Đề tài: Thương mại điện tử ở
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Việt Nam LỜI MỞ ĐẦU:
Trong thời đại ngày nay ,việc toàn cầu hóa nên kinh tế đang diễn ra nhanh
chóng. Thông tin là một công cụ chiến lược của mọi nhà kinh doanh khắp nơi
trên thế giới, nhà kinh doanh cần phải có các thông tin như: thông tin thò trường,
thông tin về giá cả các yếu tố sản xuất, về cước phí vận tải, các phương tiện bảo
hiểm hàng hóa, khả năng về vốn, những yêu cầu của hải quan, các loại thuế
suất Để nhà kinh doanh có quyết đònh đúng đắn. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp
ở Việt nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn không có khả năng
tiếp cận các thông tin trên thế giới có liên quan đến lónh vực sản xuất kinh doanh
của mình hoặc giới thiệu sản phẩm cho các khách hàng tiềm năng ở nước ngoài
bởi vì họ không có khả năng đầu tư cho việc thu thập thông tin và quảng bá sản
phẩm trên qui mô thò trường quốc tế.
Thương mại điện tử (electronic-commerce) chính là một công cụ hiện đại
sử dụng mạng Internet giúp cho các doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thò
trường thế giới, thu nhập các thông tin quản trò nhanh hơn, nhiều hơn, chính xác
hơn. Với Thương mại điện tử, các doanh nghiệp cũng có thể đưa ra các thông tin
về sản phẩm của mình đến các đối tượng khách hàng tiềm năng khác nhau ở mọi
nơi trên thế giới-những nơi mà có thể kết nối Internet. Khi đó với chi phí đầu tư
thấp và nhiều tiện ích khác, các doanh nghiệp có thu được nhiều lợi ích như:
• Thu thập được các thông tin phong phú về thò trường và đối tác;
• Đưa thông tin của mình trên phạm vi không gian ảo rộng lớn không bò
• Nêu một số ứng dụng Internet , Thương mại điện tử , sơ lược các mô
hình ứng dụng Thương mại điện tử trên thế giới.
• Nghiên cứu và tổng quát hóa việc ứng dụng Thương mại điện tử cho
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam.
• Đề xuất và cụ thể hóa một quy trình ứng dụng Thương mại điện tử
cho doanh nghiệp có tính khả thi cao cho doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam .
• Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của việc ứng dụng Thương mại
điện tử cho doanh nghiệp để thấy được sự cấp thiết của việc đưa ứng dụng của
Thương mại điện tử vào sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở nước ta hiện nay thúc đẩy tiến trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới .
Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề án.
Để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, đề án sẽ trình bày và phân tích những vấn
đề cơ bản về việc sử dụng Internet , một số mô hình ứng dụng Thương mại điện
tử cho các doanh nghiệp trên thế giới và ứng dụng trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam .
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ INTERNET VÀ THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ
Indonesia
231,340,000 5,500,000 2.38%
Lao
5,921,000 15,000 0.25%
Cambodia
13,124,000 30,000 0.23%
Myanmar
51,000,000 12,000 0.02%
ASEAN 555,772,000 26,795,160 4.82%
Quốc Gia Khác
China
1,287,000,000 68,000,000 5.28%
Brazil
176,509,000 14,323,000 8.11%
France
60,180,000 18,000,000 29.91%
Australia
19,930,000 10,965,000 55.02%
UK
64,500,200 34,300,000 53.18%
Japan
127,300,000 57,564,000 45.22%
Netherlands
16,150,000 10,351,000 64.09%
South Korea
48,400,000 26,270,000 54.28%
Switzerland
7,785,000 4,265,000 54.78%
Sweden
8,878,000 6,600,000 74.34%
được gửi đi và giải mã khi người ta nhận được nó. Mã hoá dùng để bảo vệ một
thông điệp không bò xem và thay đổi trái phép.
Chữ ký số hoá: là một dạng của chữ ký điện tử, sử dụng kó thuật mật mã để
kiểm tra người gửi thông điệp có đúng là người gửi thật không và có nội dung
chưa bò thay đổi từ khi bức thông điệp được gửi đi. Hoa Kỳ là nước đầu tiên công
nhận chữ ký điện tử.
