LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH BẢO HỘ HÀNG NỘI
CỦA VIỆT NAMThành phố Hồ Chí Minh
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường hàng hoá nội địa của Việt Nam những năm gần gặp phải không ít khó
khăn khi cạnh tranh với các mặt hàng nước ngoài. Đặc biệt khi Việt Nam mở cửa cho đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam cũng như ký kết các cam kết khi gia nhập các tổ chức quốc
tế. Ngoài những thuận lợi đạt được thì bên cạnh đó hàng nội đang rất nhiều khó khăn
trong sự cạnh tranh khắc nghiệt, đặc biệt khi gia nhập WTO. Hàng nội hơn bao giờ hết
cần sự quan tâm và đầu tư của chính phủ để có thể sống sót qua thời gian quá độ này.
Nếu chính phủ không đẩy mạnh, không xúc tiến năng nổ các chính sách bộ hộ hàng nội
địa thì chẳng bao lâu thị trường Việt Nam sẽ chỉ tràn đầy hàng ngoại nhập. Cùng với việc
đó là nên kinh tế Việt Nam dù gia nhập WTO cũng chỉ là bước lùi, sẽ hoà tan trong nền
tự do thương mại này.
Việt Nam cần phải thấy rõ tầm quan trọng trong việc đưa ra các chính sách bảo hộ
chính xác để hàng nội vượt qua thời kỳ khó khăn này thì sau này sẽ đúc kết ra được
những thương hiệu Việt Nam có thể vươn đến tầm quốc tế. Phải bảo hộ để có thể đứng
vững, để có thể xây dựng thương hiệu cũng như uy tín của Việt Nam trên thương trường
thế giới khi gia nhập WTO. Gia nhập WTO rõ ràng sẽ có rất nhiều lợi nhưng cũng rất
nhiều thách thức. Và việc bảo hộ là một trong hành động thiết thực và cấp thiết để Việt
Nam có thể vượt qua thách thức và đạt đến hành công.
Do đó nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo hộ hàng nội địa sẽ ảnh hưởng
thế nào đến nền kinh tế Việt Nam sau này nên đã chọn vấn đề này để phân tích, tìm hiểu
sâu thêm. Từ đó có cái nhìn xa hơn và sâu hơn về nên kinh tế đang hội nhập của Việt
Nam.
I. HIỆN TRẠNG HÀNG NỘI SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO:
Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào đầu năm 2007. Ngoài những lợi ích mà
quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ
thương mại tạm thời. Những biện pháp này cũng với thuế nhập khẩu vừa hạn chế sự nhập
khẩu hàng nước ngoài vào nội địa vừa bảo hộ hàng hoá trong nước tránh được sự cạnh
tranh khốc liệt.
Tuy nhiên khi gia nhập vào WTO với những ràng buộc cam kết thì hai hình thức
bảo hộ này sẽ dần bị gỡ bỏ hay nói cách khác là không còn được sử dụng rộng rãi nữa.
Đồng nghĩa với phải giảm thuế quan với hàng loạt mặt hàng nước ngoài nhập vào nội địa,
cùng với việc đối đãi hàng nội và hàng ngoại bình đẳng để thực hiện tiêu chí của WTO là
“tự do thương mại”. “Tự do tương mại” ở đây có nghĩa là không còn rào cản đối với bất
kỳ mặt hàng nào giữa các nước nước thành viên WTO. Điều này dẫn đến hiện trạng hàng
nội đang bị đe doạ lất lướt và cần sự bảo hộ của chính phủ. Do nhu cầu cấp thiết này
chính phủ không thể không tiến hành các chính sách cụ thể để giúp hàng nội địa tồn tại
và có đủ sức để tồn tại trong hàng loạt hàng ngoại nhập tốt hơn cả về chất lượng và hình
thức.
II. NỘI DUNG CÁC CHÍNH SÁCH BẢO HỘ HÀNG NỘI ĐỊA:
Để giải quyết tình trạng khó khăn hiện tại của hàng nội địa, chính phủ đã đưa ra
những chính sách phù hợp nhất cho từng mặt hàng, đồng thời không vi phạm những cam
kết đã ký với các tổ chức quốc tế đặc biệt là với WTO. Trong các chính sách đó nổi trội
nhất là 6 chính sách sau: ba công cụ quan trọng được sử dụng như rào cản thương mại
(chống phá giá, chống trợ cấp, tự vệ đặc biệt); giảm thuế nguyên liệu sản xuất; phát triển
công nghiệp để thay thế hàng nhập khẩu; hỗ trợ vay vốn cho doanh nghiệp; phát động
chiến dịch loại bỏ hàng nhái, hàng độc hại; cuộc vận động người Việt Nam dùng hàng
Việt Nam. Ta sẽ lần lượt phân tích từng chính sách sau đây.
1. Ba công cụ được sử dụng như rào cản thương mại:
Ba công cụ này được sử dụng thay cho hai chính sách là thuế hải quan và các rào
cảng phi thuế quan sau khi ký kết với WTO.
