơi, xe máy, phân bón, hoá chất, v.v Hầu hết đây là những mặt hàng hiện đuơng sản
13
xuất ở trong nước, trong đó một số do công ty có vốn nước ngoài sản xuất như xe hơi, xe
máy và các loại đồ điện gia dụng. Thuế suất nhập khẩu của các mặt hàng nầy hiện nay

thường cao hơn giá thành sản phẩm cùng loại của các nước khu vực.
Không tính đến giá cả thì chất lượng cũng là một phần quan trọng khiến hàng ngoại
lại được ưa chuộng hơn hàng Việt. Vài năm trước đây thì xu hướng sính ngoại đã gây nên
14
làn sóng mạnh mẽ trên toàn quốc, nhất là về hàng Thái Lan, Singapore, luôn chiếm được
lòng tin của người tiêu dùng. Trước tình hình trên thì Chính phủ đưa ra nhiều chiến dịch
với mục tiêu “ Người Việt dùng hàng Việt”.
Theo lời của Bộ trưởng Nguyễn Sinh Hùng thì “$H)43I4
J)0KD(+ -L)44MNO:0),%AP,%+1Q
RSG5N"T )!#N451!*UVWXVY*ZK[\S"
=4]4I4^_:0`)HQ4 *G809AT8]
44]G4SJG !1T$!B] 8]2 1^_ 6!Q
& S?D(!^_\#a bc
Việt Nam và Thái Lan có một khoảng cách phát triển khoảng 20 năm. So với
Xingapo và Malaixia thì khoảng cách lớn hơn, so với Philipin và Indonesia thì nhỏ hơn
(tất nhiên Xingapo là một quốc gia đô thị nên không thể so sánh đơn thuần với Việt Nam
được). . Tất nhiên, vào thời điểm gia nhập ASEAN (1995), với 10 năm (1996-2006) thực
hiện từng bước AFTA (trên thực chất, như đã đề cập, thực hiện từ năm 2003) và với hoàn
cảnh trong nước lạc quan (kinh tế vĩ mô đã ổn định, tăng trưởng khá cao), hoàn cảnh
quốc tế thuận lợi (các nước tiên tiến và các định chế tài chính quốc tế từ năm 1993 đã
quyết định hỗ trợ tài chính hằng năm cho ta, thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường với
Mỹ, FDI tăng nhanh, v.v.), Việt Nam đã tự tin hơn và quyết định gia nhập AFTA là đúng
đắn. Tuy nhiên, sau đó, Việt Nam bỏ mất thời cơ thu hút FDI để chuyển dịch cơ cấu và
tăng năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp. Hiện nay, khoảng cách phát triển
công nghiệp giữa Việt Nam và các nước ASEAN đi trước vẫn còn khá lớn.
Những áp lực cạnh tranh này trong khi khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất
nội địa nhìn chung vẫn còn rất thấp (theo một vài nguồn thống kê, chỉ 20% các doanh
nghiệp trong nước đang sử công nghệ hiện đại), sẽ đặt ra thách thức lớn đối với nền kinh
tế trong những năm tới. Bên cạnh đó, giá cả của các nguyên liệu đầu vào quan trọng như
than, điện, xăng dầu vốn được nhà nước trợ giá rất có khả năng sẽ tăng lên gần mức quốc

suất, còn có chính sách phi thuế: hàng hóa vào Việt Nam phải được kiểm tra chặt, bảo
đảm chất lượng, không gây hại, không được bán phá giá Dán tem là biện pháp duy nhất
để quản lý nhập khẩu, biện pháp đó chỉ có thể chống được hàng lậu trong lúc ta đang còn
bảo hộ.
3. Tác động đến nguồn thu ngân sách:
Tham gia AFTA và thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo CEPT chắc
chắn sẽ tác động tới nguồn thu cho ngân sách, ít nhất là trong giai đoạn đầu khi Việt Nam
thực sự cắt giảm thuế quan. Theo số liệu những năm gần đây, nhập khẩu từ các nước
ASEAN chiếm khoảng 20-23% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, trong khi đó, thuế
16
nhập khẩu (trừ dầu thô) đóng góp khoảng 25% tổng số thu ngân sách. Như vậy, về mặt số
học đơn thuần, khi cắt giảm thuế quan, rõ ràng nguồn thu ngân sách sẽ bị giảm.
Về dài hạn, AFTA sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất trong nước. Như vậy, cơ sở để
tính toán rằng, về dài hạn, phần giảm của thuế nhập khẩu do thực hiện CEPT sẽ được bù
lại bằng tăng thu do kim ngạch buôn bán tăng và tăng thu từ các loại thuế khác như thuế
giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập công ty
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là lý thuyết, thực tế còn phụ thuộc vào sự phát triển của
sản xuất trong nước, hiệu quả của hệ thống thuế và bộ máy thu thuế.
Bảng sau thể hiện tác động đối với ngân sách Việt Nam từ việc tự do hóa thuế quan
hàng hóa công nghiệp trong AFTA 2008
Imports Imports Tariff Tariff Tariff
Product Before
($’000)
Change in Revenue
($’000)
New
revenue($’000)
Change in
revenue($’000)
Consumer

18
Tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN, ASEAN và các đối tác, và rộng hơn,
hội nhập kinh tế quốc tế chỉ là điều kiện bên ngoài, là điều kiện cần cho sự phát triển của
đất nước.
Nếu môi trường kinh doanh không có tính cạnh tranh cao, thể chế kinh tế và thủ tục
hành chính không tốt, cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực không tốt. Tóm lại các
yếu tố nội sinh không tốt, sẽ không tận dụng hết được cơ hội và thách thức rất lớn.
Thực tế hiện nay đang phản ánh là cơ hội và thách thức đang tác động đan xen rất
phức tạp. Nhưng nhìn từ lợi ích tổng thể cả kinh tế và chính trị thì việc hội nhập ASEAN,
vị thế của Việt Nam đã được tăng lên khá rõ./.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status