Luận văn Đề tài Trả đũa thuế quan và sự triệt tiêu thương mại quốc tế - Pdf 13

LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI:
TRẢ ĐŨA THUẾ QUAN VÀ SỰ TRIỆT
TIÊU THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh
Phần I: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Thực tiễn hoạt động buôn bán giữa các nước trên thế giới hiện nay đã cho
thấy rõ xu hướng tự do hóa thương mại và vai trò của thương mại quốc tế với tăng
trưởng quốc tế của các nước. Thương mại quốc tế đã trở thành một lĩnh vực quan
trọng tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát
triển kinh tế và làm giàu cho đất nước mình.
Thương mại quốc tế ngày nay không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán
mà thể hiện sự phụ thuộc tất yếu của các quốc gia vào phân công lao động quốc
tế.vì vậy thương mại quốc tế được coi như là một tiền đề, một nhân tố để phát
triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động
và chuyên môn hóa quốc tế.
I. Thương mại quốc tế và lợi ích thương mại quốc tế, đặc trưng thương
mại quốc tế
1. Thương mại quốc tế là gì?
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ quan biên giới quốc
gia hoặc lãnh thổ. Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn
trong GDP. Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài
người, tầm quan trong kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một
cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây. Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng
với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa
quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài. Việc tăng cường thương mại quốc
tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá".
Thương mại quốc tế với tư cách là một khoa học cũng là một nhánh của kinh
tế học. Thương mại quốc tế hợp cùng tài chính quốc tế tạo thành ngành kinh tế học
quốc tế.
2. Lợi ích từ thương mại quốc tế

những đặc trưng riêng.
Quan hệ buôn bán trong nước là mối quan hệ giữa những người tham gia vào
quá trình sản xuất và lưu thông trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hóa
trong nước trong khi đó thương mại quốc tế thể hiện sự chuyên môn hóa và phân
công lao động ở trình độ cao hơn và quy mô hơn. Nó được phát triển trong một
môi trường hoàn toàn khác so với các quan hệ buôn bán trong nước.
Thương mại quốc tế là quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể của các nước
khác nhau, các chủ thể có quốc tịch khác nhau. Vì vậy liên quan đến thương mại
quốc tế là liên quan đến hàng loạt các vấn đề khác nhau giưa các nước. điều này
làm cho thương mại quốc tế phức tạp hơn rất nhiều so với các quan hệ buôn bán
trong nước.
Các đặc điểm riêng của thương mại có thể tóm gọn lại như sau:
- Trong thương mại quốc tế các nhà kinh doanh phải quan tâm đến không chỉ
một đồng tiền của quốc gia mình mà cần phải nắm rõ tình hình thị trường
tiền tệ, chính sách tiền tệ của các nước khác nữa để lựa chọn sử dụng một
đồng tiền thanh toán hợp lý nhất vì đồng tiền thanh toán trong thương mại
quóc tế là ngoại tệ đối với ít nhất là một bên tham gia.
- Trong thương mại quốc tế thì hàng hóa và dịch vụ được chuyển đi qua biên
giới của các quốc gia. Vì vậy quan hệ thương mại quốc tế phụ thuộc rất
nhiều vào chính sách thương mại của các nước, đặc biệt là việc quản lý
thương mại quốc tế thông qua các công cụ chinh sách như thuế, hạn ngạch
và các công cụ phi thuế quan. Chính phủ của các nước có thể sử dụng các
hàng rào để ngăn ngừa hay điều tiết luồng hàng hóa nhập khẩu để bảo hộ
cho các doanh nghiệp nội địa hay cũng có thế sử dụng các công cụ khác
như trợ giá để giúp các doanh nghiệp nội địa tăng khả năng cạnh tranh trên
thị trường. Ngoài ra do vận chuyển cũng trở nên phức tạp hơn rất nhiều, đòi
hỏi thêm nhiều hoạt động kèm theo như các thủ tục thông quan, vận chuyển
thường thông qua các hang vận tải, mua bảo hiểm cho hàng hóa.
- Các hàng hóa tham gia vào thương mại quốc tế phải phù hợp với quy định
của các nước về hcinsh sách mặt hàng và loại hàng hóa, dịch vụ mà thế giới

