BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
PHẦN I : MỞ ĐẦU
1.
Tên đề tài
Đề tài : Ứng dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực du lịch
2.
Lý do chọn đề tài
Thương mại điện tử (TMĐT) là hình thái hoạt động mới trong nền kinh tế
số. Trong đó, hạ tầng cơ sở công nghệ cho TMĐT bao gồm các mạng máy tính
được kết nối với nhau và được liên kết với các thiết bị điện tử thuộc mạng viễn
thông chính là môi trường cho TMĐT hoạt động. Mạng này không những cho
phép người sử dụng truy cập thông tin, mà còn cho phép họ trao đổi thông tin từ
các vị trí khác nhau trên mạng. Hiện nay, rất nhiều người đã sử dụng máy tính kết
nối với mạng Internet, hoặc các mạng trong nội bộ công ty gọi là Intranet. Ngoài
ra, các đối tác kinh doanh còn có thể kết nối với nhau qua Extranet – mạng kết nối
giữa các Intranet của các tổ chức, doanh nghiệp qưa Internet. Sự phát triển không
ngừng của Công Nghệ Thông Tin nói chung là các nhân tố thuận lợi cho việc ứng
dụng máy tính trong các tổ chức; và TMĐT nói riêng là nhân tố chủ yếu tạo điều
kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh trên thế giới hiện nay hoạt động có
hiệu quả hơn, dễ dàng và nhanh chóng hơn dưới sự tác động của môi trường cạnh
tarnh taòn cầu. Tất cả các hình thức kinh doanh nói chung và không riêng về
ngành du lịch TMĐT đã trở thành một yếu tố không thể nào thiếu trong suốt quá
trình hoạt dộng. Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của CNTT và hệ thống
TMĐT thì nước ta đã áp dụng những gì vào các hoạt động kinh tế nói chung cũng
như trong hoạt động du lịch nói riêng. Những ứng dụng từ TMĐT mà ngành du
lịch nước ta đã đạt được . Để hiểu rõ hơn những ứng dụng, thuận lợi, khó
khăn…từ việc ứng dụng TMĐT trong du lịch.
3.
Mục tiêu đề tài
- Đưa ra cơ sở lý thuyết về thương mại điện tử trên thế giới và nước ta
- Tìm hiểu về thương mại điện tử trong ngành du lịch
đã là mạng thương mại điện tử thực sự đầu tiên.
Tuy nhiên đối với các hệ thống thương mại điện tử được kết nối bằng máy
tính, một yêu cầu quan trọng là cần có những tài liệu kinh doanh đã được chuẩn hoá
để các máy tính ở mỗi đầu dây đều có thể hiểu được nhau. Cội nguồn của loại hình
thương mại điện tử này cũng bắt đầu rất sớm, từ năm 1948, khi Liên bang Xô Viết,
kiểm soát Đông Đức cắt đứt đường thuỷ, đường sắt và đường bộ giữa Tây Đức và
Berlin, phần lãnh thổ do Mỹ, Anh và Pháp kiểm soát sau chiến tranh thế giới lần
thứ II.
Kết quả là Cầu hàng không Berlin ra đời. Trong 13 tháng tiếp theo, hơn 2
triệu tấn thực phẩm và những đồ tiếp tế khác đã được chuyển vào Tây Berlin bằng
đường hàng không. Tuy nhiên, việc theo dõi hàng hoá mà việc bốc dỡ phải tiến
hành thật nhanh, đã không thể tiến hành được với những bản kê khai hàng hoá vận
chuyển theo những biểu mẫu khác nhau và đôi khi được viết bằng những ngôn ngữ
khác nhau.
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 3
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
Để giải quyết vấn đề này, một sĩ quan quân đội Mỹ Edward A. Guilbert và
các sĩ quan hậu cần khác đã phát triển một hệ thống kê khai chuẩn có thể truyền
bằng telex, máy vô tuyến điện báo hoặc điện thoại. Họ đã theo dõi hàng ngàn tấn
hàng trong một ngày cho đến khi các tuyến đường khác vào Berlin được mở lại vào
năm 1949.
