Tài liệu Luận văn " THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM" - Pdf 10

Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
1
A5 - K38BTrường đại học ngoại thương
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
*****

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Tên đề tài:
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ THỰC TRẠNG
ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: THS. NGUYỄN QUANG MINH
Sinh viên thực hiện: Lê Thu Phương
Lớp: A5 - K38B

HÀ NỘI - 2003


4. Các giao dịch thương mại điện tử 13

III. Lợi ích của thương mại điện tử 17

1. Giúp doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú 17

2. Giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc lựa chọn khi mua
hàng
18

3. Giảm chi phí sản xuất 18

4. Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị 19

5. Giảm chi phí giao dịch 19

6. Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác 20

7. Tạo điều kiện sớm tiếp cận “nền kinh tế số hoá” 20

IV. Tình hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới 20

CHƯƠNG 2: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM

25

I. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
25


1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam 46

2. Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Việt Nam

48

3. Một số hạn chế trong việc ứng dụng thương mại điện tử ở doanh
nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

56

III. Triển vọng ứng dụng thương mại điện tử trong doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

59

1. Triển vọng ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Việt Nam
59

2. Thuận lợi và khó khăn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong việc ứng dụng thương mại điện tử
60

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM


4
A5 - K38B1. Về phía Chính phủ 73

2. Về phía các doanh nghiệp 78

Kết luận
82

Tài liệu tham khảo Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
5
A5 - K38BLỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những tiến bộ to lớn về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin trong
những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển
kinh tế xã hội toàn cầu. Chính trên nền tảng đó, một phương thức thương mại
Thứ nhất, bước đầu tìm hiểu một số khái niệm về thương mại điện tử để
tiến tới một nhận thức toàn diện hơn về thương mại điện tử, điều mà các
doanh nghiệp vừa và nhỏ nên biết khi quan tâm đến việc ứng dụng thương
mại điện tử.
Thứ hai, nhấn mạnh xu thế tất yếu phải tham gia vào thương mại điện tử
qua vài nét phác hoạ về tình hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới,
một số khu vực kinh tế và một số nước điển hình.
Thứ ba, phân tích tình tình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam nói
chung và ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nói riêng, qua đó đưa ra
một vài đánh giá sơ bộ về thực trạng áp dụng thương mại điện tử trong các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Thứ tư, trên cơ sở phân tích đánh giá, đưa ra một số phương hướng phát
triển ứng dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam,
đồng thời đề cập đến một số giải pháp về phía chính phủ và về phía bản thân
các doanh nghiệp để có thể phát triển hơn nữa ứng dụng thương mại điện tử.
Thương mại điện tử đã và đang bắt đầu được áp dụng trong nhiều doanh
nghiệp Việt Nam nhất là các doanh nghiệp lớn có điều kiện thuận lợi về vốn
và công nghệ. Tuy nhiên, trong điều kiện giới hạn về thời gian và tài liệu,
khoá luận này chỉ xin tập trung nghiên cứu việc ứng dụng thương mại điện tử
trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu sử dụng cho đề tài bao gồm phân tích, tổng
hợp, so sánh, kết hợp lý thuyết với thực tiễn. Đồng thời, để cung cấp thông tin
được chính xác, cập nhật, đề tài có sử dụng một số sách, đề tài nghiên cứu về
các vấn đề có liên quan, các tạp chí và thông tin trên Internet.
4. Kết cấu của đề tài: CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
I. KHÁI NIỆM VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử từ khi ra đời đã có nhiều tên gọi khác nhau như
“thương mại trực tuyến”(online trade) (hay còn gọi là “thương mại tại
tuyến”), “thương mại điều khiển học” (cybertrade), “kinh doanh điện tử”
(electronic business), “thương mại không có giấy tờ” (paperless commerce
hoặc paperless trade)…Tuy nhiên, cho đến nay, tên gọi “thương mại điện tử”
(electronic commerce) được sử dụng nhiều nhất rồi trở thành quy ước chung
và được đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù rằng các tên gọi khác vẫn có
thể được dùng và hiểu với cùng một nội dung.
Theo quan niệm phổ biến, thương mại điện tử (Electronic Commerce),
một yếu tố hợp thành của “nền kinh tế số hoá”, là hình thái hoạt động thương
mại bằng các phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại
thông qua các công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy
trong bất kỳ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn gọi là “thương
mại không có giấy tờ”)
Trong định nghĩa trên, chữ “thông tin” (information) không được hiểu
theo nghĩa hẹp là “tin tức” mà là bất cứ cái gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật
điện tử, bao gồm cả thư từ, các tập tin văn bản (text-based file), các cơ sở dữ
liệu (database), các bảng tính (spreadsheet), các bản vẽ thiết kế bằng máy tính
điệ tử (computer-aid design: CAD), các hình đồ hoạ (graphical image), quảng
cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hoá đơn, biểu giá, hợp đồng, hình ảnh động(video
image), âm thanh,
Theo Đạo luật mẫu về thương mại điện tử do Uỷ ban thuộc Liên hợp
dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ
pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo
dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo).
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Thương mại điện tử bao gồm
việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và
thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả
các sản phẩm được giao nhận cũng như các thông tin số hoá qua mạng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
10
A5 - K38BInternet.
Còn theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Thương mại
điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ
liệu qua các mạng truyền thông như Internet.
Như vậy, “thương mại” trong “thương mại điện tử” không chỉ là buôn
bán hàng hoá (trade) theo cách hiểu thông thường mà còn bao quát một phạm
vi rộng hơn nhiều, do đó, việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi
cách thức hoạt động của hầu hết các hoạt động kinh tế. Theo ước tính hiện
nay, thương mại điện tử có tới trên 1300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó buôn
bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.
2. Sự ra đời của thương mại điện tử
Thương mại điện tử ra đời trên cơ sở sự ra đời và phát triển của Internet -

