ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC XỬ LÝ NHIỆT ĐỘ LẠNH ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN HOA CỦA GIỐNG HOA CÚC BẢN ĐỊA AUSTRALIA
(Rhodanthe floribunda)
Hà Minh Tuân
a
, Margaret E. Johnston
b
* Tóm tắt: Rhodanthe floribunda (Asteraceae) là giống hoa mới, có tiềm năng
phát triển sản xuất thương mại. Việc nghiên cứu sinh lý nở hoa bằng xử lý nhiệt
độ góp phần vào cung cấp hoa trái vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị
trường. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của thời gian xử
lý lạnh và tuổi cây ở giai đoạn xử lý lạnh đến sự phát triển hoa của giống này.
Thí nghiệm gồm 5 mức xử lý nhiệt độ lạnh (0, 3, 7, 14 và 21 ngày ở nhiệt độ
20/10
0
C và 11h chiếu sáng) và 4 nhóm tuổi cây trước khi xử lý lạnh (1 ngày, 1,
2 và 4 tuần tuổi). Sau đó, cây được trồng ở nhiệt độ 30/20
0
C, 11h chiếu sáng với
cường độ chiếu sáng là 380 ± 44 µmol m
-2
s
-1
. Các chỉ tiêu về phát triển hoa
được theo dõi trong suốt 23 tuần thí nghiệm. Kết quả cho thấy, giống R.
floribunda có yêu cầu không bắt buộc về nhiệt độ lạnh để phát triển hoa. Thời
gian xử lý lạnh dài nhất (3 tuần) và nhóm cây có tuổi cao nhất (4 tuần tuổi) có
tốc độ và lượng hoa nhiều nhất.
Từ khoá: nhiệt độ, sự nở hoa, tuổi cây, xử lý lạnh, xuân hoá.
1. Đặt vấn đề:
Nhiệt độ và ánh sáng là hai yếu tố có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
et al. 1992), trong đó, tuổi cây con trước khi xử lý nhiệt độ lạnh có ảnh hưởng
đến sự phát triển hoa (Cave & Johnston 2010).
Bởi vậy, mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định các ảnh hưởng của các
khoảng thời gian xử lý nhiệt độ lạnh và tuổi cây con trước khi xử lý nhiệt độ
lạnh đến sự phát triển hoa của giống cúc R. floribunda trong điều kiện ngày
ngắn.
2. Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu:
2.1. Vật liệu và điều kiện sinh trưởng trước khi xử lý nhiệt độ lạnh
Hạt của giống hoa thí nghiệm (thuộc họ Asteraceae) được thu thập ở quần
thể tự nhiên (- 27
0
57’748”S; 148
0
00’834”E) tại trạm Wallen, phía Tây Nam
Bang Queensland, Australia vào ngày 14 tháng 09 năm 2003. Sau đó hạt được
làm khô ở nhiệt độ 15
0
C, ẩm độ tương đối 15% và được bảo quản trong các lọ
thuỷ tinh ở nhiệt độ 5
0
C và ẩm độ 5% trong phòng lạnh của Phòng thí nghiệm
công nghệ giống của Bang Queensland, Trường Đại học Queensland trước khi
được sử dụng cho thí nghiệm nảy mầm. Hạt được gieo trên môi trường 1% agar
với GA
3
(50mgL
-1
) theo quy trình của Mullins et al. (2002) và Johnston et al.
(2004).
Sau một tuần, cây con được chuyển ra nhà kính (30/20
0
C, các cây được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn do
không có đủ khoảng trống cho thí nghiệm.
2.3. Các chỉ tiêu theo dõi
• Số ngày từ trồng đến khi xuất hiện nụ hoa đầu tiên
• Số ngày từ trồng đến khi hoa nở (tính đến ngày có hoa đầu tiên nở);
• Tổng số hoa/cây ở tuần thứ 6 sau trồng;
• Tổng số hoa ở tuần thứ 12 sau trồng;
• Tổng số hoa ở cuối thí nghiệm (tuần thứ 23);
• Trọng lượng hoa/cây ở cuối thí nghiệm (tuần 23)
2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu về phát triển hoa được phân tích bằng phần mềm Minitab (Release
14; Minitab Inc., PA, USA) với sự sai khác nhỏ nhất (LSD) được tính ở mức
xác suất 5%.
3. Kết quả và thảo luận:
Kết quả thí nghiệm cho thấy, R. floribunda có khả năng ra hoa trong điều
kiện không xử lý lạnh, do vậy có thể kết luận rằng R. floribunda không có yêu
cầu bắt buộc về nhiệt độ lạnh để nở hoa (Finnegan et al. 1998; Michaels &
Amasino 2000; McDonald & Kwong 2005).