Thương mại điện tử - con đường hình thành và phát triểnGuilbert đã không
quên giá trị của những kê khai chuẩn. Đầu những năm 1960, trong khi đang làm
việc tại Công ty Du Pont, ông đã phát triển một chuẩn dành cho các thông điệp điện
tử để gửi thông tin hàng hoá giữa Công ty Du Pont và hãng vận chuyển Chemical
Leahman Tank Lines. Năm 1965, hãng vận chuyển Steamship Line (liên doanh
giữa một hãng của Mỹ và một hãng của Hà Lan) bắt đầu gửi cho hãng vận chuyển
Atlantic những bản kê khai chuyển hàng dưới dạng những thông điệp telex mà sau
đó có thể in ra giấy hoặc nhập vào máy tính.
Đến năm 1968, rất nhiều các công ty vận chuyển đường sắt, hàng không,
phẩm trực tuyến với giá thoả thuận và không cần phải cất giữ hàng hoá trong
kho hàng, những doanh nghiệp kinh doanh truyền thống lại đổ xô như điên để
tạo sự hiện diện của mình trên web. Một cơ sở hạ tầng tổng thể đã phát triển
và đủ độ chín để hỗ trợ những công ty dotcom: United Parcel Service Inc. và
FedEx Corp., chuyên về chuyển hàng; một số công ty bên thứ ba cung cấp
các dịch vụ thẻ tín dụng, những hệ thống tiền điện tử và thậm chí American
Express Co. còn giới thiệu Blue, một "thẻ thông minh" đặc biệt được thiết kế
cho việc mua hàng trên mạng.
- Internet cũng làm một cuộc cách mạng hoá nền thương mại điện tử doanh
nghiệp đến doanh nghiệp. EDI thông qua Internet đã rẻ hơn rất nhiều so với
VANs và những người sử dụng EDI ở qui mô lớn đã phát triển những hệ thống
giao dịch trực tuyến của họ dựa trên web dựa trên những ngôn ngữ đánh dấu
tương thích với Web thay cho những tài liệu EDI cứng nhắc. Năm 2001, một
phiên bản của XML được thiết kế cho thương mại điện tử, được gọi là ebXML,
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 5
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
đã chính thức được chuẩn hoá và những người sử dụng ngày nay đang tiến
hành kết hợp những yếu tố tốt nhất của EDI và ebXML để tạo ra một loại hình
thương mại điện tử hoàn hảo hơn.
Và đây là toàn bộ câu chuyện về thương mại điện tử
- Đầu những năm 1960: Edward A. Guilbert lần đầu tiên gửi những thông điệp
giống EDI về thông tin hàng hoá cho việc trao đổi hàng giữa Du Pont và
Chemical Leahman Tank Lines.
- 1965: Hãng vận chuyển Steamship Line gửi những bản kê khai chuyển hàng
dưới dạng những tin nhắn qua telex và được tự động chuyển thành dữ liệu lưu
trong máy tính.
- 1968: Uỷ ban phối hợp truyền dữ liệu của Mỹ ra đời kết hợp các chuẩn kê khai
hàng hoá cho từng ngành: ngành vận tải hàng không, đường bộ, đường thuỷ và
đường sắt.
- 1977: Ngành lương thực và thực phẩm khai trương một dự án EDI thử nghiệm.
vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử. Theo
nghĩa hẹp thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến
hành trên mạng máy tính mở như Internet. Trên thực tế, chính các hoạt động
thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ thương mại
điện tử.
Thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ
qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển
tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại,
hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới
người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng.
Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví
dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví
dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động
truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục ) và các hoạt động mới (ví dụ
như siêu thị ảo). Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm
thay đổi cách thức mua sắm của con người.
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 7
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
2.
Các đặc trưng của thương mại điện tử.
So với các hoạt động Thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số
điểm khác biệt cơ bản sau:
2.1.
Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực
tiếp với nhau và không đòi hỏi biết nhau từ trước.