- Coi vàng bạc là hình thức của cải duy nhất => bị phê phán
- Gắn mức cung tiền cao với sự thịnh vượng của quốc gia
- Coi thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích bằng 0
 Nhìn chung thuyết trọng thương sớm đánh giá được tầm quan trọng của
thương mại quốc tế, coi trọng vai trò chủ thể, điều chỉnh quan hệ buôn bán
nước ngoài và nhà nước. Tuy nhiên quan điểm trọng thương về thương mại
còn đơn giản, ít tính lý luận, nặng tính kinh nghiệm, chưa cho phép giải
thích bản chất của thương mại quốc tế.
2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Là lý thuyết có tính hệ thống đầu tiên về thương mại quốc tế
Tác gia tiêu biểu: Adam Smith
Nội dung thuyết:
 Nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn so với quốc gia B và
quốc gia B có thế sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn quốc gia A thì lúc đó mỗi
quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có hiệu quả hơn và
xuất khẩu mặt hàng này sang bên quốc gia kia. Trong trường hợp này mỗi
quốc gia được xem là có lợi thế tuyệt đối về sản xuất từng mặt hàng cụ thể.
 Theo ông, mỗi nước có lợi thế khác nhau nên chuyên môn hóa sản xuất
những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối và đem trao đổi với nước
ngoài lấy những sản phẩm mà nước ngoài sản xuất có hiệu quả hơn thì các
bên đều có lợi
Ví dụ:
Mô hình 2-2 đơn giản gồm:
Hai quốc gia : Việt Nam – Hàn Quốc
Hai mặt hàng : cà phê và thép
Giả định:
Chi phí vận chuyển là không đáng kể và coi như bằng 0
Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được tự do di chuyển
giữa các ngành sản xuất trong nước nhưng không di chuyển được
giữa các quốc gia

Ngoài ra thương mại còn có thể làm tăng khối lượng sản xuất và tiêu dung
của toàn thé giới do mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà
mình có lợi thế tuyệt đối
Trường hợp 1: Tự cấp tự túc
Giả sử Hàn Quốc và Việt Nam,mỗi nước có 60 đơn vị lao động và số lao
động đó chia đều cho hai ngành sản xuất
Bảng 2.2. Sản lượng tiêu dung của hai nước trong trường hợp tự cung, tự
cấp
Việt Nam Hàn Quốc
Thép 6 10
Cà phê 15 5
Sản lượng của toàn thế giới lúc bấy giờ là 16 thép và 20 cà phê
Trường hợp 2: khi thương mại quốc tế được tiến hành trên cơ sở chuyên
môn hóa sản xuất theo quan điểm của lợi thế tuyệt đối, lượng lao động ở
mỗi nước sẽ được phân bố lại.
Giả sử 60 lao động của Hàn Quốc thì tập trung vào sản xuất thép và 60 lao
động của Việt Nam tập trung vào sản xuất cà phê,
Bảng 2.3. Sản lượng sản xuất của hai nước trong trường hợp thương mại
quốc tế được tiến hành
Việt Nam Hàn Quốc
Thép 0 20
Cà phê 30 0
Sản lượng của toàn thế giới lúc này là 30 cà phê và 20 thép.
 Thông qua chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi lượng hàng hóa
của toàn thế giới đã tăng lên lớn hơn mức sản xuất của mỗi nước
như trong trường hợp tự cung tự cấp. Vì vậy mỗi nước đều có thể
tiêu dung nhiều hơn lượng mà họ có thể sản xuất ra được trong
điều kiện không có trao đổi thương mại quốc tế . Mở rộng khả
năng tiêu dung ra khỏi đường giới hạn khả năng sản xuất trong
điều kiện tự cấp tự túc chính là động lực của trao đổi thương mại