Chứng chỉ số hoá: là một dạng bảo đảm bằng điện tử xác nhận một thông
điệp là xác thực. Điều này cũng như khái niệm về các chứng chỉ bằng giấy như
giấy khai sinh, hộ chiếu và bằng lái xe. Giấy chứng chỉ (như bằng lái xe) được
một bên thứ ba đáng tin cậy (như nhà nước) chỉ ra bằng những thông tin trong
thông điệp (tên, đòa chỉ, ) là đáng tin cậy.
Hiện nay các doanh nghiệp cũng lo lắng về việc Chính Phủ có thể đánh thuế
quá mức trên Internet và có thể có những qui đònh quá mức hoặc kiểm duyệt
Internet, hạn chế nội dung hoặc làm phức tạp quá trình. Ví dụ như quyết đònh số
27/2002/QĐ-BVHTT ngày 10 tháng 10 năm 2002 của Bộ Văn Hoá Thông Tin có
thể làm cản trở sự phát triển của Internet và thương mại điện tử. Một số doanh
nghiệp khác còn lo ngại khả năng hoạt động và độ tin cậy của Internet. Các
doanh nghiệp đã từng sử dụng các giao dòch EDI trên các mạng riêng giá trò gia
tăng đã biết rằng các thông tin quan trọng sẽ được chuyển tới đích của nó theo
lòch, không bò xâm phạm trái phép mà nhà cung cấp dòch vụ mạng phải chòu
trách nhiệm về việc này. Nhưng Internet thì không có sự bảo đảm đó bởi
Internet là một mạng công cộng của các mạng và các nhà cung cấp kết nối với
nhau, không có một chủ thể nào đảm bảo cho việc một thông điệp được chuyển
từ một điểm này tới một điểm khác mà không bò xâm phạm trái phép. Nhiều cá
nhân, doanh nghiệp đã từng bò lộ các thông tin về thẻ tín dụng, bò kẻ xấu mua
hàng hoá, dòch vụ trên mạng Internet mà tiền lại là của mình
1.2 Thương mại điện tử.
¾ Đònh nghóa: Thương mại điện tử là một sự kết hợp giữa các công nghệ và
dòch vụ tạo điều kiện cho quá trình tự động hoá của các giao dòch thương mại và
và do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động
của hầu hết các hoạt động kinh tế. Theo ước tính, đến nay có tới trên 1300 lónh
vực ứng dụng thương mại điện tử, trong đó, buôn bán hàng hoá và dòch vụ chỉ là
một lónh vực;
Thương mại điện tử mở ra các hoạt động hiệu quả cho kết quả trong những
khoảng thời gian ngắn hơn, cải thiện sự phản hồi với khách hàng và làm giảm
chi phí điều hành. Hầu hết các công ty đang đầu tư vào thương mại điện tử ngày
nay mong muốn có một hệ thống quản lý được các giao dòch thương mại nội bộ
và qua các kênh phân phối. Một kênh phân phối có thể bao gồm các tổ chức bán
hàng và marketing, các nhà sản xuất, các nhà thầu phụ, các nhà cung cấp
nguyên vật liệu, những người bán lẻ, các nhà sản xuất thiết bò đầu tiên và những
người tiêu dùng. Trong kênh phân phối còn có các cơ quan Chính Phủ để kiểm
soát thuế quan và các nhu cầu an ninh, các công ty bảo hiểm để bảo vệ hàng tồn
kho, các công ty phân phối và hậu cần để vận chuyển hàng hoá và cuối cùng là
các ngân hàng để cho quá trình thanh toán.
¾ Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử .
- Thư điện tử (Electronic mail hay E-mail)
- Trao đổi dữ liệu điện tử EDI-(Electronic Data Interchange)
- Thanh toán điện tử (Electronic-Payment)
- Trao đổi các sản phẩm số hoá
- Bán lẻ hàng hoá hữu hình
¾ Các đặc điểm của thương mại điện tử .
Thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp không phải là mới mẻ, từ cuối
những năm 1970, các doanh nghiệp đã bắt đầu gửi, nhận các đơn hàng, hoá đơn
và các thông báo chuyển hàng bằng điện tử thông qua EDI (trao đổi dữ liệu điện
tử ). Mặc dù đã có khoảng 100.000 công ty trên khắp thế giới sử dụng EDI nhưng
đa số những đối tượng được EDI hỗ trợ là những tập đoàn lớn, chính phủ
Nguyên nhân là do tính phức tạp, kém khả năng phổ biến, chi phí lắp đặt và
quản lý quá cao .
Ngày nay, với các ứng dụng của Internet, các doanh nghiệp dù ở qui mô nào
và dòch vụ (như: phần mềm chương trình máy tính, trò chơi, thông tin ) cho
phép ta truyển tải bằng điện tử làm cho thương mại điện tử thực sự trở nên mạnh
mẽ và cần thiết hơn bao giờ hết.
Bảng 2. So sánh thương mại điện tử và thương mại truyền thống Các bước
Thương mại truyền
thống (sử dụng nhiều
phương tiện truyền tin)
Thương mại điện tử (sử
dụng một phương tiện
truyền tin duy nhất)
Ưu điểm của
thương mại điện
tử
Thu thập thông tin
về sản phẩm
Tạp chí, tờ rơi,
quyển catalog sản
phẩm
Các trang Web Thông tin sản
phẩm luôn được
cập nhật hơn
Yêu cầu một loại
hàng
Mẫu yêu cầu, thư
yêu cầu
Thư điện tử Phản hồi nhanh
hơn
động hoá
Viết hoá đơn Mẫu in sẵn Cơ sở dữ liệu trực
tuyến
Tự động
Chuyển hàng Người chuyển hàng
Người chuyển hàng
Internet
Gần như tức
thời đối với SP số
hoá
Giấy báo đã nhận
hàng
Mẫu in sẵn Thư điện tử Nhanh
Gửi hoá đơn (bán)
Nhận hoá đơn
(mua)
Bưu điện Thư điện tử, EDI Nhanh
Lập lòch thanh toán Mẫu in sẵn EDI, Cơ sở dữ liệu trực
tuyến
Có khả năng tự
động hoá
Trả tiền (người
mua)
Tiền mặt, chuyển
khoản
Trao đổi dữ liệu điện
tử
Có khả năng tự
động hoá
Chương 2.
THỰC TRẠNG VỀ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM
Con đường tiếp cận thương mại điện tử của mỗi quốc gia thường gồm 3 giai
đoạn: chuẩn bò – chấp nhận – ứng dụng và các giai đoạn này cũng thường đan
xen vào nhau.
Giai đoạn chuẩn bò gồm các hoạt động từ tuyên truyền, nâng cao nhận thức,
kiến thức, xác đònh mức độ sẵn sàng đối với thương mại điện tử để biết những
yếu tố cần thay đổi hoặc hiệu chỉnh, nhằm đảm bảo thích ứng trên mọi bình
diện. Nước ta đang tiến hành những bước đầu tiên của giai đoạn thứ nhất, nhưng
cũng đã xuất hiện bóng dáng của giai đoạn sau. Một mặt, nhận thức về thương
mại điện tử được khơi dậy và nâng cao dần, kiến thức về thương mại điện tử
đang từng bước được phổ biến trên toàn quốc; mặt khác, chấp nhận và ứng dụng
thương mại điện tử đã và đang được một số cơ quan và doanh nghiệp triển khai.
Trên thực tế, sau gần 5 năm hoà mạng Internet, trình độ ứng dụng và phát
triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam còn thấp là
do các nguyên nhân sau:
Một là, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin và viễn thông còn yếu kém: số
lượng điện thoại và thuê bao Internet tính trên đầu người còn thấp: 1.903.160
thuê bao chiếm 2.35% dân số (tính đến tháng 6 năm 2003), chất lượng và tốc độ
đường truyền còn thấp, chi phí liên quan còn cao. Về viễn thông, Việt Nam có 3
cổng đi quốc tế và 8 trạm mặt đất có khả năng liên lạc trực tiếp tới gần 30 nước
và gián tiếp tới trên 300 nước. Mạng điện thoại đã được số hoá và tỷ lệ thuê bao
trung bình toàn quốc đạt 4 máy/100 dân.