Trong Thương mại truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để
tiến hành giao dịch. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vât
lý như chuyển tiền, séc hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo. Các phương tiện viễn
thông như: fax, telex, chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh. Tuy
nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ
Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương
tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới
thông tin là thị trường
Thông qua Thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh mới được
hình thành. Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành
nên các nhà trung gian ảo là các dịch vụ môi giới cho giới kinh doanh và tiêu
dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên
mạng máy tính. Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo! America Online hay
Google đóng vai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng. Các trang Web
này trở thành các “khu chợ” khổng lồ trên Internet. Với mỗi lần nhấn chuột,
khách hàng có khả năng truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ
lệ khách hàng vào hàng ngàn các cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng
vào thăm rồi mua hàng là rất cao. Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng
một số các loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng. Nhiều người sẵn
sàng trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đi tới tận cửa hàng. Một số công ty
đã mời khách may đo quần áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số
đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet) rồi sau một thời gian nhất định
nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình. Điều tưởng như không
thể thực hiện được này cũng có rất nhiều người hưởng ứng. Các chủ cửa hàng
thông thường ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tin lên Web để tiến tới
khai thác mảng thị trường rộng lớn trên Web bằng cách mở cửa hàng ảo.
3.
Các cơ sở để phát triển thương mại điện tử.
Để phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở:
- Hạ tầng kỹ thuật internet phải đủ nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải các nội
dung thông tin bao gồm âm thanh, hình ảnh trung thực và sống động. Một hạ tầng
internet mạnh cho phép cung cấp các dịch vụ như xem phim, xem TV, nghe nhạc
v.v. trực tiếp. Chi phí kết nối internet phải rẻ để đảm bảo số người dùng internet phải
lớn.
- Hạ tầng pháp lý: phải có luật về TMĐT công nhận tính pháp lý của các
giao dịch với nhau bằng điện tử.
Tiền lẻ điện tử (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành
(ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào đó), sau đó được chuyển đổi tự do
sang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước
cũng như giữa các quốc gia; tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì
thế tiền mặt này còn có tên gọi là “tiền mặt số hóa” (digital cash). Tiền lẻ điện
tử đang trên đà phát triển nhanh, nó có ưu điểm nổi bật sau:
−
Dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, thậm chí ngay cả tiền mua
báo (vì phí giao dịch mua hàng và chuyển tiền rất thấp);
−
Có thể tiến hành giữa hai con người hoặc hai công ty bất kỳ, các thanh toán là
vô danh;
−
Tiền mặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được tiền giả
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 10
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
Ví điện tử (electronic purse): là nơi để tiền mặt Internet, chủ yếu là thẻ thông
minh (smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (stored value card), tiền được trả cho
bất kỳ ai đọc được thẻ đó; kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tự như kỹ thuật
áp dụng cho “tiền lẻ điện tử”. Thẻ thông minh, nhìn bề ngoài như thẻ tín dụng,
nhưng ở mặt sau của thẻ, có một chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ để lưu trữ
tiền số hóa, tiền ấy chỉ được “chi trả” khi sử dụng hoặc thư yêu cầu (như xác
nhận thanh toán hóa đơn) được xác thực là “ đúng”
Giao dịch điện tử của ngân hàng (digital banking). Hệ thống thanh toán
điện tử của ngân hàng là một hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:
−
Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểm bán
lẻ, các kiốt, giao dịch cá nhân tại các gia đình, giao dịch tại trụ sở khách hàng,
giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, thông tin hỏi đáp…
không quá tốn kém, người ta đã xây dựng một kiểu mạng mới gọi là “mạng
riêng ảo” (virtual private network), là mạng riêng dạng intranet của một doanh
nghiệp nhưng được thiết lập dựa trên chuẩn trang Web và truyền thông qua
mạng Internet.
Công việc trao đổi EDI trong TMĐT thường gồm các nội dung sau: 1/ Giao
dịch kết nối 2/ Đặt hàng 3/ Giao dịch gửi hàng 4/Thanh toán
Vấn đề này đang được tiếp tục nghiên cứu và xử lý, đặc biệt là buôn bán
giữa các nước có quan điểm chính sách, và luật pháp thương mại khác nhau,
đòi hỏi phải có một pháp lý chung trên nền tảng thống nhất quan điểm về tự do
hóa thương mại và tự do hóa việc sử dụng mạng Internet, chỉ như vậy mới bảo
đảm được tính khả thi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của việc trao đổi dữ
liệu điện tử (EDI).
4.4.
Truyền dung liệu.
Dung liệu (content) là nội dung của hàng hóa số, giá trị của nó không phải
trong vật mang tin và nằm trong bản thân nội dung của nó. Hàng hóa số có thể được
giao qua mạng. Ví dụ hàng hóa số là: Tin tức, nhạc phim, các chương trình phát
thanh, truyền hình, các chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé
xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểmv.v…
Trước đây, dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật (physical form) bằng
cách đưa vào đĩa, vào bảng, in thành sách báo, thành văn bản, đóng góp bao bì
chuyển đến tay người sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (như cửa hàng, quầy báo
v.v ) để người sử dụng mua và nhận trực tiếp. Ngày nay, dung liệu được số hóa và
truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hóa” (digital delivery)
Các tờ báo, các tư liệu công ty, các ca-ta-lô sản phẩm lần lượt đưa lên Web,
người ta gọi là “xuất bản điện tử” (electronic publishing hoặc Web publishing),
khoảng 2700 tờ báo đã được đưa lên Web gọi là “sách điện tử”; các chương trình
phát thanh, truyền hình, giáo dục, ca nhạc, kể chuyện v.v cũng được số hóa, truyền
qua Internet, người sử dụng tải xuống (download); và sử dụng thông qua màn hình
và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử.
Lợi ích của thương mại điện tử.
5.1.
Thu thập được nhiều thông tin.
TMĐT giúp người ta tham gia thu được nhiều thông tin về thị trường, đối
tác, giảm chi phí tiếp thị và giao dịch, rút ngắn thời gian sản xuất, tạo dựng và
củng cố quan hệ bạn hàng. Các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú
về kinh tế thị trường, nhờ đó có thể xây dựng được chiến lược sản xuất và kinh
doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và
quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 13
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
hiện nay đang được nhiều nước quan tâm, coi là một trong những động lực phát
triển kinh tế.
5.2.
Giảm chi phí sản xuất.
TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng. Các văn
phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi
phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn hầu như
được bỏ hẳn); theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên
hướng này đạt tới 30%. Điều quan trọng hơn, với góc độ chiến lược, là các
nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn có thể tập trung
vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài.
5.3.
Giảm chi phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch.
TMĐT giúp giảm thấp chi bán hàng và chi phí tiếp thị. Bằng phương tiện
Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều
khách hàng, catalogue điện tử (electronic catalogue) trên Web phong phú hơn
nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalogue in ấn chỉ có khuôn khổ giới
hạn và luôn luôn lỗi thời. Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, đã có
tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và nhiều các đơn hàng
công nghiệp hóa.
6.
Xu hướng phát triển của thương mại điện tử.
6.1.
Sự phát triển TMDDT trên thế giới.
Thứ nhất :Đây là cửa ngõ mở ra nguồn thông tin khổng lồ tại bất kì nơi nào
trên thế giới . Bỏ ra một chi phí không lớn ,mối doanh nghiệp ,tổ chức hoặc cá nhân
có một địa chỉ xa lộ thông tin này, ở đó họ có thể bày biện và tự giới thiệu hàng
hóa, dịch vụ với các kĩ thuật tiên tiến, từ văn bản, hình ảnh, âm thanh cho đến phim
ảnh. Ở bất cứ đâu, chỉ cần một máy tính nối mạng, người ta điều có thể vào “thăm”
và tiếp nhận các thông điệp quảng cáo từ các gian hàng này. Do số lượng các
website đăng kí ngày càng lớn, dẫn đến tình trạng cơ may khách viếng thăm không
lớn, nhiều doang nghiệp đã gửi các thông điện quảng cáo lên các trang chủ của các
nhà cung cấp dịch vụ mạng nổi tiếng, nơi có nhiều khách thăm viếng hơn. Hiệu quả
của loại quảng cái chạy trên đầu trang web hay nhảy vào một trang web vừa được
mở ra là điều còn nghêin cứu thêm, tuy nhêin điều hiển nhiên là laọi quảng cáo này
ngày càng đến được với những đối tượng khách hàng.
Thứ hai: Internet là môi trường diễn ra hàng loạt hội thảo, diễn đàn của
những người có thể ở cách xa nửa vòng trái đất, trong đó mỗi người váo mạng có
thể tham gia phát biểu ý kiến của mình. Những nhà kinh doanh đã tận dụng những
diễn đàn này để khéo léo phát đi những thông điệp quảng bá sản phẩm, dịch vụ của
mình, hiệu quả rất lớn. Hiện nay, giới trẻ là thành phần chủ yếu tham gia các diễn
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 15
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
đàn, trò chuyện, tán gẫu trên mạng hay lập blog. Tác động lẫn nhau trong xu hướng
mua sắm, chọn lựa hàng tiêu dùng của họ thông qua cách thức trao đổi này nhiều
khi có hiệu ứng dây chuyền và tiềm năng khai thác lớn đối với những nhà kinh
doanh.
Thứ ba: Hoạt động thư điện tử, một trong những tiến bộ lớn nhất hiện nay
trong lĩnh vực truyền thông, nhờ vào các tiện ích rẻ tiền, nhanh chóng , có thể gửi đi
khách hàng. Với TMĐT, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau,
giữa thành phố với nông thôn, từ nước này sang nước kia, hay nói cách khác là
không bị giới hạn bởi không gian địa lý. Điều này cho phép các doanh nghiệp tiết
kiệm chi phí đi lại, thời gian gặp mặt trong khi mua bán. Với người tiêu dùng, họ có
thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ thật nhanh
chóng, với phương thức vô cùng đơn giản và thuận tiện.
6.3.
Thực trạng TMĐT tại Việt Nam
Dịch vụ Internet được bắt đầu cung cấp chính thức tại Việt Nam từ năm
1997. Trãi qua một thập kỹ, cơ sở hạ tầng mạng cũng như số người sử dụng Internet
tại Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng. Theo khảo sát cảu Asia Digital Maketing
Yearbook – ADMY (asiadma.com), tính đến cuối tháng 5-2007, số người dùng
Internet của Việt Nam đạt 14 triệu, xếp thứ 17/20 quốc gia và vùng lãnh thổ đứng
đầu tếh giới về số người sử dụng Internet. Theo thông kê của Trung tâm Internet
Việt Nam, đến đầu tháng 6-2007, con số này 16,5 triệu người, chiếm 19,87% dân
số. Bộ bưu chính viễn thông đánh giá Việt Nam đứng vào top 10 thế giới về tốc độ
phát triển Internet. Đó là một trong những điều kiện thuận lợi cơ bản tạo tiền đề
phát triển lĩnh vực TMĐT.
Từ khi nghị định 55/2001/NĐ-CP ra đời, đã có 5 nhà cung cấp dịch vụ kết
nối (Internet Exchange Provider- IXP) được cấp phép và đang haọt động tích cực,
bao gồm VNPT, Viiettel, FPT, ETC và SPT. Kết nối với các IXP là các nhà cung
cấp dịch vụ Internet (Internet Service Provider- ISP) với hai laọi dung lượng chính
là dung luợng lưu chuyển trong nước và dung lượng lưu chuyển quốc tế. Hướng đi
quốc tế lên đến 12 hướng, qua 8 vùng quốc gia có lưu lượng trao đổi Internet lớn,
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 17
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan,
Malaysia. Trong số 17 ISP được cấp phép, có một số đang tham gia mạnh mẽ vào
thị trường như VNPT, SPT, FPT, Viettel…các daonh nghiệp còn lại hoạt động với
quy mô nhỏ, số lượng thêu bao khiêm tốn. Các dịch vụ truy ậcp Internet hệin nay
consumer)
Loại thương mại điện tử thứ hai này tương đương với hình thức bán hàng
qua mạng. Cùng với sự phát triển của mạng www, thương mại điện tử giữa
các công ty và khách hàng cũng đạt được nhiều bước tiến. Hiện nay trên mạng
Interrnet có rất nhiều các trang bán hàng với đủ mọi loại mặt hàng tiêu dùng từ
bánh kẹo, rượu bia cho đến máy tính, xe hơi.
