Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ ở công ty UNIMEX
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY UNIMEX
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty
Công ty XNK & Đầu tư Hà Nội (UNIMEX Hà Nội) là một doanh nghiệp
nhà nước trực thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội với tên gọi ban đầu là
Công ty XNK Hà Nội. Chức năng chính khi thành lập là đầu mối xuất nhập khẩu
hàng hoá, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, thương mại cho
thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận. Trong thời kỳ bao cấp, với ưu thế độc
quyền về chức năng kinh doanh XNK và thị trường (Liên Xô và các nước thuộc
khối XHCN cũ), UNIMEX đó từng là một cụng ty cú tờn tuổi của thành phố Hà
Nội cú quan hệ ngoại thương với trên 40 quốc gia, doanh số kinh doanh hàng
năm từ 10-15 triệu USD. Lực lượng cán bộ kinh doanh phần lớn có trỡnh độ
Đại học Ngoại thương. Đến thời điểm trước 1987 công ty có 287 cán bộ công
nhân viên.
Ngay sau khi khối XHCN tan vỡ, thời điểm 1987 công ty mất hẳn đi khối
thị trường lớn nhất, dẫn đến thiếu việc làm, dư thừa nhiều lao động và phải
đưa 40 lao động giản đơn ra nghỉ chờ việc. Cùng với chủ trương chia tách sắp
xếp lại công ty của thành phố, công ty đưa ra chế độ khuyến khích về hưu với
cán bộ gần tuổi về hưu, lực lượng cán bộ sau thời điểm 1987 cũn lại 187 người.
Tiếp đến những năm đầu mở cửa nền kinh tế, các công ty và các thành
phần kinh tế bung ra, rất nhiều công ty tham gia vào hoạt động XNK, UNIMEX
Hà Nội mất dần thế độc quyền, đây là yếu tố thứ hai khiến công ty mất dần thị
trường, khách hàng. Với nền kinh tế thị trường, công ty thiếu sức cạnh tranh
lực lượng lao động tỏ ra kém nhạy bén, kém thích ứng vỡ quen mọi thứ cú sẵn,
chứ khụng phải lo tỡm việc, tỡm hàng. Cụng ty chưa đưa ra được những chiến
lược kinh doanh phát triển dài hơn, những dự án đầu tư vào sản xuất kinh
doanh có hiệu quả.
1
1
2
đầu tư các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tạo ra chân
hàng xuất khẩu bền vững lâu dài.
Đưa ra những biện pháp kinh tế phù hợp để khuyến khích và đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu đồng thời có những chính sách phù
hợp để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả đối
với các dự án đó được đầu tư.
Tăng cường cụng tỏc quản lý tài chớnh: thực hiện theo đúng quy
định của Nhà nước, Bộ tài chính đảm bảo cho việc kinh doanh
bảo toàn vốn kinh doanh có lói.
Thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước, đồng
thời từng bước nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên
chức toàn công ty.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ, các bộ
phận trong công ty.
a. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Xem hình 1.1 sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty.
b. Chức năng cụ thể của một số phòng ban.
Ban giám đốc: Giám đốc công ty phụ trách chung mọi mặt hoạt động của
công ty đồng thời chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp về đầu tư, tài chính và
nhân sự. Hai phó giám đốc phụ trách sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu.
Bộ phận quản lý phục vụ: Gồm 4 phũng với chức năng nhiệm vụ như tên
gọi của phũng mỡnh gồm: phũng Tổ chức- Đảng uỷ- Công đoàn; phũng Kế toỏn-
Bộ phận quản lý phục vụ: gồm 4 phũng với chức năng nhiệm vụ như tên gọi của
phũng mỡnh gồm: phũng Tổ chức - Đảng uỷ- Công đoàn; phũng Kế toỏn-Tài vụ;
phũng Kế hoạch- Tổng hợp; phũng Hành chớnh. Đây là các phũng ban chức
năng phục vụ cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
3
3
CHI NHÁNH HẢI PHÒNGTỔNG KHO CHÙA VẼ PHÒNG KINH DOANH 5PHÒNG KINH DOANH 1PHÒNG KINH DOANH 3PHÒNG KINH DOANH 2PHÒNG KINH DOANH 4TỔNG KHO CẦU DIỄNXƯỞNG SẢN XUẤT GẠOCHI NHÁNH HCM
Phũng tổ chức Đảng uỷ công đoàn
Phũng kế toỏn tài vụ Phũng kế hoạch tổng hợp Trung tâm phát triển thông tin Phũng hành chớnh
Phó giám đốc 1 Phó giám đốc 2
Hỡnh 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty XNK & Đầu tư Hà Nội
Nguồn: Phũng hành chớnh tổng hợp
5
5
Qua bảng 2.2, ta thấy kim ngạch xuất khẩu của công ty từ 2001-2003 có
nhiều biến động. Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu của công ty là 2.499.029 USD
tăng 36,1% so với kim ngạch xuất khẩu của năm 2001 là 1.836.065 USD. Sở dĩ
có sự tăng trưởng như vậy là do công ty đó khắc phục được những khó khăn
trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cụ thể như công ty đó chủ động về
nguồn hàng đảm bảo về số lượng chất lượng, thời gian giao hàng, hạ giá
thành, đưa ra nhiều mẫu mó mới do vậy đó làm tăng sức cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường. Nhưng sang đến năm 2003, kim ngạch xuất khẩu hàng
thủ cụng mỹ nghệ của cụng ty lại chỉ cũn 1.913.046 USD giảm 23,45% so với
năm 2002. Nguyên nhân là do tiến trỡnh mở cửa và hội nhập đặt ra những
thỏch thức khụng nhỏ cho cụng ty vỡ phải cạnh tranh gay gắt với cỏc doanh
nghiệp xuất khẩu hàng thủ cụng mỹ nghệ trong nước và nước ngoài. Mặt khác,
do đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ là được sản xuất ở quy mô vừa và
nhỏ, sản xuất bằng tay là chủ yếu nên các sản phẩm có chất lượng không đồng
đều khó tiêu chuẩn hoá. Là một công ty kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp
không trực tiếp sản xuất hàng hoá nên việc kiểm soát chất lượng chưa được
đảm bảo đó là nguyên nhân chính ảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu của
công ty trong thời gian này.