Việt Nam chính thức tham gia vào mạng Internet toàn cầu ngày 19 tháng 11
năm 1997. Ngày 1 tháng 12 năm 1997, các nhà cung cấp dòch vụ Internet Việt
VDC
Saigonnet
FPT
Netnam
Cước truy cập Internet của Việt Nam (chưa bao gồm VAT)
Dòch vụ VNN 1260 (Đơn vò tính: Đồng /phút)
Thời gian Từ 7h đến 19h trong
ngày(trừ ngày lễ, thứ
7, CN)
Từ sau 19h đến 24h hàng
ngày và từ 7h đến 19h
ngày lễ, thứ 7, CN
Từ 0h đến 7h trong ngày
và từ sau 19h đến 7h sáng
ngày hôm sau, đối với các
ngày lễ, thứ 7, CN
Mức cước 180 100 40
Dòch vụ VNN 1269(Đơn vò tính: Đồng /phút)
Thời gian sử dụng
trong tháng
Đến 10h Từ 10h đến
20h
Từ trên 20h
đến 30h
Từ trên 30h
đến 50h
Trên 50h
Thương mại-dòch
vụ
Cả hai
Loại hình doanh nghiệp Bảy là, các nhân tố khác như hạn chế về trình độ ngoại ngữ trong nhân dân
và lề lối làm việc, cũng như cách mua bán hàng hoá nói riêng, vẫn còn theo tập
quán cũ( giao dòch vẫn trên giấy tờ, hợp đồng phải có văn bản gốc, mua hàng
hoá phải trông thấy, sờ vào hàng hoá, nếm thử, mặc thử, đi thử, trả tiền mặt,
đếm tiền mặt….) nghóa là khác biệt một cách căn bản so với khái niệm thương
mại điện tử và nhìn chung, đều là những thói quen không thể nhanh chóng thay
đổi, cũng là những nguyên nhân cơ bản hạn chế ứng dụng và phát triển thương
mại điện tử .
Tám là, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Việt Nam còn rất hạn chế, nhất là trong việc khai thác và sử dụng các
công cụ trên Internet trong sản xuất kinh doanh như diễn giả Nguyễn Văn Thảo
– phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết: “Doanh nghiệp Việt
Nam chưa nhận thức được vai trò của công nghệ thông tin trong việc nâng cao
năng lực cạnh tranh, đầu tư công nghệ thông tin ở các doanh nghiệp chưa đồng
bộ, hiệu quả; Một số doanh nghiệp đã ý thức được tầm quan trọng của công
nghệ thông tin với hoạt động kinh doanh nhưng chưa tìm được hướng tiếp cận
hiệu quả…”
Nhìn chung, ở nước ta hiện nay đã có áp dụng thương mại điện tử, nhưng mới
chỉ dừng lại ở con số công đoạn như trao đổi thông tin về hàng hoá, dòch vụ mua
bán lẻ… mà chưa thực hiện đầy đủ các quy trình thương mại trong thương mại
điện tử. Một số loạt vấn đề về hạ tầng cơ sở liên quan đến thương mại điện tử
như pháp lý, công nghệ, trong đó có công nghệ bảo mật, an ninh an toàn, tiêu
chuẩn hoá công nghiệp và thương mại, thanh toán điện tử, bảo vệ người tiêu
Các quá trình trong doanh nghiệp đều có khả năng thay đổi để ứng dụng
thương mại điện tử. Ví du như: Cải thiện doanh số bán hàng bằng cách thêm các
hình ảnh đa phương tiện vào các trang Web và đưa ra nhiều thông tin chi tiết hơn
về các website; hoăc thiết kế một trang web và dòch vụ thư điện tử để thu thập
thông tin của từng khách hàng; hoặc thiết lập Internet như là mộ kênh bán hàng
mới, bằng cách sử dụng một Catalog điện tử và các mẫu đặt hàng; hoặc sử dụng
Internet như một phương tiện truyền thông để thực hiện các đơn mua hàng đối
với các nhà cung cấp. Cách này có thể giảm được chi phí trực tiếp cho việc kinh
doanh.