7.3.
Thương mại điện tử giữa các công ty và chính phủ (B2A: Business-
Adminitration)
Thương mại điện tử giữa công ty và chính phủ bao gồm toàn bộ các giao
dịch giữa các công ty và các tố chức chính phủ. Hình thức này mới ra đời song
có thể sẽ phát triển nhanh chóng nếu như các chính phủ thúc đẩy sự nhận thức
và phát triển của thương mại điện tử trong các cơ quan của mình. Ngoài các
giao dịch mua bán hàng hoá, đây cũng là phương thức mà các doanh nghiệp
nộp thuế doanh thu và thuế giá trị gia tăng cho Nhà nước.
7.4.
Thương mại điện tử giữa cá nhân và chính phủ (C2A: Consumer-
Administration)
Thương mại điện tử giữa cá nhân và chính phủ tuy chưa xuất hiện song
cùng với sự phát triển của các loại hình thương mại điện tử kể trên, các chính
phủ sẽ mở rộng quan hệ với các cá nhân trong các lĩnh vực chẳng hạn như chi
trả các khoản trợ cấp xã hội.
7.5.
Thương mại điện tử giữa các khách hàng với nhau (C2C:Consumer-
Consumer)
Thương mại điện tử giữa các khách hàng với nhau là hình thức đã đang
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 19
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
xuất hiện và ngày càng phổ biến rộn grãi như các web site đấu giá, mua bán,rao
vặt, hiệp hội các khách hàng mua sỉ để được hưởng các chính sách ưu đãi của
từ vé máy bay ,phòng nghỉ khách sạn,thuê ô tô cho đến các tour du lịch thông
qua các website của các khách sạn,hãng hàng không,hang du lịch.Hoặc họ có thể
đặt mua trọn gói thông qua các hệ thống phân phối toàn cầu.
Theo hang nghiên cứu thị trường Forrester của Mỹ các dịch vụ du lịch như
đặt vé máy bay, khách sạn,thuê xe ô tô…sẽ chiếm khoảng 27 tỉ USD doanh số
bán hàng trực tuyến trong năm, và dịch vụ du lịch là mặt hàng đứng thứ 4 được
mua bán nhiều nhất trên mạng sau phần mềm-phần cứng máy tính,sách báo và đồ
điện tử.
Trên thế giới có rất nhiều website lớn như Expedia, Travelocity, Cheap,
Tickets, Orbitz và Pricelin – môi thiết kế một kiểu nhưng về cơ bản thì những
dịch vụ họ cung cấp là như nhau/
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 21
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
Trước đây các website chỉ tập chung 1 số lĩnh vực như vé máy bay,khách
sạn nhưng bây giờ họ cung cấp toàn bộ các sản phẩm du lịch từ đặt tour đến
phòng khách sạn rồi những gói du lịch trọn vẹn.Sự cạnh tranh trên thị trường
du lịch trực tuyến diễn ra gay gắt, mỗi hãng lữ hánh đều đưa ra các tính nưng
mới trên website của mình để nâng cao tính cạnh tranh.Đại lý du lịch Orbitz
có tính năng Deal Director, cho phép khách du lịch có thể thay đổi loại vé họ
muốn.Khách hàng dung dịch vụ này hoàn toàn được miến phí nếu đăng ký tại
website này.Còn tính năng mới nhất của Expedia là mô tả phòng khách sạn và
bất cứ thứ gì liên quan khác như bao gồm tiến phòng có cả bữa sang, kết quả tìm
kiếm se gửi lên cho người dung sử dụng,
Các hãng hàng không khắp thế giới đang tang cường ứng dụng thương mại
điện tử như một công cụ hiêu quả để điều chỉnh chi phí.Họ hoặc là sẽ chấm dứt
cho đóng cửa các trung tâm dịch vụ điện thoại khách hàng của mình.