chính là nguồn gốc của Internet ngày nay.
Internet tiếp tục phát triển rộng thành mạng toàn cầu khi các nước khác
cũng xin gia nhập mạng. Đặc biệt, khi có sự phát triển của World Wide Web
(www) và sự ra đời của các trình duyệt web đồ hoạ, Internet đã nhanh chóng
thu hút được sự quan tâm chú ý của những người ở ngoài cộng đồng giáo dục
và chính phủ. Với tính chất quốc tế và những tiện ích của các dịch vụ Internet,
các nhà quảng cáo và sau đó là các doanh nghiệp đã không bỏ lỡ cơ hội làm
ăn trên mạng. Từ đó, một phương thức kinh doanh mới của thương mại toàn
cầu xuất hiện và khái niệm thương mại điện tử ra đời. Sau đó, Đạo luật mẫu
về thương mại điện tử do Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về thương mại quốc tế
(UNCITRAL: United Nations Comission on International Trade Law) soạn
thảo đã được Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua, trở thành một cơ sở pháp
lý chính thức cho thương mại điện tử trên thế giới.

II. CÁC PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. Các phương tiện kỹ thuật sử dụng trong thương mại điện tử
1.1 Điện thoại
Điện thoại là một phương tiện được sử dụng nhiều trong giao dịch
thương mại bởi tính dễ sử dụng và sự phát triển rộng rãi của mạng điện thoại
trên toàn cầu, đặc biệt là sự phát triển của điện thoại di động và liên lạc qua
vệ tinh. Qua điện thoại, các đối tác có thể liên lạc, trao đổi trực tiếp với nhau
bằng giọng nói. Với đặc điểm này, nhiều loại dịch vụ có thể cung cấp trực
tiếp qua điện thoại như dịch vụ bưu điện, ngân hàng, hỏi đáp, tư vấn, giải trí
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng

qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử. Đây thực chất là
các phương tiện cho phép tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
13
A5 - K38Bkhác. Những phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thanh toán điện tử là
máy rút tiền tự động (ATM: Automatic Teller Machine), các loại thẻ tín dụng
(credit card), thẻ mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smart card - là
một loại thẻ từ có gắn vi chíp điện tử mà thực chất là một máy tính điện tử rất
nhỏ)
1.5 Intranet và Extranet
Mạng nội bộ (Intranet) theo nghĩa rộng là mạng thông tin trong nội bộ
một cơ quan, một doanh nghiệp. Bằng sự nối kết giữa các máy tính điện tử
trong cơ quan, doanh nghiệp cùng với các liên lạc di động , các thành viên
trong cơ quan, doanh nghiệp đó có thể liên lạc, trao đổi thông tin và phối hợp
hoạt động với nhau thông qua mạng này. Theo nghĩa hẹp, mạng nội bộ có thể
là mạng kết nối các máy tính ở gần nhau, gọi là mạng cục bộ (LAN: Local
Area Network), hoặc mạng kết nối các máy tính trong một khu vực rộng lớn
hơn, gọi là mạng miền rộng (WAN: Wide Area Network). Hai hay nhiều
mạng nội bộ liên kết với nhau sẽ tạo thành một liên mạng nội bộ hay còn gọi
là mạng ngoại bộ (Extranet) và tạo ra một cộng đồng điện tử liên xí nghiệp
(inter-enterprise electronic community) .