Nhận thức được khó khăn đó, để chủ động nguồn hàng xuất khẩu trong
năm 2004, công ty đó quyết định thành lập xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu
Phú Diễn, triển khai sửa chữa kho tàng và xây dựng nhà điều hành sản xuất
7
7
Bảng 2.2: Cơ cấu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của công ty
TT Nhóm hàng
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
1 Hàng mỹ nghệ 1522744 82.94 1281971 51.30 346451 18.11
2 Hàng thêu ren 17804 0.97 2777 0.11 532 0.03
3 Hàng mây tre 267686 14.58 749035 29.97 1388895 72.60
4 Thảm các loại 2155 0.12 52336 2.09 57241 2.99
5 Các hàng khác 25676 1.40 412910 16.52 119927 6.27
Tổng 1836065 100 2499029 100 1913046 100
Nguồn: Báo cáo xuất khẩu trực tiếp hàng năm của công ty
Hỡnh 2.3: Tỷ trọng cỏc mặt hàng TCMN xuất khẩu qua cỏc năm
Nguồn: báo cáo xuất khẩu trực tiếp của công ty qua các năm
Trong đó xuất khẩu hàng mỹ nghệ vượt trội hơn so với cỏc mặt hàng
thủ cụng mỹ nghệ khỏc của cụng ty. Trung bỡnh mỗi năm tỷ trọng nhóm hàng
mỹ nghệ trong kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là 50,77% có giá
trị cao nhất là năm 2001 với 1.522.744 USD (tương đương 82,9%) sau đó giá
trị mặt hàng này liên tục giảm. Đây là do công ty bị mất đi 3 thị trường nhập
khẩu lớn là Bỉ, HôngKông, Thái Lan đồng thời cũng bị hàng mỹ nghệ của các
khẩu có giá trị nhỏ, không thường xuyên. Tuy nhiên trong nhóm hàng này phải
nói đến mặt hàng tơ tằm, là mặt hàng được thị trường Pháp rất ưa chuộng.
Trong hai năm 2002, 2003 công ty đó chỳ trọng trong việc phỏt triển mặt hàng
này, kết quả là kim ngạch hàng tơ tằm xuất sang Pháp của công ty ngày càng
tăng.
2.2.3.Thị trường xuất khẩu
Trong những năm gần đây, hàng thủ công mỹ nghệ của công ty được
xuất đi hơn 30 nước trên thế giới. Công ty đó khụng ngừng cũng cố và duy trỡ
những thị trường lớn như Đông Âu, Mỹ, SNG, Nhật, bước đầu thâm nhập vào
thị trường Pháp, Hà Lan và khu vực Bắc Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của công ty theo thị trường ( xem phụ lục)
9
9
Hỡnh 2.4: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN vào một số
thị trường chớnh năm 2003
Nguồn: Bỏo cỏo xuất khẩu trực tiếp của cụng ty
Qua hỡnh trờn ta thấy thị trường xuất khẩu lớn nhất hiện nay của công
ty là thị trường Đông Âu và thị trường các nước SNG. Đây là thị trường rộng
lớn, mặc dù trong những năm vừa qua khu vực thị trường này có những biến
đổi sâu sắc về kinh tế và chính trị gây khó khăn cho xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam. Nhưng đây lại là thị trường xuất khẩu lớn của công ty,
kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường này liên tục tăng,
thị trường Đông Âu: từ 54.796USD(năm 2001) tăng đến 891.945USD (năm
2003); thị trường SNG: từ 182.521 USD (năm 2001) đến 203.260 USD (năm
2003); thị trường SNG: từ 182.521 USD (năm 2001) đến 203.260 USD (năm
2003). Đạt được thành công lớn này là do công ty đó biết khai thỏc tốt nguồn
hàng xuất khẩu với những mẫu mó sản phẩm mới, chất lượng sản phẩm tốt và
giá cả có sức cạnh tranh cao, phương thức bán lại phù hợp.
