Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam" - Pdf 95

XW

Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ
sản xuất của Việt Nam

38

II/ Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu
Việt Nam đã sử dụng
50
III/ Đánh giá tác động của các biện pháp phi thuế quan
Việt Nam đã sử dụng
63
Chương III: Đề xuất các biện pháp phi thuế quan Việt
Nam có thể áp dụng trong thời gian tới
I/ Cơ sở khoa học để duy trì các biện pháp phi thuế quan
trong việc bảo hộ sản xuất.
69
II/ Một số đề xuất về các NTM Việt Nam sẽ sử dụng để bảo hộ 71
Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 92
LỜI NÓI ĐẦU
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 3
Xu hướng toàn cầu hoá hiện đang được các quốc gia trên thế giới coi
là giải pháp tất yếu để đẩy mạnh và tháo gỡ những khó khăn của vấn đề
tăng trưởng kinh tế. Cũng như các nước khác trên thế giới, việc Việt
Nam không ngừng tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế không nằm
ngoài mục tiêu khai thác những ưu thế sẵn có trong nước cũng như tận
dụng những yếu tố bên ngoài về thị trường, vốn, công nghệ, phương
pháp quản lí tiên tiến. Tuy nhiên trước bối cảnh kinh tế thế giới với
nhiều biến động phức tạp và nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế
lạc hậu, có xuất phát điểm thấp so với các quốc gia khác trong khu vực

thuế để chúng thực sự hữu ích và phù hợp với các thông lệ quốc tế.
Với đề tài này ngoài việc thống kê, phân loại nhữ
ng biện pháp phi
quan thuế đã được sử dụng trên thế giới, kinh nghiệm áp dụng của một
số nước như Mĩ, Thái Lan và thực tiễn áp dụng của Việt Nam tôi cũng
xin đưa ra một vài ý kiến cá nhân mang tính chất tham khảo đối với vấn
đề xác định các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam trong thời gian
tới.
Do lần đầu tiên thực hiện một công việc nghiên cứu quy mô, đề tài
này không thể tránh kh
ỏi những hạn chế. Kính mong các thầy cô và các
bạn góp ý để cho đề tài được toàn vẹn hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ VÀ KINH NGHIỆM ÁP
DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 5
I/ XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA:
6
Toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia và vùng lãnh thổ phải hành động dựa
trên những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế nhất định trong thương mại và
đầu tư, dịch vụ như “nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
…”. Vấn đề này không phải quốc gia nào cũng có thể dễ dàng thực hiện được.
Thực tế cho thấy, quá trình toàn cầu hóa đang làm cho nền kinh tế của
các qu
ốc gia từng buớc vận động theo xu hướng mới, chuyển đổi nền kinh
tế, đưa nền kinh tế sang giai đoạn phát triển mới với cấp độ cao hơn và phạm
vi lớn hơn. Không thể nói chỉ có các nền kinh tế của các nước XHCN cũ
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
là ở trong giai đoạn chuyển đổ
i mà kể cả các nền kinh tế có trình độ phát
triển cao như nền kinh tế Mĩ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu … cũng ở trong
quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin và
kinh tế tri thức. Sự chuyển đổi này trở thành một hiện tượng phổ biến hiện nay.
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế của các quốc gia đang đặt ra hàng loạt
các vấn đề cần phải xử
lý, đặc biệt là chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển sang
cơ cấu kinh tế có các ngành sử dụng công nghệ cao, các ngành phát huy
được lợi thế so sánh và các ngành có khả năng cạnh tranh lâu dài trên thị
trường, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và những cải cách về
hệ thống quản lý kinh tế phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa cũng được đề cao.
Nói tóm lại, toàn cầu hóa diễn ra có tính gia tốc.
Đây là một quá trình
khách quan và là một xu hướng vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới
hiện nay. Việt Nam đang chủ động, tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu
hóa để thực hiện mục tiêu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Để đạt