Ngành hàng không đã chấp nhận một thực tế là các sự kiện như 11/9 hoắc
SARS có thể tấn công các hang bất kỳ lúc nào cho nên cách tốt nhất là phải có
sự chuẩn bị trước.Hầu hết các hãng hàng không lựa chọn thương mại điện tử để
kiểm soát chi phí trong khi vẫn duy trì được các sản phẩm dịch vụ của mình.Tiêu
Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, doanh thu từ đặt phòng khách
sạn, mua tour du lịch, vé máy bay trực tuyến sẽ chiếm khoảng 50% trên
tổng Doanh thu năm 2013
Các doanh nghiệp du lịch Việt Nam còn phải cạnh tranh với nhiều
doanh nghiệp và tổ chức ở các quốc gia trong khu vực như Singapore, hay
Malaysia, Indonesia hay Đài Loan đang sử dụng marketing online để tiếp
cận với khách hàng nội địa.
Qua các con số trên, các doanh nghiệp du lịch có thể thấy các
phương thức giao tiếp với khách hàng cũng đã thay đổi và mở ra nhiều cơ
hội cho doanh nghiệp Việt Nam bắt kịp với thế giới và tận hưởng những lợi
ích to lớn mà nó đem lại, vấn đề đặt ra là:
Chúng ta đang khai thác những tiềm năng này ở mức độ nào?
Với một website, hầu hết các doanh nghiệp du lịch Việt mới chỉ dừng lại là
một kênh thông tin chứ chưa thực sự coi đó là một kênh marketing, một đại diện
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 23
BÀI TẬP LỚN : THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DU LỊCH
thương hiệu xứng tầm. Khách hàng muốn mua vé và đặt chỗ thì phải đến công
ty. Các khách hàng ngày nay luôn bận rộn hơn, sẽ là một bất lợi lớn khi họ không
được phục vụ từ xa. Bên cạnh đó, với một hệ thống dữ liệu rời rạc thì việc chăm
sóc khách hàng cũng sẽ trở nên thiếu chuyên nghiệp.
2.2. Tiến đề phát triển ứng dụng thương mại trong du lịch Việt Nam.
2.2.1. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam.
Ngày 30/12/2011, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết
định số 2473/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030".
Quan điểm của ngành là phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; theo hướng chuyên nghiệp, có trọng
tâm; phát triển song song du lịch nội địa và du lịch quốc tế, gắn chặt với
việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời đẩy mạnh xã
mại điện tử là hết sức cần thiết. Căn cứ theo định hướng về HNKTQT của
Việt Nam trong giai đoạn tới, Việt Nam chúng ta có xu hướng tham gia
các hiệp định thương mại tự do với các đối tác kinh tế lớn. Do đó, chúng ta
cần xem xét việc đàm phán các cam kết về thương mại điện tử, theo hướng
phù hợp với nội lực của Việt Nam và nhu cầu của thế giới. Trong giai đoạn
tới, chúng ta cần xác định rõ TMĐT sẽ là xu hướng chủ đạo của kinh tế
thế giới, từ đó, có những giải pháp và bước đi kịp thời và hợp lý trong tiến
trình hội nhập, nhằm đảm bảo bắt kịp với xu hướng thời đại, tận dụng được
các lợi thế, biến TMĐT trở thành công cụ hỗ trợ nhằm tăng cường năng lực
cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và cho toàn bộ nền
kinh tế Việt Nam nói chung. Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta cần:
o
Từng bước hoàn thiện khung khổ pháp luật trong nước về TMĐT;
GVHD : Đặng Vân Anh Trang 25