Đầu tiên là chính sách chống phá giá. Trước hết chúng ta phải hiểu tiêu chí để áp
dụng chống phá giá là gì ? Đó là khi một công ty bán một mặt hàng xuất khẩu thấp hơn
giá thông thường mà họ bán mặt hàng đó tại thị trường trong nước. Có nghĩa là khi một
mặt hàng nước ngoài vào Việt Nam lại có giá thấp hơn giá thị trường ở nước đó. Sau khi
trong nước thì trong các cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, cơ quan điều tra phải
chứng minh được tình trạng thiệt hại “nghiêm trọng” mà ngành sản xuất hàng hóa “tương
tự hoặc cạnh tranh trực tiếp” trong nước phải hứng chịu do việc gia tăng “bất thường”
của luồng hàng hóa nhập khẩu. Việc áp dụng biện pháp tự vệ phải đáp ứng được ba điều
kiện: Có sự gia tăng đột biến một cách tuyệt đối của hàng hóa nhập khẩu về khối lượng,
số lượng hoặc trị giá; Ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập
khẩu bị thiệt hại một cách nghiêm trọng; Thiệt hại nghiêm trọng mà ngành sản xuất trong
nước phải gánh chịu xảy ra hoặc bị đe dọa xảy ra là do sự gia tăng đột biến một cách
tuyệt đối của hàng hóa nhập khẩu về khối lượng, số lượng hoặc trị giá gây ra (“xác định
mối quan hệ nhân quả”).
Thông qua ba chính sách này Việt Nam đã có thể kiểm soát được những mặt hàng
nhập khẩu có hại cho hàng nội. Từ đó áp dụng chính sách thuế thích hợp để điều chỉnh,
ngăn chặn lượng hàng ngoại đang đe doạ hàng nội. Đây là một công đôi việc với Việt
Nam, vừa có thể hạn chế việc nhập khẩu lại vừa tạo điều kiện cho hàng nội có cơ hội
vương lên trong rừng hàng ngoại như hiện nay.
2. Giảm thuế nguyên liệu sản xuất:
Trong tình trạng kinh tế ngày một suy thoái nên nhu cầu dùng hàng rẻ và bền của
người Việt Nam ngày càng tăng cao thì hàng nội lại không thể đáp ứng được nhu cầu giá
cả đó. Dẫn đến tình trạng người tiêu dùng quay lưng với hàng nội địa thà sử dụng hàng
nhái giá rẻ. Với tình trạng đó chính phủ đã đề ra chính sách giảm thuế nhập khẩu đối với
nguyên liệu dùng trong việc sản xuất mặt hàng chính yếu trong nước. Ta cần hiểu rõ hàng
nội Việt Nam giá cả lại cao là do Việt Nam không thể tự sản xuất các nguyên liệu để tạo
ra những sản phẩm hoàn chỉnh như: các phụ tùng ô tô, các linh kiện điện tử, máy móc…
mà phải nhập từ nước ngoài. Đồng thời lại phải đạt được chuẩn do nhà nước đề ra về chất
lượng sản phẩm nên giá thành luôn phải cao không phù hợp với nhu cầu của người dân.
Trong khi hàng ngoại quốc lại không cần tốn một khoảng tiền lớn cho việc nhập khẩu
nguyên liệu, do các nước tiên tiến có thể tự sản xuất nguyên vật liệu vì vậy giá thành
cũng rẻ hơn, có sức cạnh tranh cao hơn. Vì thế mục đích giảm thuế này nhằm giúp cho
hàng nội địa có thể sản xuất với giá thành rẻ hơn cho ra số lượng lớn hơn dẫn đến giá cả
không cao nhưng vẫn giữ được chất lượng. Đây là một trong những nổ lực hiệu quả của
làm rõ về tầm quan trọng của chính sách này đối với việc bảo hộ hàng nội trong nước. Là
điều vô cùng cần thiết trong việc giảm giá hàng nội trong quá tự do thương mại hiện nay.
3. Phát triển công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu:
Chính sách này là bước tiến của chính sách giảm thuế nguyên liệu sản xuất. Vì
giảm thuế nguyên liệu chỉ là một bước đệm tạm thời không thể giải quyết dứt điểm việc
phụ thuộc vào việc nhập khẩu của hàng nội. Ta phải tự mình sản xuất được mới là thực
sự đứng vững trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Phát triển công nghiệp thay thể nhập
khẩu là một đường lối công nghiệp hóa theo đó quốc gia tiến hành công nghiệp hóa nỗ
lực thành lập và nuôi dưỡng các ngành công nghiệp trong nước để sản xuất ra các sản
phẩm thay thế hàng nhập khẩu. Chiến lược này đòi hỏi các biện pháp bảo hộ với những
ngành công nghiệp trong nước bằng cách dựng lên các hàng rào mậu dịch chống lại hàng
nhập khẩu và bằng các khoản trợ cấp. Có thể nói những chính sách trên đều cùng một
mục đích để thoả được yêu cầu cho chính sách phát triển công nghiệp này.