ưu tiên phát triển theo chiến lược dài hạn.
Một lí do không thể không đề cập đến khi duy trì các biện pháp bảo hộ là
mong muốn cải thiện các ngành sản xuất nội địa. Bất cứ một quốc gia nào
trên thế giới đều có những chiến lược phát triển kinh tế nhất định và trong đó
luôn xác định những lĩ
nh vực ưu tiên đặc biệt. Nhưng để các doanh nghiệp
hoạt động trong những lĩnh vực này đạt được hiệu quả tối ưu và nâng cao
khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế nhà nước luôn phải có những ưu
đãi đặc biệt. Ví dụ điển hình là Mĩ một nước được coi là có nền kinh tế phát
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 8
triển nhất thế giới trong thời gian qua vẫn duy trì khá nhiều phương thức bảo
hộ đối với lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có cả những phương thức đi
ngược lại lợi ích thương mại quốc tế và bị nhiều phản kháng của các quốc
gia khác trên thế giới.
Một lí do riêng đối với các nước đang và chậm phát triển là họ phải
thường xuyên xem xét vấn đề
duy trì một cán cân thanh toán có lợi và cải
thiện nguồn ngân sách. Có thể dễ dàng nhận thấy các quốc gia đang và chậm
phát triển hầu hết đều có một cán cân thanh toán bị thâm hụt và một nguồn
ngân sách hạn hẹp vốn được tài trợ chủ yếu thông qua thu thuế và vay nợ
nước ngoài. Để tránh tình trạng đó các quốc gia có thể áp dụng nhiều hình
thức bảo hộ khác nhau nhằm phát triển những ngành hàng thay thế nhập
khẩu ho
ặc hướng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không cần
thiết hay xa xỉ từ đó hạn chế chi tiêu ngoại tệ và thu về nhiều hơn thông qua
xuất khẩu.
Xuất phát từ nguyên nhân thứ nhất bảo hộ còn giúp các quốc gia trên thế

trạng nền kinh tế Việt Nam và yếu tố khách quan là bối cảnh chung của nền
kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay.
Theo đánh giá chung thì nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế lạc
hậu,
đang chuyển hoá từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường,
các yếu tố của kinh tế thị trường chưa được tạo lập một cách đồng bộ và còn
nhiều khiếm khuyết. Hệ thống các qui phạm pháp luật công cụ quan trọng để
quản lí nhà nước của Việt Nam hiện nay cũng bị đánh giá là thiếu nhất quán
và quá chồng chéo, chưa tạo ra được môi trường pháp lí bình đẳ
ng cho các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Các chính sách tài chính tiền tệ,
xuất nhập khẩu cũng trong tình trạng tương tự. Vì vậy, trong quá trình xây
dựng một môi trường kinh tế giàu tính cạnh tranh và lành mạnh hơn nhà
nước cũng cần có sự nâng đỡ hợp lí đối với các một số lĩnh vực nhất định
để tạo thế đòn bẩy cho toàn bộ nền kinh tế.
Bên cạnh đó không thể phủ
nhận một thực trạng là các doanh nghiệp
Việt Nam còn yếu kém về năng lực quản lí, nguồn nhân lực, khả năng thích
nghi và mang nặng tư tưởng dựa dẫm của một thời kì dài bao cấp. Việc ngay
lập tức thúc ép các doanh nghiệp này tự tạo lập một thế đứng vững chắc trên
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 10
thị trường trong nước đã là một nhiệm vụ quá khó khăn chứ chưa đề cập đến
thị trường khu vực và quốc tế. Hơn nữa ngay cả khi các doanh nghiệp Việt
Nam đã có một tiềm lực nhất định cũng không thể cho rằng họ không còn
cần tới sự bảo trợ của nhà nước nữa. Những doanh nghiệp hoạt động trong
các lĩnh vực công nghệ cao ngoài mong mu
ốn nhận được sự hỗ trợ về vốn

tạo được những lợi thế nhất định trong quá trình bắt kịp nhịp độ phát triển
chung và tạo điều kiện cho chúng ta tranh thủ hoàn thiện các yếu tố còn lại .
Cuối cùng cũng không thể không đề cập đến một lí do ít được đề cập đến đó
là để tạo lập một thế vững chắc trên trường quốc tế bảo hộ cũng là một công
cụ
để chúng ta có thể mang ra “mặc cả” để đổi lấy những ưu đãi chính trị
nhất định.
2.Các phương thức bảo hộ sản xuất trong nước:
2.1.Thuế và thuế quan:
Ngoài mục đích chính là thu ngân sách thuế còn là một biện pháp hướng
dẫn tiêu dùng và trong một chừng mực nào đó là một biện pháp hạn chế
nhập khẩu hữu hiệu.Việc đánh thuế nội địa hay thuế quan cao vào một mặt
hàng nhập khẩu sẽ có tác động không nhỏ tới việc thu hẹp cầu trong nước từ
đó dẫn đến hạn chế nhập khẩu những mặt hàng này. Bên cạnh thuế
và thuế
quan thì các biện pháp phi thuế cũng là một trong những công cụ hữu hiệu
để bảo hộ sản xuất trong nước. Đây cũng chính là nội dung mà đề tài muốn
đề cập tới.
2.2. Các biện pháp phi thuế:(NTM- non-tarrif measure)
Các biện pháp phi thuế được định nghĩa như tất cả các biện pháp khác
ngoài các biện pháp thuế quan được qui định về mặt pháp lí hay đơn thuần
tồn tại trên thực tế có ảnh hưởng đến mức độ hoặc phương hướng nhập
khẩu. Các biện pháp phi thuế quan có thể mang một hay nhiều thuộc tính
khác nhau như áp dụng ở biên giới hay nội địa, được duy trì một cách chủ
động hay bị
động, nhằm mục đích bảo hộ hay không bảo hộ, phù hợp hay
không phù hợp với thông lệ quốc tế
2.2.1.Ưu điểm:
a.Phong phú về hình thức : nhiều biện pháp phi thuế khác nhau có thể đáp
ứng cùng một mục tiêu, áp dụng cho cùng một mặt hàng

ngành một mặt hàng quan trọng đối với sức khỏe con người, còn có tác dụng
phân biệt đối xử với một số nước cung cấp nhất định.
c.Nhiều NTM chưa bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ
Do NTM th
ường mang tính mập mờ, mức độ ảnh hưởng không rõ ràng
như những thay đổi định lượng của thuế quan, nên tác động của chúng có
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 13
thể lớn nhưng lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách
này hay cách khác. Hiện nay các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh
việc sử dụng một số NTM nhất định. Trong đó, tất cả các NTM hạn chế định
lượng đều không được phép áp dụng, trừ trường hợp ngoại lệ.
Một số NTM khác tuy có thể nhằm mục tiêu h
ạn chế nhập khẩu, bảo hộ
sản xuất trong nước nhưng vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện
tuân thủ những quy định cụ thể, rõ ràng, khách quan. Chẳng hạn như tiêu
chuẩn kỹ thuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, tự vệ, thuế chống bán
phá giá, các biện pháp chống trợ cấp, thuế đối kháng, hỗ trợ nông nghiệp
dạng h
ộp xanh.
Ngoài ra, vẫn có thể tiếp tục áp dụng mà chưa bị yêu cầu cắt giảm hay
loại bỏ những NTM chưa xác định được sự phù hợp hay không phù hợp với
các quy định của WTO. Những NTM này có thể do WTO chưa có quy định
điều chỉnh hoặc có quy định nhưng rất chung chung và trên thực tế rất khó
có thể xác định được tính phù hợp hay không phù hợp với quy định đó, hoặc
chúng vẫn là một th
ực tế được thừa nhận chung. Chẳng hạn như yêu cầu đặt
cọc, trả thuế nhập khẩu trước, v.v

sản phẩm có thể dễ dàng được xác định bằng chính thuế suất đánh lên sản
phẩm đó thì mức độ bảo hộ thông qua NTM là tổ
ng mức bảo hộ của các
NTM riêng rẽ áp dụng cho cùng một sản phẩm. Bản thân mức độ bảo hộ của
mỗi NTM cũng chỉ có thể được ước lượng một cách tương đối. Cũng vì mức
độ bảo hộ của các NTM không dễ xác định nên rất khó xây dựng một lộ
trình tự do hóa thương mại rõ ràng như với bảo hộ chỉ bằng thuế quan.
b.Khó khăn, t
ốn kém trong quản lý
Vì khó dự đoán nên các NTM thường đòi hỏi chi phí quản lý cao và tiêu
tốn nhân lực của nhà nước để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát bằng
NTMs.
Một số NTM thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan
với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây
khó khăn cho bản thân các nhà hoạch định chính sách, quản lý, và các chủ
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 15
thể tham gia hoạt động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận thông
tin cũng như đánh giá tác động của các NTM này.
Các doanh nghiệp sản xuất chưa chú trọng đến tiếp cận thông tin và chưa
có ý thức xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, còn trông chờ vào
nhà nước tự quy định. Do đó, thực tế là các doanh nghiệp thường phải tốn
kém chi phí vận động hành lang để cơ
quan chức năng ra quyết định áp dụng
NTM nhất định có lợi cho mình.
Ngoài ra, có những NTM bị động là những NTM tồn tại trên thực tế
ngoài ý muốn của các nhà hoạch định chính sách như bộ máy quản lý
thương mại quan liêu, năng lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản

3. Các NTMs được sử dụng để bảo hộ:
3.1. Những căn cứ phân loại
3.1.1. Bảo hộ sản xuất trong nước:
Đây là thuộc tính quan trọng nhất của một NTM mà các nhà hoạch định
chính sách cần cân nhắc khi đưa ra quyết định có áp dụng chúng hay không.
Điều này phụ thuộc chủ yếu vào vấn đề phân tích và đánh giá thực trạng
kinh tế trong nước từ đó lựa chọn ngành bảo hộ, thời gian và mức độ bảo hộ.
3.1.2.Phù hợp với qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế:
Khi xây dựng chính sách thương mại nhằm hội nhập vào các tổ chức
thương mại quốc tế cần quan tâm đến những qui định của những tổ chức này
đặc biệt là những biện pháp đã có cam kết cắt giảm. Hiện tại Việt Nam đã
trở thành thành viên chính thức của ASEAN và APEC do đó việc cắt giảm
những biện pháp phi thuế cho phù hợp với những tổ chức này là vấn
đề bắt
buộc. Ngoài ra muốn trở thành thành viên chính thức của WTO-một tổ chức
thương mại có quy mô toàn cầu trong một tương lai gần, Việt Nam cần phải
cải cách mạnh mẽ hơn nữa những biện pháp thuế quan cũng như phi thuế
Các nguyên tắc và qui định của WTO thông thường cũng là những chuẩn
mực cho mối quan hệ giữa các quốc gia với các thể chế tài chính tiền tệ hay
cho các tổ
chức thương mại khác. Do đó có thể khẳng định chắc chắn rằng
việc thực hiện triệt để bước đầu các cam kết mở đường cho Việt Nam tham
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 17
gia WTO cũng đồng thời giúp Việt Nam phần nào đáp ứng được những cam
kết trong ASEAN và APEC.
3.2. Phân loại các NTM:
Trên cơ sở các thuộc tính nói trên của các NTM có thể phân loại các

18
 Hạn ngạch liên quan đến thực hiện xuất khẩu (6250)
 Hạn ngạch liên quan đến bán hàng hoá nội địa (6250)
 Hạn ngạch của các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (6270)
Ngăn cấm (6300). Bao gồm:
 Cấm hoàn toàn (6310):trừ trường hợp đối với lí do môi
trường, sức khoẻ, thuần phong mĩ tục,an ninh quốc phòng.
 Ngừng cấp giấy phép (6320)
 Cấm theo mùa (6330)
 Cấm tạm thời (6340)
 Đa dạng nhập khẩu (6350)
 Cấm trên cơ sở nguồn gốc (cấm vận) (6360)
 Cấm đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (6370)
Các thoả thuận hạn chế xuất khẩu (6600): các hạn chế được đặt ra bởi
nước nhập khẩu nhưng được nước xuất khẩu quản lí.
 Các tho
ả thuận hạn chế xuất khẩu tự nguyện (6610)
 Các thoả thuận tiếp thị có trật tự (6620)
 Thoả thuận đa dạng (6630)
 Thoả thuận hạn ngạch (6631)
 Thoả thuận tư vấn (6632)
 Thoả thuận hợp tác hành chính (6633)
 Thoả thuận hạn chế xuất khẩu hàng dệt may ngoài
MFA(6640)
Cấp phép không tự động (6100) được xác đị
nh như là các thủ tục hành
chính được sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình
đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ
quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để được phép nhập khẩu.
 Giấy phép không có tiêu chuẩn thanh toán cụ thể (6110)

đơn lãnh sự (2240)
 Thuế thống kê (2250)
 Thuế đối với các phương tiện giao thông (2260)
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 20
 Thuế và phụ phí đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm
(2270), và những loại thuế khác (2280)
Thuế và chi phí nội địa đánh vào nhập khẩu (2300)
 Thuế hàng hoá chung (2310)
 Thuế hàng hoá (2320)
 Thuế và phí tổn đối với hàng hoá thuộc hạng mục sản phẩm
nhạy cảm (2370)
Đánh giá hải quan theo qui định (2400)
Thuế hải quan và các chi phí khác đối với nhập khẩu chọn lọ
c có được
áp dụng trên cơ sở đánh giá theo qui định về hàng hoá. Biện pháp này được
đưa ra như một phương tiện để tránh gian lận hoặc bảo vệ công nghiệp trong
nước. Đánh giá hải quan theo qui định làm biến đổi thuế theo gía hàng thành
một dạng thuế đặc biệt.
Các biện pháp tượng đương thuế quan khác (2900).
c.Các biện pháp tài chính (4000)
Các biện pháp qui định sự tham gia và chi phí của việc chuyển đổi ngoại
tệ đố
i với việc nhập khẩu và xác định các điều kiện thanh toán.
Các yêu cầu thanh toán trước (4100)
Thanh toán trước các giá trị giao dịch nhập khẩu trong một thời gian
cho phép trước khi nhập khẩu và\ hoặc thuế nhập khẩu liên quan được yêu
cầu tại thời điểm giao dịch hoặc cấp giấy phép nhập khẩu.

những lí do xã hội tài chính hoặc kinh tế. Bao gồm:
Một kênh đố
i với nhập khẩu (7100) : tất cả việc nhập khẩu hoặc việc
nhập khẩu một loại hàng hoá chọn lọc phải thông qua các cơ quan nhà nước
hoặc các doanh nghiệp do nhà nước quản lí. Đôi khi các khu vực tư nhân
cũng dược ưu đãi những quyền nhập khẩu riêng biệt. Bao gồm:
 Quản lí thương mại nhà nước (7110)
 Cơ quan nhập khẩu duy nhất (7120)
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 22
Các dịch vụ quốc gia bắt buộc (7200): các quyền riêng biệt được
chính phủ thừa nhận về bảo hiểm quốc gia và các công ty vận tải biển đối
với toàn bộ hoặc một phần cụ thể của việc nhập khẩu.
 Bảo hiểm quốc gia bắt buộc (7210)
 Vận tải quốc gia bắt buộc (7220)
e.Các biện pháp liên quan đến đầu tư (9100)
Các biện pháp này bao gồm các chính sách phi thuế trong nước phân biệt
đối xử hoặc tạo ra những khó khăn trong sản xuất hoặc đầu tư của các nhóm
công ty từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến mức độ và thành phần xuất nhập
khẩu.
3.2.2. Nhóm 2 : PH và KBH
Các NTM thuộc nhóm này là các biện pháp hạn chế nhập khẩu dựa
trên những tiêu chuẩn rõ ràng được thừa nhận chung không mang tính chất
bảo hộ.
Các biện pháp kĩ thuật (8000)
Là các biện pháp đề cập đến sản phẩm có đặc trưng liên quan đến vấn đề
kĩ thuật như chất lượng, an toàn, kích cỡ, trong đó bao gồm các điều khoản
hành chính có thể được yêu cầu áp dụng cho một sản phẩm như thuật ngữ, kí