Có 5% số cây ở công thức đối chứng (không xử lý lạnh) không ra hoa. Đồng
thời 12,5%; 17,5% và 2,5% số cây của các công thức đối chứng, công thức 3
ngày và 7 ngày xử lý lạnh xuất hiện nụ, nhưng không nở (số liệu không thể
hiện trong bảng). Trong khi, tất cả các cây ở công thức xử lý 14 và 21 ngày ở
nhiệt độ lạnh đều nở hoa và xuất hiện nụ đầu tiên sớm hơn công thức đối chứng
và công thức xử lý nhiệt độ lạnh trong thời gian 3 ngày. Những kết quả này
tương tự với kết quả nghiên cứu của Gleichsner & Appleby (1996), các tác giả
này đã phát hiện ra rằng thời gian xử lý nhiệt độ lạnh kéo dài (đến một giới hạn)
làm thời gian ra hoa ngắn lại ở cây ripgut brome (Bromus diandrus). Ở giống
hoa cúc ‘Cape’, Pearson et al. (1995) cũng cho thấy, xử lý cây ở nhiệt độ 12
0
21 ngày 42.60 (c) 59.63 (a) 1.3 (b) 52.3 (c) 68.52 (b) 0.224 (b)
P-value * * * *** * *
Tuổi cây
1 ngày 55.23 (a) 74.11 (c) 0.7 (a) 14.9 (a) 18.33 (a) 0.041 (a)
1 tuần 47.42 (b) 64.92 (ab) 0.7 (a) 24.1 (ab) 24.44 (a) 0.060 (ab)
2 tuần 49.69 (ab) 67.32 (b) 0.5 (a) 30.9 (b) 52.48 (b) 0.146 (b)
4 tuần 50.34 (ab) 61.83 (a) 0.8 (a) 47.5 (c) 83.38 (c) 0.340 (c)
P-value * * n.s. *** *** ***
CD*Tuổi n.s. n.s. n.s. n.s. n.s. n.s.
Thí nghiệm được kết thúc sau 23 tuần, tính từ khi trồng. Hoa được sấy ở nhiệt độ 60
0
C trong vòng 24 tiếng. Các
chữ khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa; n.s: không sai khác có ý nghĩa; * P<0.05, **P<0.01, ***P<0.001.
CD*Tuổi: sự tương tác giữa thời gian xử lý lạnh và tuổi cây.
Xử lý nhiệt độ lạnh trong vòng 3 ngày đã làm kéo dài thời gian xuất hiện nụ
(Bảng 1). Kết quả này cho thấy thời gian xử lý lạnh có thể chưa đủ để cây
chuyển sang giai đoạn cảm ứng hình thành hoa ổn định như đã được báo cáo ở
nhiều nghiên cứu về hiện tượng xuân hoá (Michaels & Amasino 2000;
McDonald & Kwong 2005; Taiz & Zaiger 2006), ở đó khoảng nhiệt độ xử lý
xuân hoá phổ biến là 0-7
0
C, trong khi nhiệt độ áp dụng trong thí nghiệm này là
20/10
0
C. Đồng thời, theo McDonald & Kwong (2005, p. 98), trạng thái cảm ứng
xuân hoá có thể bị phá vỡ khi cây bị chuyển sang điều kiện nhiệt độ nóng ngay
sau khi được xử lý xuân hoá ở 1 thời gian ngắn (thường là dưới 5 ngày).
Ngoài ra, xử lý nhiệt độ lạnh đã ảnh hưởng đến tổng số hoa và trọng lượng
hoa. Cây trồng được xử lý nhiệt độ lạnh trong vòng 21 ngày có nhiều hoa và
trọng lượng hoa cao hơn công thức đối chứng và các công thức xử lý lạnh 3 và
thí nghiệm, đã thúc đẩy tốc độ phát triển hoa nhanh hơn và ra nhiều hoa hơn ở
điều kiện 11h chiếu sáng. Nhìn chung, nhóm cây có tuổi cao nhất (4 tuần tuổi)
trước khi xử lý nhiệt độ lạnh có các chỉ tiêu về phát triển hoa cao hơn các công
thức còn lại.
5. Tài liệu tham khảo
SUMMARY
Title: EFFECTS OF CHILLING TREATMENTS ON FLORAL
DEVELOPMENT OF AUSTRALIAN NATIVE DAISY (Rhodanthe
floribunda)
Ha Minh Tuan
(a)
, Margaret E. Johnston
(b)
Summary: Rhodanthe floribunda (Asteraceae), a novel flower species, has a
great potential for commercial production. Manipulation of its flowering by
temperatures would contribute to off-season production to address the continued
market demands. This study aimed at determining the effects of chilling
durations and seedling ages prior to low temperature treatments on flowering of
this species. The experiment comprised five levels of chilling (0, 3, 7, 14 and 21
days under 20/10
0
C and 11h daylength) and four seedling ages before cold
induction (1 day, 1, 2 and 4 weeks old). After chilling, plants were moved to
30/20
0
C,11h photoperiod and ambient light (380 ± 44 µmol m
-2
s
-1
). The floral