Phương pháp sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực. - Pdf 13

Hoá học Năm học 2012-2013

PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoá học là một bộ môn khoa học tự nhiên, vừa lý thuyết vừa thực hành,
đây là một đặc trưng riêng của bộ môn Hoá học. Trong các phương pháp giảng
dạy ở các trường phổ thông mà các thầy cô giáo đang truyền thụ cho học sinh
qua các bài dạy: truyền thụ kiến thức mới, củng cố bài giảng, ôn tập , thì ngoài
các phương pháp như đặt vấn đề, thuyết trình các thầy cô giáo còn sử dụng các
thiết bị thí nghiệm làm minh chứng thêm cho bài giảng
Qua nghiên cứu các loại bài dạy Hoá học và thực tiễn của quá trình dạy
học, thấy rằng việc sử dụng thí nghiệm trong mỗi bài dạy là rất cần thiết, có thể
vận dụng ở trên lớp hoặc trong các phòng thí nghiệm của các Nhà trường. Dạy
học kết hợp với sử dụng thí nghiệm một cách thành công theo đúng mục đích
càng phát huy tính tích cực, trực quan sinh động, chủ động học tập của học sinh,
gây ra không khí học tập sôi nổi và đạt hiệu quả cao trong dạy học.
Để kiểm tra dự đoán và rút ra kết luận về tính chất hoá học của chất đòi hỏi
phải sử dụng thí nghiệm hoá học. Nếu không sử dụng thí nghiệm hoá học trong
dạy hoá học thì không thể đáp ứng theo yêu cầu đặc trưng bộ môn. Đồng thời
không đúng theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học
tích cực.
Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn đánh giá
tính chân thực của kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo và nó là phương
tiện duy nhất giúp hình thành ở học sinh kỹ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy kỹ
thuật.
Thí nghiệm có thể thực hiện được trong tất cả các khâu của quá trình dạy
học. Chẳng hạn thí nghiệm biểu diễn của giáo viên sử dụng trong nghiên cứu tài
liệu mới, hoặc trong khâu hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo (ôn tập, tổng
kết). Thông qua thí nghiệm, học sinh nắm kiến thức một cách hứng thú, vững
chắc, sâu sắc.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài: “Phương pháp sử dụng
thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực”.

- Thí nghiệm kiểm chứng nhằm kiểm tra dự đoán, những suy đoán lí thuyết.
- Thí nghiệm đối chứng nhằm rút ra kết luận đầy đủ chính xác hơn về một
qui tắc, tính chất của chất.
- Thí nghiệm nêu vấn đề (giúp học sinh phát hiện vấn đề).
- Thí nghiệm giải quyết vấn đề…
2. Qui trình thực hiện
Khi sử dụng thí nghiệm hoạt động của giáo viên và học sinh cần chú ý:
Bùi Ngọc Anh - THPT Ba Đình - 2 -
Hoá học Năm học 2012-2013

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH
- Giáo viên chọn thí nghiệm đảm
bảo:
+ Đạt mục tiêu của bài học.
+ Dễ thành công.
+ An toàn.
- GV hướng dẫn học sinh tiến hành
thí nghiệm.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan
sát thí nghiệm, nêu hiện tượng, giải
thích và rút ra kết luận.
- Biết được mục đích của thí nghiệm
và cách tiến hành thí nghiệm.
- Chuẩn bị dụng cụ, hóa chất.
- Tiến hành thí nghiệm theo đúng
hướng dẫn của giáo viên.
- Nêu hiện tượng, giải thích.
- Rút ra kết luận.
3. Sử dụng thí nghiệm trong bài lí thuyết
Sử dụng thí nghiệm được coi là tích cực khi thí nghiệm là nguồn kiến