quan thẩm quyền về sức kho
ẻ trước khi ra khỏi hải quan hoặc yêu
cầu kiểm dịch đối với động thực vật sống.
Thẩm tra trước khi bốc hàng lên tàu (8200): Quản lí chất lượng, số lượng
và giá cả bắt buộc của hàng hoá trước khi di chuyển hàng từ nước xuất
khẩu,có hiệu lực bởi một cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu uỷ
thác. Quản lí giá nhằm mục đích tránh d
ưới mức và trên mức hoá đơn do đó
thuế hải quan không bị trốn tránh hoặc chuyển đổi ngoại tệ không bị thất
thoát.
3.2.3. Nhóm 3 : PH & BH
Các NTM thuộc nhóm này là các biện pháp có mục tiêu bảo hộ sản xuất
trong nước nhưng được các tổ chức thương mại quốc tế thừa nhận.Các biện
pháp thuộc nhóm này được gọi là các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
bao gồm:
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam 24
Các biện pháp chống bán phá giá (3400)
Các biện pháp chống bán phá giá là các qui định về mức thuế nhập khẩu
đặc biệt khi giá hàng hoá của các nước xuất khẩu bán phá giá vào nước nhập khẩu.
 Điều tra chống bán phá giá (3410)
 Thuế chống bán phá giá (3420)
 Cam kết giá cả (3430)
Các biện pháp chống trợ cấp (3500): Đánh thuế nhập khẩu đặc biệt để
chống trợ cấp của chính phủ nước ngoài đối vớ
i mặt hàng này. Bao gồm:
 Điều tra chống trợ cấp (3510)
 Thuế chống trợ cấp (3520)

cảnh cụ thể,
Năng lực yếu kém của hải quan (8320): thể hiện qua khả năng về chuyên
môn trong quá trình kiểm tra hàng hoá, làm thủ tục thông quan.
Tham nhũng (8350): là một trong những yếu tố phát sinh ngoài tầm kiểm
soát của các nhà hoạch định chính sách, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
thương mại cần phải loại bỏ.
Biể
u thuế hay thay đổi và thông tin về biểu thuế khó tiếp cận
Các văn bản liên quan đến thương mại không được công bố kịp thời,
công khai
III.KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC NTM CỦA MỘT SỐ NƯỚC:
1. Thực tiễn áp dụng các NTM của Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ là một cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới và là một trong
những thành viên sáng lập của GATT (WTO ngày nay). Mặc dù có tiềm
năng to lớn trong hầu hết mọi lĩnh vực sản xuất, nhưng theo qui luật về lợi
thế cạnh tranh tương đối, trong những năm qua, Hoa Kỳ đang phải đối mặt
với những thách thức rất lớn nhằm bảo hộ cho những ngành s
ản xuất đã suy
giảm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
1.1. Các biện pháp hạn chế định lượng:
1.1.1. Cấm:
Hoa Kỳ có qui định cấm nhập khẩu cá ngừ với lí do tránh bắt phải cá heo
một cách không cố ý khi đánh bắt cá ngừ. Luật bảo vệ động vật có vú ở biển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status