Như vậy, ta thấy rằng các mô hình phổ biến trên Internet đều bao gồm các đối
tượng và các quá trình như hình vẽ :
DOANH
1 1
NGHIỆP
2 2
3 3
4 4
5 5
Hệ thống
thương mại
điện tử KHÁCH
HÀNG
Hệ thống thương mại điện tử có thể được xây dựng theo các mô hình: (B2B)
Doanh nghiệp
(
B2C ) (G2B)
(Thông báo
về thanh
toán giao
hàng)
(
Đ
ơn hàng
,
yêu cầu, dữ
*. Hệ thống.
Người tiêu dùng Chính quyền
Máy chủ của doanh
nghiệp (siêu thò)
(Mô hình hệ thống mua bán hàng qua mạng)
Máy chủ tại
Trung tâm thông
tin Bộ Thương
mại
Trung tâm thông tin Bộ thương mại (Trung tâm) đóng vai trò trung tâm giao
dòch. Tại đây sẽ xây dựng một Website mua bán hàng hoá. Các doanh nghiệp sẽ
- Tích hợp hệ thống thanh toán của ngân hàng( Vasc Payment).
- Bảo mật dữ liệu trong đường truyền:
+ Dữ liệu đường truyền được mã hoá bởi SSL (Secure Socket Layer) 128 bit.
Do đó dữ liệu không bò thay đổi trên đường truyền.
+ Người sử dụng đầu cuối (End users) đều làm việc với giao thức siêu văn
bản có bảo vệ https.
Các chức năng cơ bản của hệ thống.
Cấu trúc hệ thống được biểu diễn trong hình vẽ sau: Home
Kind Market Service
Cate
g
or
y
Introduce
Products
Admin
Mana
g
e
r
Orde
r
Input Product
- Cho phép khách hàng theo dõi quá trình thực hiện đơn hàng.
- Thanh toán và giao hàng:
+ Thanh toán trực tiếp hoặc kết hợp với Ngân hàng thanh toán qua ngân
hàng.
+ Phương thức giao hàng: tuỳ thuộc điều kiện cụ thể mà thông báo giao
hàng tại nhà hay tại từng cửa hàng.
- Có khả năng liên kết tới các Website riêng của từng doanh nghiệp.
- Thực hiện các dòch vụ khách hàng: dòch vụ hướng dẫn khách hàng mua
bán các sản phẩm hàng hoá; dòch vụ khuyến mãi hàng hoá; dòch vụ giới thiệu,
quảng cáo các loại hàng hoá mới; dòch vụ trả lời câu hỏi và lấy ý kiến góp ý của
khách hàng; hệ thống trợ giúp dòch vụ bảo hành, bảo trì sản phẩm .
B
Máy kháchTrình du
y
ệt
Web
Trung tâm Siêu thò
¾ Quy trình thực hiện giao dòch của hệ thống: “*”
Các công việc thực hiện trong từng giai đoạn:
- Tìm kiếm: thực hiện các công việc liệt kê, tìm kiếm, lựa chọn hàng.
- Giỏ hàng: cung cấp các thông tin về hàng: lấy thông tin về số lượng
hàng; tính giá sơ bộ các mặt hàng có trong giỏ hàng.
- Đặt hàng: hỏi các thông tin về hàng; hỏi thông tin đòa điểm, thời gian
giao hàng; xác nhận thông tin về số lượng hàng; tính giá toàn bộ đơn hàng.
- Kiểm tra khả năng thanh toán: kiểm tra khả năng thanh toán của khách
hàng thông qua tài khoản của khách hàng tại ngân hàng hoặc thẻ tín dụng.