Nếu có sử dụng thí nghiệm dạy học thì chủ yếu sử dụng thông qua các thí
nghiệm trình chiếu mà ít sử dụng thí nghiệm trực quan, các thí nghiệm trực quan
do giáo viên hoặc học sinh chủ yếu sử dụng trong các tiết có bài thực hành,
chính vì vậy cũng chưa mang tính thuyết phục cho học sinh vì Hóa học là bộ
mộn vừa có lý thuyết và thực hành kiểm chứng
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Sử dụng thí nghiệm theo hướng tích cực là thí nghiệm cung cấp kiến thức,
phương tiện để học sinh khai thác, tìm tòi theo phương pháp kiểm chứng,
phương pháp nghiên cứu….
Các cách sử dụng thí nghiệm:
Cách 1: Dùng thí nghiệm để kiểm nghiệm các giả thuyết, dự đoán trong
phương pháp nghiên cứu.
Cách 2: Dùng thí nghiệm để kết luận.
Sau đây là một số trường hợp sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích
cực:
1. Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm hoá học được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu được đánh
giá là phương pháp dạy học tích cực vì nó giúp học sinh nắm vững kiến thức
vững chắc, sâu sắc và phong phú cả về lí thuyết lẫn thực tế. Khi sử dụng phương
pháp này học sinh trực tiếp tác động vào đối tượng nghiên cứu, đề xuất các giải
thuyết khoa học, dự đoán, những phương án giải quyết vấn đề và lập kế hoạch
giải quyết ứng với từng giả thuyết. Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp
nghiên cứu, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh các hoạt động như sau:
- Học sinh hiểu và nắm vững vẫn đề cần nghiên cứu.
- Cho học sinh nêu các giả thuyết, dự đoán trên cơ sở lí thuyết đã biết.
- Lập kế hoạch giải ứng với từng giả thuyết.
- Chuẩn bị hoá chất dụng cụ, thiết bị để làm thí nghiệm xác nhận giải
thuyết, quan sát trạng thái các chất trước khi làm thí nghiệm.
- Xác nhận giải thuyết đúng thông qua kết quả thí nghiệm.
- Giải thích hiện tượng, viết các phương trình hóa học và rút ra kết luận.

¬
HBr + HBrO
C
6
H
5
OH + HBr

C
6
H
5
Br + H
2
O
+ Phản ứng xảy ra theo hướng nguyên tử Br thế nguyên tử H trong nhân
thơm.
- Giáo viên làm thí nghiệm nhỏ dung dịch phenol vào dung dịch Br
2
.
- Hiện tượng: Dung dịch Br
2
mất màu, có kết tủa trắng xuất hiện.
- Giáo viên cung cấp thông tin: Bằng thực nghiệm xác định chất kết tủa có công
thức C
6
H
3
OBr
3

+ TN 1: Không có hiện tượng gì xảy ra.
+ TN 2: Xuất hiện dung dịch màu xanh, khí không màu bay lên sau đó hoá nâu
trong không khí.
Giải thích: 3Cu + 8H
+
+ 2
3
NO



3Cu
2+
+ 2NO + 4H
2
O
2NO + O
2


2NO
2

Không màu màu nâu đỏ
Ion
3
NO

trong môi trường trung tính không có tính oxi hoá nhưng trong môi
trường axit lại có tính oxi hoá.

Giáo viên đặt vấn đề: Fe
3+
có phản ứng với Cu hay không ?
Lập kế hoạch giải với các giả thuyết:
- Nếu phản ứng không xảy ra thì sao ?

Không có hiện tượng gì.
- Nếu phản ứng xảy ra thì sao ?

Có 2 khả năng:
Trường hợp 1: + Có sắt bám trên mảnh Cu
+ Dung dịch có màu xanh.
Trường hợp 2:
+ Không có kim loại Fe bám trên Cu.
Bùi Ngọc Anh - THPT Ba Đình - 6 -
Hoá học Năm học 2012-2013

+ Dung dịch có màu xanh.
Cho học sinh tiến hành thí nghiệm để kiểm nghiệm:
Hiện tượng thu được:
+ Mảnh đồng vẫn sáng
+ Dung dịch có màu xanh.
Kết luận: Giả thuyết (2) đúng.
Giải thích: Dựa vào tính oxi hoá và tính khử của các cặp oxi hoá – khử trong
dãy điện hoá của kim loại.
Vậy: Cu + 2Fe
3+