các mạng này là các “phân mạng” (subnet) của Internet. Sự ra đời và phát
triển của Internet đã tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá, tạo ra
bước phát triển mới của ngành truyền thông và đã trở thành công cụ quan
trọng nhất của thương mại điện tử. Dù có hay không có Internet/Web, ta vẫn
có thể làm thương mại điện tử (qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ cùng
với các phương tiện điện tử khác), song ngày nay, nói tới thương mại điện tử
thường có nghĩa là nói tới Internet/Web, vì thương mại đã và đang trong tiến
trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá, nên cả hai xu hướng ấy đều đòi hỏi phải
sử dụng triệt để Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao
độ và có hiệu quả sử dụng cao.
2. Các hình thức hoạt động chủ yếu của thương mại điện tử
2.1 Thư điện tử (e-mail)
Các đối tác (người tiêu dùng, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử
dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua
mạng, gọi là thư điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail). Đây là một thứ
thông tin ở dạng “phi cấu trúc” (unstructured form), nghĩa là thông tin không
phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận trước.
2.2 Thanh toán điện tử (electronic payment)
Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử
(electronic message). Sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử đã
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
15
A5 - K38B

Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
16
A5 - K38Bhàng là một đại hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống:
- Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoại, tại các
điểm bán lẻ, các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch tại trụ sở khách
hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng );
- Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu
thị );
- Thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng;
- Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.
2.3 Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI - Electronic Data Interchange)
Trao đổi dữ liệu điện tử là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu
trúc” (structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác
trong nội bộ công ty, hay giữa các công ty hoặc tổ chức đã thoả thuận buôn
bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp
của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc vì các bên đối tác phải thoả thuận từ
trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin). Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật
thương mại quốc tế đã đưa ra định nghĩa pháp lý sau: “Trao đổi dữ liệu điện
tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính
điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được
thoả thuận về cấu trúc thông tin”.
EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu và chủ yếu

tác thông tin ngày nay là khai thác trực tiếp được lượng thông tin trên Web và
phân tích tổng hợp lượng thông tin này sao cho phù hợp với mục đích sử
dụng.
2.5 Bán lẻ hàng hoá hữu hình (retail of tangible goods)
Để tận dụng tính năng đa phương tiện (multimedia) của môi trường Web
và Java, người bán xây dựng trên mạng các cửa hàng ảo (virtual shop) để
thực hiện việc bán hàng. Người sử dụng Internet/Web tìm trang Web của cửa
hàng, xem hàng háo hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền bằng
thanh toán điện tử. Vì là hàng hoá hữu hình nên tất yếu sau đó cửa hàng phải
dùng các phương tiện gửi hàng truyền thống để đưa hàng tới tay khách. Điều
quan trọng nhất là khách hàng có thể mua hàng tại nhà (home shopping) mà
không cần phải đích thân đi tới cửa hàng.
3. Các loại giao tiếp trong thương mại điện tử
- Giao tiếp giữa người với người: qua điện thoại, thư điện tử, máy fax;
- Giao tiếp giữa người với máy tính điện tử: trực tiếp hoặc qua các mẫu
biểu điện tử (Electronic form) và qua mạng Internet;
- Giao tiếp giữa máy tính điện tử với người: qua thư tín do máy tính tự
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
18
A5 - K38Bđộng sinh ra, qua máy fax và thư điện tử;
- Giao tiếp giữa máy tính điện tử với máy tính điện tử: qua việc trao đổi
Lª Thu Ph¬ng
19
A5 - K38B- G to G (Government to Government): giao dịch giữa các chính phủ
nhằm mục đích trao đổi thông tin.
Trong các giao dịch trên, giao dịch giữa các doanh nghiệp (B to B hoặc
B2B) và giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B to C hoặc B2C) là hai
dạng giao dịch phổ biến trong thương mại điện tử đặc biệt là nếu xét trên góc
độ thuần tuý kinh doanh.
<1> Giao dịch bên trong doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp
 Thư tín điện tử trong nội bộ doanh nghiệp
 Xuất bản trực tuyến (trên Web) các tài liệu của công ty
 Tra cứu các tài liệu, các dự án và các thông tin khác
 Truyền gửi các thông tin khẩn cấp tới nhân viên
 Quản lý tài chính và nhân sự
 Quản lý vật tư
 Phục vụ hậu cần
 Gửi các thông tin hoặc báo cáo về xử lý đơn hàng cho người cung
cấp hàng.
<2> Giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng
 Tra cứu thông tin về sản phẩm và hàng hoá (trên Web)
 Đặt hàng
 Thanh toán các hàng hoá và dịch vụ
 Cung cấp các lao vụ trực tuyến cho khách hàng
Trước hết, về giao dịch B2B, đây là quan hệ giao dịch chiếm tỷ lệ chủ
yếu trong tổng số các giao dịch thương mại điện tử hiện nay. Khi áp dụng