Chính sách này càng ngày càng thể hiện được sự hiệu quả hơn, điển hình là trường
hợp công ty Honda hoạt động ở tỉnh Vĩnh Phúc, như sẽ được phân tích chi tiết trong
Chương 11, tỷ lệ nội địa hoá tăng khá nhanh, từ 10% đến 66% trong năm năm (1998 đến
2002), vượt quá yêu cầu của Chính phủ Việt Nam (quy định tỷ lệ nội địa hoá tăng từ 10%
lên 60% trong vòng sáu năm). Hành động tích cực này có lẽ bắt nguồn từ kế hoạch và dự
tưởng về khả năng đẩy mạnh sản xuất của Honda (lượng xe máy sản xuất tăng đến một
quy mô nhất định sẽ tạo ra tính hiệu quả của thị trường cho sản phẩm công nghiệp phụ
trợ). Tuy tỷ lệ nội địa hoá của Honda tăng nhanh, song phân tích kỹ sẽ thấy vai trò của
doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp nội địa Việt Nam rất nhỏ. Phần lớn các bộ
phận, linh kiện và nhiều sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác đều do Honda tự sản xuất
trong nội bộ nhà máy hoặc mua từ các doanh nghiệp FDI khác.
4. Hỗ trợ vay vốn cho doanh nghiệp:
Đây là chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp khi vay vốn tại các ngân hàng nhà
nước. Ngân hàng sẽ hỗ trợ cho việc vay vốn trung và dài hạn với lãi suất thấp theo chính
sách nhà nước đề ra cho doanh nghiệp hưởng ưu đãi. Với tình hình các nhà đầu tư nước
ngoài mạnh tay bỏ vốn vào thị trường Việt Nam hiện nay thì ta có thể chắc chắn một điều
rằng các doanh nhân nhỏ và vừa Việt Nam sẽ không thể nào cạnh tranh về nguồn vốn lưu
của hàng Trung Quốc vốn đang rất bành trướng trên thị trường Việt Nam, vừa đảm bảo
cho sức khoẻ người dân trong nước.
6. Cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”:
Cuộc vận động này được chính phủ vận động vào năm 2009 và đến tận bây giờ
vẫn được tiến hành chủ yếu bằng hình thức tuyên truyền để nâng cao ý thức của người
dân. Các chính sách trên sẽ là vô hiệu quả nếu như nhận thức của người dân chúng ta
không ưa chuộng hàng quốc nội. Tâm lý của người tiêu dùng luôn quan niệm rằng hàng
ngoại vẫn luôn đẹp hơn, bền hơn, nhiều người dù hàng ngoại giá cả có mắc hơn vẫn thích
dùng hàng ngoại hơn. Đó chính là điều mà cuộc vận động này muốn nhắm vào – tâm lý
của người tiêu dùng. Chính người Việt Nam mới là nhân tố quan trọng để cứu lấy hàng
Việt Nam đang lâm tình trạng vào khó khăn.
Cuộc vận động với quy mô toàn quốc đã phổ biến khẩu hiệu này ở khắp mọi nơi,
nếu cùng kết hợp hiệu quả với những chính sách trên thì ắt hẳn người tiêu dùng sẽ không
quay lưng với hàng nội. Tinh thần của cuộc vận động này đang lan rộng trên cả nước,
điển hình như siêu thị Thái Hậu ở thị trấn Ba Đồn, tại đây những sản phẩm được bày bán
rất đa chủng loại. Từ nhóm hàng may mặc, nhóm thực phẩm đến nhóm mặt hàng tiêu
dùng đều mang nhãn hiệu "Made in Việt Nam", chỉ có một số lượng rất ít quần áo của
Trung Quốc được trưng bày chỉ đơn giản là để người tiêu dùng dễ dàng so sánh về chất
lượng cũng như giá thành.
Kết hợp với chính sách bài trừ hàng nhái, hàng độc hại của chính phủ thì dù các
sản phẩm hàng Việt Nam chất lượng cao có bước tiến còn chậm so với một số hàng ngoại
nhập nhưng chắc. Nhưng qua các sự cố như sữa Trung Quốc có melamine, thịt gà đông
lạnh nhập khẩu đã hết hạn sử dụng của Vinafood rất nhiều người không còn "dám" mua
những mặt hàng chỉ có một số chữ ngoại in trên bao bì mà không rõ chất lượng và khâu
kiểm duyệt như thế nào Trước tình hình này, nhiều người dân đã xem lại thói quen mua
sắm của mình và rất cân nhắc để chọn hàng nội hay hàng ngoại. Đó cũng là cơ hội cho
sản phẩm Việt vươn lên khẳng định vị trí của mình, tạo dựng niềm tin của khách hàng
bằng những sản phẩm tương tự nhưng có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phải chăng
hơn.
III. KẾT LUẬN: