Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam - Pdf 10

X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
Mục lục
Trang
Lời nói đầu 3
Chương I: Lí luận chung về bảo hộ và kinh nghiệm áp dụng
các biện pháp phi thuế quan của một số nước trên thế giới”
I/ Xu hướng toàn cầu hóa 5
II/ Sự cần thiết của các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước 7
III/ Kinh nghiệm áp dụng các biện pháp phi thuế quan
của một số nước trên thế giới
24
Chương II: Đánh giá các biện pháp phi thuế quan của Việt
Nam trong thời gian qua (1996 – 2000)
I/ Thực trạng thương mại và khả năng cạnh tranh của
Việt Nam thời kỳ 1996 – 2000
38
II/ Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu Việt
Nam đã sử dụng
50
III/ Đánh giá tác động của các biện pháp phi thuế quan
Việt Nam đã sử dụng
63
Chương III: Đề xuất các biện pháp phi thuế quan Việt
Nam có thể áp dụng trong thời gian tới
I/ Cơ sở khoa học để duy trì các biện pháp phi thuế quan trong
việc bảo hộ sản xuất.
69
II/ Một số đề xuất về các NTM Việt Nam sẽ sử dụng để bảo hộ 71
Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 92
LỜI NÓI ĐẦU

ra hướng tiếp cận tối ưu thị trường khu vực và quốc tế. Ngoài ra kinh
nghiệm rút ra trong quá trình nghiên cứu cũng có giá trị không nhỏ đối
với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống các công cụ bảo hộ phi
thuế để chúng thực sự hữu ích và phù hợp với các thông lệ quốc tế.
3
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
Với đề tài này ngoài việc thống kê, phân loại những biện pháp phi
quan thuế đã được sử dụng trên thế giới, kinh nghiệm áp dụng của một
số nước như Mĩ, Thái Lan và thực tiễn áp dụng của Việt Nam tôi cũng
xin đưa ra một vài ý kiến cá nhân mang tính chất tham khảo đối với vấn
đề xác định các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam trong thời gian
tới.
Do lần đầu tiên thực hiện một công việc nghiên cứu quy mô, đề tài
này không thể tránh khỏi những hạn chế. Kính mong các thầy cô và các
bạn góp ý để cho đề tài được toàn vẹn hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ VÀ KINH NGHIỆM ÁP
DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI
I/ XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA:
Toàn cầu hoá là một xu hướng vận động nổi bật hiện nay trong nền kinh
tế thế giới. Nó lôi cuốn tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ vào một nền
kinh tế toàn cầu thống nhất và duy nhất. Tất cả những quốc gia và vùng lãnh
4
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
thổ nào không hội nhập vào quá trình này tất yếu sẽ rơi vào tình trạng tụt
hậu trong phát triển.
Toàn cầu hóa kinh tế được thể hiện rõ nét thông qua hai quá tình chủ yếu
là toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu sản xuất. Toàn cầu hóa thị trường
được thể hiện ở sự loại bỏ dần các quá trình và rào cản chia cắt thị trường để

triển cao như nền kinh tế Mĩ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu … cũng ở trong
quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin và
kinh tế tri thức. Sự chuyển đổi này trở thành một hiện tượng phổ biến hiện nay.
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế của các quốc gia đang đặt ra hàng loạt
các vấn đề cần phải xử lý, đặc biệt là chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển sang
cơ cấu kinh tế có các ngành sử dụng công nghệ cao, các ngành phát huy
được lợi thế so sánh và các ngành có khả năng cạnh tranh lâu dài trên thị
trường, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và những cải cách về
hệ thống quản lý kinh tế phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa cũng được đề cao.
Nói tóm lại, toàn cầu hóa diễn ra có tính gia tốc. Đây là một quá trình
khách quan và là một xu hướng vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới
hiện nay. Việt Nam đang chủ động, tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu
hóa để thực hiện mục tiêu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Để đạt
được mục tiêu này, Việt Nam cũng đang tiến hành xây dựng lộ trình phù
hợp, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và tiếp đến là kinh tế toàn cầu.
II/ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ SẢN XUẤT
TRONG NƯỚC:
1.Sự cần thiết của các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước:
1.1. Tính thiết yếu chung của bảo hộ đối với các quốc gia trên thế giới:
Bảo hộ là công cụ phổ biến được chính phủ các nước sử dụng để nâng
đỡ các doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp có ảnh
6
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
hưởng đến nền kinh tế quốc dân hoặc các doanh nghiệp tập trung nguồn
nhân lực và tài chính lớn. Minh hoạ thực tế rõ ràng nhất có thể nhận thấy ở
các nước đang phát triển như các nước châu Mĩ latinh, Asean nơi tồn tại số
lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ở
các quốc gia này đều là các doanh nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề cạnh
tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc tế mà nguyên nhân sâu xa có thể
là thiếu vốn, hạn chế trong vấn đề đào tạo nhân lực hoặc thậm chí là yếu