Việt Nam Hàn Quốc
Thép 5 6
Cà phê 2 12
Hàn Quốc cần nhiều lao động hơn so với Việt Nam để sản xuất ra cả hai mặt
hàng
Theo lý thuyết tương đối thì việc Hàn Quốc không có lợi thế tuyệt đối so với
Việt nam cũng không cản trở trao đổi thương mại diễn ra giữa hai nước
Lợi thế tương đối được xác định trên cơ sở so sánh các mức giá tương quan
của hai hàng hóa. Giá tương quan của hai mặt hàng hóa được định nghĩa một cách
đơn giản là giá của mặt hàng này được tính bằng số lượng của mặt hàng kia. Trong
mô hình giản đơn trên, giá cả tương quan giữa cà phê và thép được xác định thông
qua chi phí lao động. từ bảng 3.1 có thế tính được các mức giá tương quan của cà
phê và thép như trong bảng 3.2 sau:
Bảng 3.2. Giá cả tương quan giữa hai hàng hóa
Việt Nam Hàn Quốc
Thép( 1 đơn vị) 2.5 cà phê 0.5 cà phê
Cà phê( 1 đơn vị) 0.4 thép 2 thép
Trong mô hình này, mặc dù Việt Nam có lợi thế về cả hai mặt hàng nhưng do
mức lợi thế về sản xuất cà phê lớn hơn mức lợi thế về sản xuất thép, thể hiện qua:
2/12 < 5/6 ( hay giá cà phê ở Việt Nam rẻ hơn một cách tương đối), cho nên nước
này có lợi thế tương đối về mặt cà phê.
Đối với Hàn Quốc, mặc dù có bất lợi tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng
nhìn chung Hàn Quốc vẫn có lợi thế về thép.
Nếu thay vì sử dụng 5 đơn vị lao động để sản xuất một đơn vị thép thì Việt
Nam dành 5 đơn vì này để sản xuất cà phê thì sẽ sản xuất được 2,5 đơn vị cà phê.
Trong điều kiện thương mại tự do nếu 2.5 đơn vị cà phê này được bán sang Hàn
Quốc với mức giá của quốc tế bằng mức giá của hàn quốc là 1 cà phê = 2 thép thì
việt nam sẽ thu về được 5 đơn vị thép, lợi hơn 4 đơn vị thép so với tự sản xuất
trong nước. tương tự, nếu hàn quốc dung 12 đơn vị lao động để sản xuất thép sẽ
được 2 đơn vị thép thay vì sản xuất 1 đơn vị cà phê và bán sang việt nam với mức

Sản xuất oto tăng =>nhu cầu vốn
tăng=> thừa vốn được giải quyết=> lãi
suất tăng
Sản xuất oto giảm=>cầu về vốn
giảm=>giảm tình trạng thiếu vốn=>lãi
suất giảm
Cân bằng lãi suất
Sản xuất quần áo giảm=> cầu lao
động giảm=>lương giảm
Sản xuất quần áo tăng=>cầu lao động
tăng=>lương tăng
Cân bằng lương
Thương mại quốc tê làm tăng thu nhập thực tế của cac yếu tố dư thừa và giảm
thu nhập thực tế của cá yếu tố khan hiếm
 Mô hình
a. Mô hình nền kinh tế có hai yếu tố sản xuất
Các giả định
Giả sử có hai mặt hàng vải (C-tính bằng mét) và thực phẩm (F-tính bằng
calo). Để sản xuất ra hai sản phẩm này cần đến hai đầu vào là lao động –L(giờ
công) và đất đai- T(ha)
Chúng ta có những ký hiệu sau:
- a
TC
: số ha đất được sử dụng để sản xuất môt mét vải
- a
LC
: số giờ công lao động để sản xuất một mét vải
- a
TF
: số ha đất được sử dụng để sản xuất một calorie thực phẩm

FF
T/L
Hình 4.2: giá cả đầu vào và lựa chọn nguồn lực
Chúng ta thấy đường CC nằm bên trái đường FF, nghĩa là ở một mức giá tương
đối w/r nhất định, sản xuất thực phẩm sẽ có tỷ lệ sử dụng đất /lao động nhiều hơn
sản xuất vải.
T
F
/L
F
>T
C
/
LC
VD: nếu sản xuất thực phẩm dùng 80 lao động và 200ha đất, trong khi sản xuất vải
dùng 20 lao động và 20ha đất, thì ta nói sản xuất thưc phẩm la sử dụng nhiều
đất( thâm dụng đất đai). Sản xuất vải sẽ sử dụng nhiều lao động (thâm dụng lao
động). độ thâm dụng như vậy phụ thuộc vào tỷ lẹ dùng đất so với lao động, chứ
không phụ thuộc vào tỷ lệ đất đai/ sản lượng đầu ra hoặc lao động/sản lượng. môt
sản phẩm không thể thâm dụng cả hai yêu tố sản xuất.
Chi phí yếu tố đầu vào và giá cả hàng hóa
Giả thiết nền kinh tế này sản xuất cả hai mặt hàng vải và thực phẩm (thực tế tham
gia vào thương mại quốc tế, một nước có thể chuyên môn hóa hoàn toàn, nhưng ta
tạm thời bỏ qua khả năng này). Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trong mỗi khu
vực sẽ khiên giá hàng hóa bằng chi phí sản xuất. chi phí sản xuất phụ thuộc vào
giá của các yếu tố sản xuất: nếu giá thuê đất cao hơn, các yếu tố khác không đôi
thì giá của sảm phẩm sử dụng nhiều đất sẽ cao hơn.
Tác động của giá đầu vào lên chi phí sản xuất một hàng hóa phụ thuộc vào việc
sản xuất hàng hóa đó cần bao nhiêu yếu tố đầu vào này. Nếu sản xuất vải cần rất ít
đất, thì dù giá thuê đất cao nó cũng không tác động nhiều đến giá vải, tuy nhiên lại

