Xây dựng hệ thống thương mại điện tử hướng dịch vụ - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ PHẦN MỀM

BÙI CAO HỌC – NGUYỄN VĂN TÝ
XÂY DỰNG HỆ THỐNG THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ HƯỚNG DỊCH VỤ
KHÓA LUẬN CỬ NHÂN TIN HỌC
NĂM 2009
MỤC LỤC
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
1. Tổng quan
Thương mại Điện tử (TMĐT) đã trở thành một trào lưu kinh doanh mới trên thế
giới hiện nay. Ở Việt Nam, trào lưu này đang dần càng phổ biến. Điển hình như
một số trang thương mại điện tử đã triển khai và hoạt động thành công tại Việt
Nam như: www.gophatdat.com, www.123mua.com, www.chodientu.com , … đã
chứng minh điều đó. Tuy nhiên, để sở hữu một website thương mại điện tử đối với
đại bộ phân doanh nghiệp Việt Nam là vừa và nhỏ hiện nay thì quả là một vấn đề
nan giải. Nhiều khi đó không phải là vấn đề tiền bạc và là những vấn đề liên quan
đến quản lý website, liên quan đến bảo mật thông tin, dữ liệu. Đó là cả một vấn đề
lớn.
1.1 Tín hiệu tích cực
Theo thống kê mới nhất, tính đến giữa năm 2005, Việt Nam đã có khoảng 10 triệu
người truy cập Internet, chiếm gần 12,5% dân số cả nước. Tỷ lệ này cũng ngang
bằng với tỷ lệ chung của toàn cầu năm 2004.
Nếu cuối năm 2003 số người truy cập Internet ở Việt Nam là khoảng 3,2 triệu
người, đến cuối năm 2004 con số này đã tăng lên gần gấp đôi, tức khoảng 6,2 triệu
người, sáu tháng sau đó, con số này đã lên đến hơn 10 triệu, dự đoán đến cuối năm
2005, số người Việt Nam truy cập Internet có thể lên đến 13 đến 15 triệu người,
chiếm tỷ lệ 16% - 18% dân số cả nước. Những thống kê này cho thấy một tín hiệu
lạc quan về sự phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 –

 Phát triển thu xu thế tự phát.
 Cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo
 Nhận thức của cộng đồng về mua bán trực tuyến còn thấp
 Nhà nước thiếu chính sách chiến lược lâu dài cho lĩnh vực này
SVTH: Bùi Cao Học - Nguyễn Văn Tý
Luận văn: Xây dựng hệ thống Thương mại Điện tử hướng dịch vụ GVHD: Ngô Huy Biên
3
Từ những khó khăn trên, dẫn đến việc một doanh nghiệp muốn triển khai ứng
TMĐT vào hoạt động sản xuất của mình rất khó:
 Không có nhân lực có đủ trình độ, kinh nghiệm để quản lý hệ thống
 Không có đủ tiền để đầu tư cơ sở hạ tầng tương xứng
2. Vấn đề đặt ra
Từ thực trạng trên, vấn đề đặt ra là: Làm sao cho doanh nghiệp có một công cụ để
quảng bá doanh nghiệp, quảng bá sản phầm mà không cần phải tốn nhiều thời gian,
công sức và chi phí quản lý, duy trì phần mềm? Một trong những đáp án cho vấn
đề trên đó chính là ứng dụng Saas. Xu hướng “Cung cấp phần mềm qua mạng” –
SaaS ra đời. SaaS là một khái niệm đã trở nên khá quen thuộc với thế giới. Tuy
nhiên với Việt Nam, khái niệm này còn khá mới mẻ. Hầu như chưa có một nhà
cung ứng dịch vụ nào hoạt động với mô hình này xuất hiện ở Việt Nam. Với mô
hình cung cấp phần mềm qua mạng, công việc triển khai ứng dụng TMĐT hiện nay
đối với doanh nghiệp chỉ đơn giản là đăng ký sử dụng dịch vụ với nhà cung ứng
phần mềm. Trước đây, để một doanh nghiệp quảng bá sản phẩm của mình ra bên
ngoài thì công việc đầu tiên là doanh nghiệp đó phải tìm hiểu về nhà cung ứng
phần mềm, kí kết hợp đồng, cùng nhà cung ứng thực hiện hợp đồng triển khai
trong một thời gian nhất định nào đó, sau giai đoạn bàn giao phần mềm, doanh
nghiệp phải tự bỏ tiền để duy trì, bảo trì và nâng cấp hệ thống. Điều này khiến
doanh nghiệp đối mặt với nhiều nguy cơ:
 Thứ nhất, doanh nghiệp không có nhân viên đủ trình độ để quản lý hệ
thống.
 Thứ hai, doanh nghiệp thường xuyên đối mặt với các vấn đề kĩ thuật như bị