Thị trường Mỹ, đối với Việt Nam núi chung và UNIMEX núi riờng thỡ đây
ở 3 nước Anh, Pháp, Đức…tuy kim ngạch xuất khẩu vào những nước này chưa
cao và không ổn định nhưng đây là thị trường lớn gồm 15 nước thành viên với
gần 400 triệu người. Đây là khối liên minh kinh tế chặt chẽ và sâu sắc nhất thế
giới đồng thời cũng là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định. Việt Nam
và EU đó chớnh thức ký hiệp định hợp tác kinh tế và Việt Nam đó được hưởng
quy chế tối huệ quốc (MFN) và quy chế ưu đói phổ cập (GSP) và đặc biệt là
những ưu đói của thị trường này đối với các nước nghèo đang phát triển như
Việt Nam. Đây là lợi thế rất lớn cho hàng thủ công mỹ nghệ của công ty.
Trong những năm qua, UNIMEX Hà Nội mới chỉ xuất khẩu một số lô
hàng có giá trị nhỏ sang một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Nguyên
nhân chính là do các nước Đông Nam Á như Inđônexia, Thái lan, Singapore
cũng là những nước có hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống với nhiều mặt
11
11
hàng đó được xuất khẩu cạnh tranh với hàng Việt Nam trên thị trường thế
giới. Tuy vậy khách hàng Đông Nam Á vẫn ưa thớch hàng thủ cụng mỹ nghệ
của Việt Nam vỡ sự thanh nhó tinh xảo của mặt hàng này. Mặt hàng thủ cụng
mỹ nghệ của cụng ty xuất sang thị trường này chủ yếu là đồ trang trí nội thất
với kim ngạch dưới 7.000 USD/năm.
Ngoài ra cụng ty cũn xuất khẩu sang một số thị trường khác nhưg với số
lượng không đáng kể.
Qua sự phân tích trên có thể thấy, thị trường thủ công mỹ nghệ của công
ty phân bố rải rác khắp thế giới. Đây là lợi thế của công ty khi triển khai kế
hoạch mở rộng thị trườngthông qua phương thức kinh doanh mới- TMĐT.
2.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ỨNG DỤNG TMĐT VÀO KINH DOANH
XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY UNIMEX
2.3.1.Sự cần thiết phải ứng dụng TMĐT vào kinh doanh xuất
khẩu hàng thủ cụng mỹ nghệ của cụng ty UNIMEX.
2.3.1.1. Những thuận lợi trong kinh doanh xuất khẩu hàng thủ
cỏc cơ sở làng nghề nông thôn tham gia hội chợ trong nước, tài trợ một phần
chi phí cho các cơ sở ngành nghề nông thôn và nghệ nhân đi thăm quan, học
tập, tham gia triển lóm, giới thiệu sản phẩm, tỡnh hỡnh thị trường ở nước
ngoài.
QĐ 02_2001/TTg cũng quy định các dự án sản xuất chế biến hàng xuất
khẩu đều được vay vốn tín dụng đầu tư từ Quỹ đầu tư phỏt triển với lói suất
ưu đói 5,4%/năm hoặc được lónh đến 100% khoản vay từ các tổ chức tín
dụng.
Thông tư số 60 của Bộ tài chính, kể từ 01/01/2001 các doanh nghiệp sẽ
được Nhà nước hỗ trợ chi phí hoạt động xúc tiến thương mại bằng 0,2% kim
ngạch xuất khẩu trực thu trong năm. Tiếp theo thông tư số 62 của Bộ này cũng
tháo gỡ các khó khăn của doanh nghiệp về chi phí hoa hồng môi giới xuất
khẩu. Theo đó các chi phí này sẽ được hạch toán vào chi phí bán hàng của
doanh nghiệp. Đối tượng hưởng hoa hồng xuất khẩu gồm tất cả các doanh
13
13
nghiệp, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài. Ngoài ra, chủ
thể xuất khẩu trực tiếp theo Nghị quyết 05/2001/NQ_CP ngày 25/05/2001 đó
được mở rộng: “khuyến khích thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần
kinh tế xuất khẩu các loại hàng hoá mà pháp luật không cấm, không phụ thuộc
vào ngành nghề đăng ký kinh doanh.Cỏc cơ sở sản xuất kinh doanh kể cả vừa
và nhỏ đều được quyền lựa chọn tham gia trực tiếp xuất khẩu, hoặc uỷ thác”.
Bên cạnh đó Nhà nước cũng đó tạo điều kiện thuận lợi như giảm các thủ
tục hành chính, mở rộng quyền hoạt động xuất nhập khẩu cho các đối tượng,
thiết lập các văn phũng thương mại ở một số nước khu vực hoặc thông qua đại
sứ quán nước ngoài cung cấp các thông tin về khách hàng và thị trường cho
các doanh nghiệp. Đặc biệt, việc ký kết các hiệp định kinh tế với các nước như
Mỹ, EU, đàm phán gia nhập WTO đó giỳp khả năng cạnh tranh của hàng hoá
tăng gấp bội. Hơn nữa trong những năm gần đây Nhà nước ta cũng chú trọng