SS
III. Cơ sở và lợi ích của thương mại quốc tế
1. Phân tích trạng thái cân bằng khi không có mậu dịch
Khi chưa có mậu dịch một quốc gia đạt trạng thái cân bằng khi ddowngf con
bang quan cao nhất gặp đường giới hạn khả năng sản xuất tại điểm tiếp tuyến.
điểm này cho thấy sự cân bằng nội địa tại giá cả sản phẩm so sánh và biểu hiện lợi
thế so sánh quốc gia.
Giả sử thế giới có hai quốc gia với đường cong giới hạn khả năng sản xuất
như hình dưới đây. Khi không có mậu dịch:
- Điểm cân bằng của quốc gia I chính là điểm A – điểm gặp nhau giữa hai
đường bang quan và đường giới hạn khả năng sản xuất. Tức là tại điểm
này, quốc gia I đạt lợi ích cực đại của sản xuất và tiêu dùng.
- Tương tự như vậy điểm cân bằng của quốc gia II chính là điểm A’- điểm
tiếp tuyến giữa đường bang quan và đường giới hạn khả năng sản xuất.
Quốc gia II đạt lợi ích cực đại của tiêu dùng và sản xuất tại điểm này
Khi không có mậu dịch, giá cả sản phẩm so sánh cân bằng được xác định bởi
độ nghiêng của đường tiếp tuyến chung giữa đường giới hạn khả năng sản xuất
của quốc gia với đường bang quan tại điểm cân bằng ( tức là tại điểm tự cung tự
cấp của sản xuất và tiêu dùng ). Tại quôc gia I, giá cả sản phẩm so sánh cân bằng
khác nhau ở hai quốc gia bởi sự khác nhau về vị trí và hình dạng của đường sản
xuất và đường cong bang quan đại chúng.
Sp nông nghiệp Sp nông nghiệp
QUỐC GIA I QUỐC GIA II
A’
A I’
I
P
A

P

QUỐC GIA I I’
E E’
A’ II’
II B’
A
I
Sp công nghiệp Sp công nghiệp
Bắt đầu từ điểm A ( điểm cân bằng khi không có mậu dịch)
- Quốc gia I sẽ chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm nông nghiệp và chuyển
động xuống phía trên trên đường giới hạn khả năng sản xuất, gánh chịu chi
phí cơ hội tăng trong sản xuất sản phẩm nông nghiệp ( thế hiện độ nghiêng
giảm xuống của đường giới hạn khả năng sản xuất). Bắt đầu từ điểm A’
quốc gia 2 chuyên môn hóa sản xuất theo sản phẩm công nghiệp nên nó
chuyển động xuống phía dưới theo đường giới hạn sản xuất, gánh chịu chi
phí cơ hội tăng trong sản xuấtcông nghiệp thể hiện độ nghiêng tăng lên của
đường giới hạn sản xuất ( một sự giảm chi phí cơ hội của sản phẩm nông
nghiệp, nghĩa là làm tăng chi phí cơ hội đối với sản phẩm công nghiệp)
Quá trình chuyên môn hóa cứ tiếp tục cho đến khi giá cả sản phẩm so sánh
chúng ấy sẽ đạt tới ở đâu đó giữa Pa và Pá là những giá cả sản phẩm so sánh của
hai quốc gia trước khi có mậu dịch. Tại điểm này mậu dịch sẽ cân bằng.
Khi có mậu dịch sản xuất của quốc gia I chuyển động từ điểm A đến điểm B
trên đường giới hạn sản xuất. Tại đây, quốc gia I đổi một lượng sản phẩm nông
nghiệp lấy sản phẩm công nghiệp từ quốc gia II. Như vậy, quốc gia I sẽ tiêu dùng
tại điểm E trên đường bang quan II. Đó là mức thỏa mãn cao nhất mà quốc gia I có
thể đạt được nhờ mậu dịch với quốc gia 2 theo tỷ lệ trao đổi mới. Do đó nếu so
sánh với trước khi mậu dịch ( tức là điểm A và đường bang quan I ) thì quốc gia I
đã có lợi.
Tương tự như vậy sản xuất của hai quốc gia II chuyển động từ điểm A’ đến
điểm B’ trên đường giới hạn khả năng sản xuất và trao đổi một lượng sản phẩm
công nghiệp để lấy sản phẩm nông nghiệp từ quốc gia I. Cuối cùng quốc gia II sẽ