1.1 Thế nào là một Hệ thống TMĐT?
1.2 TMĐT và các hình thức Thanh toán trực tuyến
SVTH: Bùi Cao Học - Nguyễn Văn Tý
Luận văn: Xây dựng hệ thống Thương mại Điện tử hướng dịch vụ GVHD: Ngô Huy Biên
5
1.3 TMĐT và các ứng dụng phân tán
1.4 TMĐT và vấn đề Bảo mật thông tin
2. Tìm hiểu mô hình SaaS
2.1 SaaS là gì?
Để dễ hình dung Saas là gì, hãy xét ví dụ sau:
Gia đình bạn không có xe con, tình hình tài chính của gia đình bình thường, nhưng
vào dịp cuối năm cả gia đình quyết định đi tham quan Đà Lạt. Vấn đề đặt ra là bạn
nên bỏ tiền để mua hẳn một chiếc xe con phục vụ cho mục đích đi tham quan nhất
thời hay là nên bỏ tiền ra để thuê một chiếc xe con phục vụ chuyến đi của gia đình?
Chắc chắn bạn sẽ chọn phương án sau, vì chi phí thuê xe sẽ nhỏ hơn rất nhiều so
với chi phí mua hẳn một chiếc xe mới. Hơn nữa chuyến đi của bạn chỉ có vài ngày
và không thường xuyên thì phương án mua hẳn một chiếc xe mới sẽ gây rất nhiều
lãng phí.
Qua ví dụ trên ta có thể rút ra nhận xét: hãy chọn phương án giúp bạn giải quyết
được công việc sao cho tiết kiệm chi phí và thời gian nhất. Mô hình cung cấp phần
mềm qua mạng Saas cũng hoạt động dựa trên tiêu chí đó. Phương châm của Saas
là: “ Đừng mua phần mềm, mà hãy đăng kí và sử dụng chúng khi bạn cần”. Như
vậy Saas không phải là một công nghệ mới mà đó là một xu hướng cung cấp phần
mềm mới. Thông thường khi muốn có một phần mềm để sử dụng bạn phải mua
đĩa, sau đó qua một vài bước cài đặt cấu hình thì mới dùng được. Với Saas những
gì bạn cần làm là đăng kí với nhà cung cấp và máy tính của bạn chỉ yêu cầu có web
browser và đường truyền internet là bạn có thể sử dụng.
Theo định nghĩa của hãng nghiên cứu toàn cầu IDC thì SaaS là: "Phần mềm hoạt
động trên web, được quản lý bởi nhà cung cấp và cho phép người sử dụng truy
cập từ xa". Về cơ bản các thuật ngữ SaaS và On-demand software được hiểu như

SVTH: Bùi Cao Học - Nguyễn Văn Tý
Luận văn: Xây dựng hệ thống Thương mại Điện tử hướng dịch vụ GVHD: Ngô Huy Biên
8
cung cấp là có thể sử dụng được ngay. Hình thức này rất phù hợp để triển
khai các phần mềm có tính dùng chung cao như CRM , ERP các phần mềm
về quản lý nhân sự tiền lương, các ứng dụng văn phòng. Với hình thức cung
cấp phần mềm này thì không yêu cầu người dùng phải biết lập trình. Ví dụ
điển hình cho hình thức này chính là www.salesfoce.com.
2) Cung cấp Web API qua mạng: Nhà cung cấp dịch vụ sẽ xây dựng các
webservice rồi cung cấp qua mạng cho các doanh nghiệp phát triển phần
mềm, các lập trình viên sử dụng. Tùy theo nhu cầu mà người dùng có thể
đóng phí tương ứng để được sử dụng 1 số web service nào đó. Thông thường
các web service được cung cấp là những webservice thực hiện những xử lí
tính toán phức tạp, hay những chức năng mà 1 doanh nghiệp bình thường
phải tốn rất nhiều chi phí mới thực hiện được như thanh toán trực tuyến,
kiểm tra tài khoản ngân hàng, lấy thông tin từ một tổ chức nào đó,…
Với hình thức này chỉ có khách hàng nào có kiến thức về lập trình mới sử
dụng được. Ví dụ cho trường hợp này là www.paypal.com.
Hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Saas thường kết hợp cả 2 hình
thức này.
2.3 Xu hướng hiện nay
2.3.1 Xu hướng thế giới
Một số con số thống kê
Saleforce.com, thành lập năm 1999, là một ví dụ điển hình về ứng dụng doanh
nghiệp SaaS. Hãng này đang tận hưởng một trong những giai đoạn phát triển mạnh
nhất với 390.000 thuê bao trong năm tài chính vừa qua. Công ty Employease (Mỹ),
xuất hiện từ năm 1996, đã phân phối phần mềm HR thông qua trình duyệt cho hơn
1.000 doanh nghiệp khách hàng, hỗ trợ họ quản lý gần 700.000 nhân viên.
Theo một điều tra gần đây của IDC, gần 1/3 số người tham gia khảo sát khẳng định
họ đã sử dụng ít nhất một dịch vụ "theo yêu cầu" nào đó, trong khi 47,7% khác

thông tin thay vì phải thiết lập vô số những thứ cần thiết như mô hình phát triển và
SVTH: Bùi Cao Học - Nguyễn Văn Tý
Luận văn: Xây dựng hệ thống Thương mại Điện tử hướng dịch vụ GVHD: Ngô Huy Biên
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status