bổ sung, hoàn thiện sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu của thị trường từ đó
nâng cao kết quả và hiệu quả kinh doanh.
Về giao dịch B2C, đây là một phương thức giao dịch ngày càng phổ biến
bởi những tiện ích mà nó đem lại cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.
Với sự phát triển của Internet, người tiêu dùng ngày càng quen dần với việc
mua hàng trên mạng, một thị trường điện tử nơi người bán và người mua gặp
nhau mà trong tương lai có thể dần thay thế cho các thị trường truyền thống.
Khi mua hàng trên mạng, hạn chế về khoảng cách địa lý được xoá bỏ, người
tiêu dùng có thể tự do lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ cũng như các nhà cung
cấp chỉ bằng việc truy cập các Website đang xuất hiện ngày một nhiều hơn
trên mạng.
Giao dịch B2C có ảnh hưởng nhiều đến kênh bán lẻ bởi thông qua
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
21
A5 - K38BInternet, người sản xuất và người tiêu dùng có thể trực tiếp gặp nhau. Do chi
phí trung gian được giảm bớt, người tiêu dùng có thể mua được hàng hoá hay
dịch vụ mình mong muốn với giá thấp hơn và tin tưởng rằng sẽ được hưởng
các dịch vụ hỗ trợ kèm theo đầy đủ hơn. Việc trao đổi trực tiếp giữa người
bán và người mua giúp người bán nắm được yêu cầu chi tiết của khách hàng
từ đó cung cấp sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu đó, đồng thời, thông
tin phản hồi trực tiếp từ phía khách hàng cũng giúp doanh nghiệp khảo sát


bản thúc đẩy việc điện tử hoá tiền tệ.

III. LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. Giúp doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú
Nhờ các phương tiện điện tử sử dụng trong thương mại điện tử, điển hình
là truy cập các trang web trên Internet và liên lạc qua Internet, các doanh
nghiệp có điều kiện tiếp cận với nguồn thông tin khổng lồ trên Internet cũng
như nắm bắt kịp thời thông tin thị trường để từ đó xây dựng chiến lược sản
xuất kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu
vực và quốc tế. Đồng thời, việc nắm bắt thông tin chính xác và kịp thời cũng
giúp doanh nghiệp nhanh chóng phản ứng được trước những thay đổi của thị
trường. Hơn thế nữa, việc nắm bắt thông tin cũng giúp doanh nghiệp chủ
động đi trước các đối thủ cạnh tranh, đây là một yếu tố rất quan trọng cho sự
tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện hiện nay,
khi các doanh nghiệp luôn phải chịu sức ép cạnh tranh vô cùng gay gắt. Điều
này đặc biệt có ý nghĩa với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng được
nhiều quốc gia quan tâm và coi là một trong những động lực phát triển chủ
yếu của nền kinh tế hiện nay.
2. Giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc lựa chọn khi mua hàng
Thương mại điện tử đã và đang tạo ra nhiều cơ hội mới cho cả người
tiêu dùng cá lẻ và các doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của thương mại
điện tử, ngày càng nhiều doanh nghiệp tổ chức kinh doanh trực tuyến bằng
cách quảng cáo trên mạng, bán hàng và thanh toán trên mạng. Việc quảng cáo
trên mạng giúp khách hàng có thể dễ dàng tìm hiểu thông tin chi tiết và chính
xác về mặt hàng mình quan tâm. Thêm vào đó, do không phải mất nhiều thời
gian tìm đến tận cửa hàng nơi có trưng bày và bán sản phẩm, khách hàng có
điều kiện thăm quan cùng lúc nhiều trang web của nhiều doanh nghiệp khác
số lượng người truy cập Internet ngày một nhiều như hiện nay, việc quảng cáo
trên Internet là vô cùng hiệu quả bởi doanh nghiệp có thể mở rộng phạm vi
quảng cáo mà không tốn thêm quá nhiều chi phí. Hơn thế nữa, các catalogue
điện tử mà doanh nghiệp sử dụng để quảng cáo có nội dung phong phú, sinh
động, hấp dẫn hơn nhiều và dễ dàng cập nhật thường xuyên so với các
catalogue in ấn vốn có nhiều hạn chế về in ấn, phát hành.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Lª Thu Ph¬ng
24
A5 - K38B5. Giảm chi phí giao dịch
Thương mại điện tử thực hiện qua Internet giúp người tiêu dùng và các
doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch. Một giao dịch
trong thương mại điện tử được tính bao gồm các công đoạn từ quảng cáo, tiếp
xúc ban đầu cho đến giao dịch đặt hàng, giao hàng và thanh toán. Sử dụng
Internet, thời gian giao dịch chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua fax và bằng
0,05% thời gian giao dịch qua bưu điện. Chi phí giao dịch qua Internet chỉ
bằng 5% chi phí giao dịch qua fax hay qua bưu điện hoặc chuyển phát nhanh.
Chi phí thanh toán điện tử qua Internet cũng chỉ bằng 10% đến 20% nếu so
với chi phí thanh toán theo lối thông thường.
Thời gian tiết kiệm được do giảm bớt thời gian giao dịch có ý nghĩa rất
quan trọng với doanh nghiệp vì việc nhanh chóng đưa thông tin sản phẩm đến
với người tiêu dùng cũng như việc sớm nắm bắt được nhu cầu thị trường từ

công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng
lớn trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, từ đó, thương mại điện tử tạo điều
kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá. Đây là một lợi ích mang
tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và liên quan đến chính sách phát
triển của các quốc gia, bởi một quốc gia, đặc biệt là nước đang phát triển, sớm
tiếp cận được với nền kinh tế số hoá có thể tạo ra cho mình một bước phát
triển nhảy vọt, tiến kịp các nước đi trước trong thời gian ngắn.

IV. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI
Thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu. Tuy
hiện nay thương mại điện tử được áp dụng chủ yếu ở các nước phát triển,
trong đó riêng Mỹ đã chiếm khoảng 1/2 tổng doanh số thương mại điện tử
trên thế giới, các nước đang phát triển cũng đã bắt đầu tham gia ngày càng
nhiều vào hoạt động kinh doanh này. Tuỳ đặc điểm kinh tế xã hội và định
hướng phát triển riêng mà mỗi quốc gia có cách nhìn nhận, đánh giá, cách
chuẩn bị, triển khai và có các bước đi khác nhau trong quá trình tham gia vào
thương mại điện tử. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy,
để có thể tham gia có hiệu quả vào thương mại điện tử và hạn chế đến mức
thấp nhất các rủi ro, mỗi nước đều phải có chiến lược chung về thương mại
điện tử, có chương trình tổng thể, phương án hành động từng bước và phải có
tổ chức chuyên trách cho công việc này.
Sự phát triển của thương mại điện tử trên thế giới

Trích đoạn Thuận lợi và khú khăn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc ứng Quan điểm phỏt triển thương mại điện tử ở Việt Nam Mục tiờu phỏt triển thương mại điện tử ở Việt Nam Phương hướng phỏt triển thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa Phỏt triển hơn nữa cơ sở hạ tầng cụng nghệ thụng tin và viễn thụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status