trong khi các mặt hàng chế tạo thường mong muốn được bảo hộ. Tình hình trong
hiện tại lại ngược lại, đặc biệt là ở các nước phát triển. Ở Hoa Kỳ, châu Âu và
Nhật Bản, những cuộc vận động hành lang đối với các lĩnh vực nông nghiệp là
nguyên nhân chính khiến cho trong đa số các hiệp định thương mại quốc tế, lĩnh
vực nông nghiệp có nhiều quy định mang tính chất bảo hộ hơn là những lĩnh vực
hàng hóa và dịch vụ khác.
Thương mại quốc tế thường được điều chỉnh bởi các quy tắc có tính toàn cầu
thông qua các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới, mặc dù cũng có mộ số
thoả thuận thương mại khu vực như AFTA giữa các nước ASEAN;
MERCOSUR giữa một số nước ở Nam Mỹ ; NAFTA giữa Hoa
Kỳ, Canada và Mexico; Liên minh Châu Âu giữa 25 quốc gia ở châu Âu. Có thể
kể thêm một số thỏa thuận thương mại quốc tế thất bại như Khu vực Mậu dịch Tự
do Châu Mỹ (FTAA) hay Hiệp định Đa phương về Đầu tư (MAI).
V. Rào cản thương mại quốc tế
Trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại”
(technical barriers to trade) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một
nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của
hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (Các biện pháp
kỹ thuật TBTs).
Phần II: THUẾ QUAN
I. Khái niệm, đặc điểm và tác dụng của thuế xuất khẩu, nhập khẩu
1. Khái niệm thuế xuất, nhập khẩu
Thuế xuất, nhập khẩu là loại thuế gián thu đánh vào các hàng hóa xuất,
nhập khẩu qua biên giới cửa khẩu Việt Nam kể cả hàng từ thị trường Việt Nam
vào phi thuế quan và từ khu phi thuế quan ra thị trường Việt Nam theo quy định.
2. Đặc điểm
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu, được cấu thành trong giá
cả hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu gắn chặt với hoạt động kinh tế đối ngoại của
mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.

từng nhóm hàng. Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định biểu thuế theo danh mục mặt
hàng có thuế suất cụ thể đối với từng mặt hàng.
- Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ
nước mà Việt Nam đã có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu. Chính phủ
quy định thuế suất ưu đãi đặc biệt cho từng mặt hàng theo thỏa thuận đã được ký
kết.
Ngoài 3 loại thuế suất trên, còn một số trường hợp có thể áp dụng thuế suất
bổ sung. Nếu hàng hoá nhập khẩu quá mức vào Việt Nam, có sự trợ cấp, được bán
phá giá hoặc có phân biệt đối xử đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thì bị
áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử,
thuế để tự vệ.
Thực chất của thuế suất bổ sung là loại thuế mang tính chất trừng phạt khi
các nước nhập khẩu có ý định bán phá giá làm phương hại đến nền kinh tế ở Việt
Nam. Loại thuế này do Chính phủ quy định được thường vụ Quốc hội chấp nhận
thông qua.
5. Tác động của thuế nhập khẩu đến nền kinh tế
Khi đánh thuế nhập khẩu, người sản xuất hàng trong nước được lợi nhưng
người tiêu dùng bị thiệt hại vì nó làm tăng giá của hàng nhập khẩu từ mức giá thế
giới lên bằng với giá thế giới cộng với thuế nhập khẩu. Đồ thị này chỉ ra tác động
của thuế nhập khẩu.
Khi thực hiện thương mại tự do cân bằng thị trường như sau: người tiêu dùng
muốn mua một số lượng Qd hàng hoá ở mức giá thế giới trong khi những nhà sản
xuất trong nước chỉ sản xuất một số lượng Qs ở mức giá thế giới. Bằng cách nhập
khẩu phần thiếu hụt (chênh lệch giữa Qd và Qs) ở mức giá thế giới, người tiêu
dùng có thể thoả mãn toàn bộ nhu cầu ở mức giá này.
Khi có thuế nhập khẩu cân bằng thị trường như sau: giá hàng hoá trong nước
bị tăng lên đến mức bằng giá thế giới công với thuế nhập khẩu kích thích những
nhà sản xuất trong nước sản suất thêm, đẩy sản lượng sản xuất trong nước từ Qs
lên Qs'. Tuy nhiên do giá tăng nên cầu của người tiêu dùng bị kéo từ Qd xuống
Qd'. Rõ ràng việc giá bị đẩy lên cao đã làm cho người tiêu dùng phải trả thêm một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status