2Fe

2
bị
nhạt màu
Học sinh quan sát và giải thích:
SO
2
+ Br
2
+ 2H
2
O

2HBr + H
2
SO
4
Giáo viên yêu cầu học sinh xác định số oxi hoá của S trước và sau phản ứng, từ
đó xác định tính chất của SO
2
.
* Về tính oxi hoá:
Cho học sinh làm thí nghiệm: Sục SO
2
dung dịch H
2
S thấy có xuất hiện kết tủa
màu vàng
SO
2
+ 2H

3
loãng thì thấy tạo khí không màu bị hoá
nâu ngoài không khí, còn khi cho Cu tác dụng với dung dịch HNO
3
đặc thì tạo
khí màu nâu ngay.
3Cu + 8HNO
3

(loãng)


3Cu(NO
3
)
2
+ 2NO

+ 4H
2
O
2NO + O
2


2NO
2
Cu + 4HNO
3



N
2
O
4
;
H O∆ <
Đối với phản ứng toả nhiệt khi tăng nhiệt độ cân bằng dịch chuyển theo chiều
thu nhiệt tức là chiều nghịch là chiều tạo ra NO
2
, khi đó nồng độ NO
2
tăng lên
làm cho màu nâu ở ống (3) càng đậm hơn. Ống (2) làm lạnh ống nghiệm tức là
làm giảm nhiệt độ do đó cân bằng dịch chuyển theo toả nhiệt (chiều thuận) tạo
ra N
2
O
4
, nồng độ của NO
2
giảm nên màu nâu nhạt đi.
4. Dùng thí nghiệm tạo tình huống có vấn đề
Quy trình của phương pháp nêu và giải quyết vấn đề thường được sử dụng
là:
+ Đặt vấn đề, giới thiệu thí nghiệm.
+ Tổ chức cho học sinh tái hiện lại kiến thức cũ có liên quan
+ Học sinh dự đoán thí nghiệm xảy ra, những thí nghiệm để kiểm tra những
dự đoán đó.
Ví dụ 1: Tính khử của Fe

nâu.
Khi đó xuất hiện mâu thuẫn có phản ứng xảy ra giữa 2 muối có cùng ion gốc
axit.
Giáo viên đặt vấn đề: Có phải phản ứng trao đổi ion không ?
Giải thích:
Phản ứng có xảy ra theo:
Fe
2+
+ Ag
+

→
Fe
3+
+ Ag
Đây không phải là phản ứng trao đổi ion.
Gợi ý học sinh giải thích theo quan điểm oxi hoá – khử và dựa vào thứ tự tính
oxi hoá, tính khử trong dãy điện hoá.
Ví dụ 2: Khi dạy đến tính hoá học của NH
3
về khả năng hình thành phức chất.
Có thể làm thí nghiệm sau:
Cho từ từ NH
3
đến dư lần lượt vào dung dịch: FeCl
3
, AlCl
3
, CuCl
2

+ FeCl
3

→
Fe(OH)
3


+ 3NH
4
Cl
3NH
3
+ 3H
2
O

+ AlCl
3

→
Al(OH)
3


+ 3NH
4
Cl
2NH
3

2
tạo phức với dung dịch NH
3
.
5. Sử dụng thí nghiệm trong bài luyện tập.
Sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong giờ luyện tập, ôn tập không phải lặp
lại những thí nghiệm đã biểu diễn mà có thể dùng các thí nghiệm mới, có những
dấu hiệu chung của thí nghiệm đã làm, nhưng có dấu hiệu mới để củng cố, chỉnh
lí, khắc sâu kiến thức, khắc phục suy luận sai lầm.
Bùi Ngọc Anh - THPT Ba Đình - 9 -
Hoá học Năm học 2012-2013