xuất khẩu.
Xuất phát từ nguyên nhân thứ nhất bảo hộ còn giúp các quốc gia trên thế
giới duy trì việc làm cho những tổ chức hoặc nhóm người nhất định và giảm
bớt những sức ép về chính trị từ các tổ chức đoàn thể. Nguyên nhân này là
một trong những nguyên nhân chủ yếu để chính phủ các nước có nền kinh tế
đang chuyển đổi duy trì các biện pháp bảo hộ đối với một số ngành nhất
định. Điều này cũng tương tự đối với vấn đề bảo hộ một số ngành ở các
quốc gia có nền kinh tế khá phát triển như Mĩ và các nước thuộc liên minh
châu Âu. Để bảo hộ ngành công nghiệp dệt may vốn là ngành kinh tế thu hút
khá nhiều lao động EU đã đưa ra những thoả thuận về hạn chế xuất khẩu tự
nguyện với các nước khác đặc biệt là các nước có nguồn nguyên liệu phong
phú và lực lượng nhân công rẻ mạt.
Đối với các quốc gia có tiềm lực cả về kinh tế và chính trị các biện pháp
bảo hộ còn có thể được duy trì như một công cụ chính trị để đơn phương
gây sức ép với các quốc gia khác. Mặc dù đây là mục đích hết sức cá biệt
trong một thế giới ngày càng phát triển theo hướng đa cực song trên thế giới
hiện tượng này đã và đang tiếp tục xảy ra. Mĩ là quốc gia lạm dụng công cụ
bảo hộ nhiều nhất vào mục đích này. Trong luật pháp Hoa Kì có những điều
8
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
khoản đặc biệt cho phép quốc hội đưa ra những biện pháp thương mại đơn
phương đối với bất cứ quốc gia nào được coi là có thể đe doạ đến vấn đề an
ninh của nước Mĩ.
1.2. Sự cần thiết phải bảo hộ đối với Việt Nam:
Những lí do chủ yếu đối với vấn đề bảo hộ nền kinh tế Việt Nam xuất
phát từ hai yếu tố chủ quan và khách quan trong đó yếu tố chủ quan là thực
trạng nền kinh tế Việt Nam và yếu tố khách quan là bối cảnh chung của nền
kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay.
Theo đánh giá chung thì nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế lạc
hậu, đang chuyển hoá từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường,

phát huy được tính chất tích cực đối với nền kinh tế.
Đứng trước xu thế khách quan của tự do hoá thương mại và quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng cần duy trì các phương thức bảo hộ vì
những nguyên nhân nhất định. Thứ nhất trong quá trình tự do hoá thương
mại nền kinh tế Việt Nam không thể tránh được những tác động xấu như sự
xâm nhập của hàng hoá, sự lũng đoạn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài... Nếu không có chiến lược bảo hộ sản xuất phù hợp nền kinh tế
của chúng ta sẽ phát triển bất cân xứng và phụ thuộc nặng nề vào các yếu tố
bên ngoài. Thứ hai để hoà nhập vào một nền kinh tế chung vốn đã phát triển
hơn chúng ta rất nhiều Việt Nam cần cải thiện khả năng cạnh tranh trên
phương diện quốc gia cũng như trên phương diện doanh nghiệp/ngành. Các
biện pháp hỗ trợ mang tính cấp thiết sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam
tạo được những lợi thế nhất định trong quá trình bắt kịp nhịp độ phát triển
chung và tạo điều kiện cho chúng ta tranh thủ hoàn thiện các yếu tố còn lại .
Cuối cùng cũng không thể không đề cập đến một lí do ít được đề cập đến đó
là để tạo lập một thế vững chắc trên trường quốc tế bảo hộ cũng là một công
10
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
cụ để chúng ta có thể mang ra “mặc cả” để đổi lấy những ưu đãi chính trị
nhất định.
2.Các phương thức bảo hộ sản xuất trong nước:
2.1.Thuế và thuế quan:
Ngoài mục đích chính là thu ngân sách thuế còn là một biện pháp hướng
dẫn tiêu dùng và trong một chừng mực nào đó là một biện pháp hạn chế
nhập khẩu hữu hiệu.Việc đánh thuế nội địa hay thuế quan cao vào một mặt
hàng nhập khẩu sẽ có tác động không nhỏ tới việc thu hẹp cầu trong nước từ
đó dẫn đến hạn chế nhập khẩu những mặt hàng này. Bên cạnh thuế và thuế
quan thì các biện pháp phi thuế cũng là một trong những công cụ hữu hiệu
để bảo hộ sản xuất trong nước. Đây cũng chính là nội dung mà đề tài muốn
đề cập tới.

Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa
đảm bảo an toàn sức khỏe con người, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ
sản xuất nông nghiệp trong nước một cách hợp pháp. Hay cấp phép không tự
động đối với dược phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dược nội địa,
dành đặc quyền cho một số đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên
ngành một mặt hàng quan trọng đối với sức khỏe con người, còn có tác dụng
phân biệt đối xử với một số nước cung cấp nhất định.
c.Nhiều NTM chưa bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ
Do NTM thường mang tính mập mờ, mức độ ảnh hưởng không rõ ràng
như những thay đổi định lượng của thuế quan, nên tác động của chúng có
thể lớn nhưng lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách
này hay cách khác. Hiện nay các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh
việc sử dụng một số NTM nhất định. Trong đó, tất cả các NTM hạn chế định
lượng đều không được phép áp dụng, trừ trường hợp ngoại lệ.
12
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
Một số NTM khác tuy có thể nhằm mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ
sản xuất trong nước nhưng vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện
tuân thủ những quy định cụ thể, rõ ràng, khách quan. Chẳng hạn như tiêu
chuẩn kỹ thuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, tự vệ, thuế chống bán
phá giá, các biện pháp chống trợ cấp, thuế đối kháng, hỗ trợ nông nghiệp
dạng hộp xanh.
Ngoài ra, vẫn có thể tiếp tục áp dụng mà chưa bị yêu cầu cắt giảm hay
loại bỏ những NTM chưa xác định được sự phù hợp hay không phù hợp với
các quy định của WTO. Những NTM này có thể do WTO chưa có quy định
điều chỉnh hoặc có quy định nhưng rất chung chung và trên thực tế rất khó
có thể xác định được tính phù hợp hay không phù hợp với quy định đó, hoặc
chúng vẫn là một thực tế được thừa nhận chung. Chẳng hạn như yêu cầu đặt
cọc, trả thuế nhập khẩu trước, v.v...
2.2.2.Nhược điểm:

b.Khó khăn, tốn kém trong quản lý
Vì khó dự đoán nên các NTM thường đòi hỏi chi phí quản lý cao và tiêu
tốn nhân lực của nhà nước để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát bằng
NTMs.
Một số NTM thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan
với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây
khó khăn cho bản thân các nhà hoạch định chính sách, quản lý, và các chủ
thể tham gia hoạt động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận thông
tin cũng như đánh giá tác động của các NTM này.
Các doanh nghiệp sản xuất chưa chú trọng đến tiếp cận thông tin và chưa
có ý thức xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, còn trông chờ vào
14
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
nhà nước tự quy định. Do đó, thực tế là các doanh nghiệp thường phải tốn
kém chi phí vận động hành lang để cơ quan chức năng ra quyết định áp dụng
NTM nhất định có lợi cho mình.
Ngoài ra, có những NTM bị động là những NTM tồn tại trên thực tế
ngoài ý muốn của các nhà hoạch định chính sách như bộ máy quản lý
thương mại quan liêu, năng lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản
pháp lý không được công bố công khai,...
c.Không tăng thu ngân sách, gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp:
Việc sử dụng các NTM phục vụ mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản
xuất trong nước hầu như không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho
nhà nước mà thường chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc ngành nhất
định được bảo hộ hoặc được hưởng ưu đãi, đặc quyền, như được phân bổ
hạn ngạch, được chỉ định làm đầu mối nhập khẩu. Điều này còn dẫn đến sự
bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế.
2.3. Sự kết hợp giữa hai biện pháp để bảo hộ sản xuất trong nước.
Các biện pháp thuế quan và NTM là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan
trọng đối với mọi quốc gia. Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, yếu đặc thù

mực cho mối quan hệ giữa các quốc gia với các thể chế tài chính tiền tệ hay
cho các tổ chức thương mại khác. Do đó có thể khẳng định chắc chắn rằng
việc thực hiện triệt để bước đầu các cam kết mở đường cho Việt Nam tham
gia WTO cũng đồng thời giúp Việt Nam phần nào đáp ứng được những cam
kết trong ASEAN và APEC.
3.2. Phân loại các NTM:
Trên cơ sở các thuộc tính nói trên của các NTM có thể phân loại các
NTM này thành bốn nhóm lớn với các thuộc tính sau:
16
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
- PH: phù hợp với những nguyên tắc và qui định của các tổ chức
thương mại quốc tế.
- KPH: không phù hợp với những qui định của các tổ chức thương mại quốc
tế.
- BH: có mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước.
- KBH : không có mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước
3.2.1.Nhóm 1:KPH
Các NTM thuộc nhóm này hoặc là vi phạm rõ ràng qui định của WTO ( ví
dụ áp dụng giá nhập khẩu tối thiểu để xác định trị giá tính thuế hải quan),
hoặc chỉ phù hợp trong những trường hợp đặc biệt (ví dụ cấm nhập khẩu
hàng hoá có hại cho môi trường). Do đó tất cả các biện pháp hạn chế nhập
khẩu sau đây đều thuộc nhóm này:
a.Các biện pháp quản lý định lượng
Hạn ngạch: là qui định của nhà nước về số lượng hoặc giá trị một mặt
hàng nào đó được nhập khẩu nói chung hoặc từ một thị trường nào đó, trong
một thời gian nhất định. Bao gồm:
- Hạn ngạch toàn cầu (6210)
1
1 Không xác định (6211)
K Xác định đối với các thành phần xuất khẩu (6212)

chính được sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình
đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ
quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để được phép nhập khẩu.
ư Giấy phép không có tiêu chuẩn thanh toán cụ thể (6110)
G Giấy phép đối với người mua chọn lọc (6120)
G Giấy phép đối với việc sử dụng cụ thể (6130)
G Liên quan tới thương mại xuất khẩu (6131)
18
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
X Đối với mục đích ngoài xuất khẩu( 6132
Đ Giấy phép liên quan đến sản phẩm địa phương (6140):
Bán hàng hoá địa phương (6141)
Yêu cầu nội dung địa phương (6142)
Y Thương mại trao đổi hoặc tính toán (6143)
T Giấy phép liên quan đến ngoại hối không chính thức (6150)
G Chuyển đổi ngoại tệ bên ngoài (6151)
C Chuyển đổi ngoại tệ của chính các nhà nhập khẩu (6152)
b.Các biện pháp tương đương thuế quan
Được định nghĩa như những biện pháp làm tăng chi phí theo cách tương
tự đối với các biện pháp thuế quan. Bao gồm:
Phụ phí hải quan (2100): còn được gọi là phí thu thêm hoặc thuế bổ
sung là một phương tiện chính sách thương mại độc lập để tăng thu nhập tài
chính hoặc bảo hộ công nghiệp trong nước.
Thuế và chi phí bổ sung (2200): Chi phí bổ sung bao gồm thuế và lệ
phí khác nhau đặt ra đối với hàng hàng hoá nhập khẩu cùng với thuế và phụ
phí hải quan .
p Thuế đối với các giao dịch chuyển đổi ngoại tệ (2210)
T Thuế gián tem (2220)
T Lệ phí giấy phép nhâp khẩu (2230)
L Lệ phí hoá đơn lãnh sự (2240)

cảm (4170): Việc gửi lại tiền gửi là chi phí được trả lại khi
các thùng hàng hoặc các sản phẩm đã sử dụng được trả lại hệ
thống giao nhận.
20
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
Tỷ giá hối đoái đa dạng (4200)
Xác định tỉ giá hối đoái chính thức hạn chế (4300)
Uỷ quyền ngân hàng (4320)
Yêu cầu giao lại chuyển đổi ngoại tệ (4400)
Các qui định liên quan đến các điều kiện chi trả đối với nhập khẩu (4500)
Các qui định cụ thể liên quan đến các điều kiện thanh toán của quá trình
nhập khẩu và việc đạt được và sử dụng tín dụng (nước ngoài và trong nước)
đối với vấn đề nhập khẩu tài chính.
Trì hoãn chuyển giao xếp hàng (4600)
d. Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp:
Các hạn chế đối với công ty cụ thể (đầu mối xuất nhập khẩu) (6700):
C Phê chuẩn chọn lọc các nhà nhập khẩu (6710)
P Hạn ngạch đối với công ty cụ thể (6720)
Các biện pháp độc quyền (7000)
Các biện pháp tạo nên một tình huống độc quyền,bằng cách đưa ra các
quyền riêng biệt cho một hoặc một nhóm hạn chế các nhà kinh doanh vì
những lí do xã hội tài chính hoặc kinh tế. Bao gồm:
Một kênh đối với nhập khẩu (7100) : tất cả việc nhập khẩu hoặc việc
nhập khẩu một loại hàng hoá chọn lọc phải thông qua các cơ quan nhà nước
hoặc các doanh nghiệp do nhà nước quản lí. Đôi khi các khu vực tư nhân
cũng dược ưu đãi những quyền nhập khẩu riêng biệt. Bao gồm:
c Quản lí thương mại nhà nước (7110)
Q Cơ quan nhập khẩu duy nhất (7120)
Các dịch vụ quốc gia bắt buộc (7200): các quyền riêng biệt được
chính phủ thừa nhận về bảo hiểm quốc gia và các công ty vận tải biển đối