Ví dụ 1: (Thí nghiệm vui) Khi luyện tập về nhôm và hợp chất của nhôm có
thể tiến hành thí nghiệm vui: “Thu khói và tàn thuốc lá”:
* Giáo viên làm thí nghiệm:
- Châm điếu thuốc lá trên bàn.
- Cốc thuỷ tinh sạch thứ nhất: Lau bằng miếng bông tẩm NH
3
đặc, đồng
thời lau mặt tấm kính bằng dung dich HCl đặc rồi đậy lên miệng cốc
- Tẩm dung dịch Hg(NO
3
)
2
đặc lau vào miếng nhôm đậy lên cốc thuỷ tinh
thứ 2.
* Hiện tượng: “Khói thuốc lá” chui vào cốc thứ nhất qua tấm kính; “Tàn thuốc
lá” chui vào cốc thứ 2 qua tấm nhôm.
* Yêu cầu học sinh giải thích và tìm ra các chất được tìm các chất dược dùng
trong quá trình thao tác của thí nghiệm.

O
3
ghi mọc dài giống
như tan thuốc lá.
Ví dụ 2: Hãy làm thí nghiệm hóa học xác nhận Cu hoạt động hóa học kém
hơn Zn và Fe, nhưng hoạt động hóa họa mạnh hơn Ag? Trong phòng thí nghiệm
có đầy đủ hóa chất và dụng cụ thí nghiệm.
* Học sinh suy nghĩ tìm hiểu việc chứng minh kim loại hoạt động thì có những
cách nào?
Cách 1: Kim loại tác dụng với hợp chất của kim loại kia (có thể dùng muối), có
đẩy kim loại ra khỏi hợp chất hay không?
Cách 2: Cho hai kim loại tác dụng với cùng một hợp chất, sau đó so sánh.
Học sinh có thể tự thể lựa chọn một trong 2 cách trên.
Chẳng hạn học sinh lựa chọn :
+ Cho Zn, Fe, Cu tác dụng với dung dịch H
2
SO
4
loãng hoặc dung dịch HCl.
+ Cho Cu tác dụng với dung dịch AgNO
3

* Học sinh tiến hành thí nghiệm để chứng minh nhận định của mình:
Bùi Ngọc Anh - THPT Ba Đình - 10 -
Hoá học Năm học 2012-2013

+ Cu không phản ứng, còn Zn và Fe phản ứng với dung dịch H
2
SO
4

- Các hóa chất, dụng cụ thí nghiệm cần bổ sung kịp thời theo từng tháng,
học kỳ và trong năm học
Bùi Ngọc Anh - THPT Ba Đình - 11 -
Hoá học Năm học 2012-2013

- Hàng tháng phụ tá thí nghiệm báo cáo các tiết dạy, số lượng và chất
lượng giảng dạy thí nghiệm của từng giáo viên bộ môn Hóa để phó Hiệu trưởng
phụ trách chuyên môn và tổ bộ môn trong cuộc họp tổ chuyên môn có ý kiến
đánh giá
- Phòng chuẩn bị thí nghiệm và phòng thí nghiệm cần đạt chuẩn, trong
phòng Thí nghiệm cần lắp đặt đầy đủ hạng mục công nghệ thông tin, máy
chiếu… các thiết bị tủ hốt, hệ thống nước, vệ sinh…
- Do phần kinh phí mua sắm dụng cụ thí nghiệm đạt chuẩn lớn mà kinh
phí của các Nhà trường hạn hẹp, nên cần có phương án xã hội hóa như trong một
học kỳ thì tính toán số tiền chi phí để một học sinh làm thí nghiệm hết bao
nhiêu rồi tính % để học sinh đóng góp
- Khi cấp đồ dùng thí nghiệm Sở cần yêu cầu đơn vị cung cấp hàng chất
lượng, tránh hàng kém chất lượng khi về các trường THPT không sử dụng hoặc
sử dụng một lần đã hư, như vậy lãng phí và chỉ làm chật các phòng hóa chất
XÁC NHẬN Thanh Hóa, ngày 24 tháng 05 năm 2013
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác
Người viết
Bùi Ngọc Anh
Bùi Ngọc Anh - THPT Ba Đình - 12 -
Hoá học Năm học 2012-2013

D- MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH HOÁ HỌC
Ở TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH - HUYỆN NGA SƠN - TỈNH THANH HOÁ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status