X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
việc vận chuyển; hải quan (nước xuất xứ, cân nặng, kí hiệu
đối với nội dung nguy hiểm,...)
đ Yêu cầu nhãn mác (8130): Các biện pháp qui định loại hình
kích cỡ của việc in gói hàng hoặc/ và xác định thông tin nên
được cung cấp cho khách hàng.
đ Yêu cầu đóng gói (8140).: Các biện pháp qui định cách thức
về hàng hoá phù hợp với nước nhập khẩu về việc điều khiển
thiết bị hoặc vì các lí do khác và xác định nguyên liệu đóng
gói được sử dụng.
g Thử nghiệm, kiểm tra và yêu cầu kiểm dịch (8150) : Thử
nghiệm bắt buộc các mẫu sản phẩm bởi một phòng thí
nghiệm được uỷ quyền trong nước nhập khẩu, kiểm tra hàng
hoá bởi các cơ quan thẩm quyền về sức khoẻ trước khi ra
khỏi hải quan hoặc yêu cầu kiểm dịch đối với động thực vật
sống.
Thẩm tra trước khi bốc hàng lên tàu (8200): Quản lí chất lượng, số lượng
và giá cả bắt buộc của hàng hoá trước khi di chuyển hàng từ nước xuất
khẩu,có hiệu lực bởi một cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu uỷ
thác. Quản lí giá nhằm mục đích tránh dưới mức và trên mức hoá đơn do đó
thuế hải quan không bị trốn tránh hoặc chuyển đổi ngoại tệ không bị thất
thoát.
3.2.3. Nhóm 3 : PH & BH
Các NTM thuộc nhóm này là các biện pháp có mục tiêu bảo hộ sản xuất
trong nước nhưng được các tổ chức thương mại quốc tế thừa nhận.Các biện
pháp thuộc nhóm này được gọi là các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
bao gồm:
Các biện pháp chống bán phá giá (3400)
23
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam

Các thủ tục đặc biệt (8310): Các thủ tục không rõ ràng liên quan đến
việc quản lí hành chính của bất cứ biện pháp nào được nước nhập khẩu áp
dụng như nghĩa vụ nộp thông tin sản phẩm chi tiết hơn yêu cầu thông
thường trên cơ sở yêu cầu khai hải quan, yêu cầu sử dụng các địa điểm nhập
cảnh cụ thể,...
Năng lực yếu kém của hải quan (8320): thể hiện qua khả năng về chuyên
môn trong quá trình kiểm tra hàng hoá, làm thủ tục thông quan.
Tham nhũng (8350): là một trong những yếu tố phát sinh ngoài tầm kiểm
soát của các nhà hoạch định chính sách, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
thương mại cần phải loại bỏ.
Biểu thuế hay thay đổi và thông tin về biểu thuế khó tiếp cận
Các văn bản liên quan đến thương mại không được công bố kịp thời,
công khai
III.KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC NTM CỦA MỘT SỐ NƯỚC:
1. Thực tiễn áp dụng các NTM của Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ là một cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới và là một trong
những thành viên sáng lập của GATT (WTO ngày nay). Mặc dù có tiềm
năng to lớn trong hầu hết mọi lĩnh vực sản xuất, nhưng theo qui luật về lợi
thế cạnh tranh tương đối, trong những năm qua, Hoa Kỳ đang phải đối mặt
với những thách thức rất lớn nhằm bảo hộ cho những ngành sản xuất đã suy
giảm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
1.1. Các biện pháp hạn chế định lượng:
1.1.1. Cấm:
Hoa Kỳ có qui định cấm nhập khẩu cá ngừ với lí do tránh bắt phải cá heo
một cách không cố ý khi đánh bắt cá ngừ. Luật bảo vệ động vật có vú ở biển
25
X©y dùng mét sè biÖn ph¸p phi thuÕ b¶o hé s¶n xuÊt cña ViÖt Nam
ban hành vào năm 1972 của Hoa Kỳ cấm nhập khẩu cá ngừ và các sản
phẩm chế biến liên quan từ Mêhicô và các nước khác nếu phương pháp đánh
bắt cá ngừ dẫn đến bắt cả cá heo. Để ngăn ngừa các nước khác tránh bị điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status