- Phân chia đơn hàng: tách đơn hàng tổng thành các đơn hàng riêng cho
các siêu thò.
- Kiểm tra thực hiện đơn hàng: kiểm tra khả năng cung cấp hàng của từng
siêu thò.
- Liên hệ với khách hàng: thoả thuận thời gian, đòa điểm giao nhận hàng,
thoả thuận phương thức thanh toán.
- Thực hiện đơn hàng: xác nhận các giao dòch; xác nhận việc hoàn tất các
đơn hàng; cập nhật đơn hàng.
Liên hệ với khách hàn
g
Thực hiện đơn hàng
Phân chia đơn hàng
E
+ Xây dựng đơn hàng.
+ Gửi đơn hàng về các siêu thò tương ứng.
+ Tiếp nhận và xử lý thông tin từ các siêu thò.
+ Quản lý khách hànứng dụng.
+ Quản lý giao dòch
Trình TMĐT 2 trên máy chủ của siêu thò bao gồm nhiều môđun: chương
trình có nhiệm vụ chính:
+ Tiếp nhận đơn hàng.
+ Xử lý đơn hàng.
+ Gửi yêu cầu cập nhật hàng hoá cho Trung tâm.
Các trình TMĐT được xây dựng bằng ASP.NET, ADO.NET, kết hợp với
lập trình mở rộng dòch vụ Web của Microsoft. Với việc lựa chọn trên giúp cho
việc mở rộng hay tích hợp với các môi trường CSDL khác được thuận lợi.
3.3 Xây dựng chiến lược quốc gia về thương mại điện tử cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Một chiến lược quốc gia về thương mại điện tử phải giải quyết các vấn đề
sau:
Mạng Internet sẽ có lợi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ như thế nào?
Làm thế nào để tăng hiểu biết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ về mạng
Internet và vai trò của nó?
Giải đáp như thế nào các vấn đề kó thuật do các doanh nghiệp đặt ra?
Đào tạo các doanh nghiệp như thế nào để sử dụng Internet như một
phương tiện bán hàng, tiếp thò, giao dòch và quản lý hoạt động cung ứng?
Mô tả các sản phẩm và dòch vụ sẽ thu được lợi qua việc bán hàng trên
Internet ?
Để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng Internet nhiều hơn các
Bộ, Cơ quan của Chính phủ, các tổ chức phát triển thương mại, các hiệp hội công
nghiệp của khu vực tư nhân, các nhóm phi lợi nhuận cần xử lý một số vấn đề
chính sách tài chính, pháp lý, tiếp cận mạng và các vấn đề chính sách khác như:
Các kó thuật tiếp thò hiệu quả; mật mã, sự an toàn về thanh toán; đánh thuế;
khoá thành công. Cần đề cao các mạng lưới trọng tâm các dòch vụ điện tử của
Chính phủ, ở cấp vùng, miền và đòa phương và các quan hệ đối tác trong ngành
công nghiệp.
- Các giao dòch điện tử: công nghệ thông tin và liên lạc sẽ được sử dụng
trong những giao dòch điện tử thay thế cho tiến trình hiện nay dùng nhiều giấy tờ.
Các hệ thống kiểm soát bằng máy tính sẽ giúp cho các ngân hàng đánh giá được
tính tin cậy của một người xin vay tiền, kiểm tra xem một công ty có đủ các tiêu
chuẩn để hưởng các chương trình tín dụng hay không và làm cho các cơ sở công
nghiệp nhỏ có thể vận dụng được các cơ hội về thu mua;
- Đào tạo: đào tạo các công ty nhỏ trong việc sử dụng thương mại điện tử
thông qua các công cụ dựa trên Internet để giúp cho họ mua và bán, tìm sự hỗ
trợ về tín dụng và vốn đầu tư, thương mại hoá công nghệ và tìm các manh mối,
thông tin thương mại;
- Tiếp cận rộng hơn với thông tin: có thể cung cấp nhiều sự hỗ trợ về kinh
doanh trên Internet, đi từ hướng dẫn sơ đẳng cho các chủ công ty có triển vọng,
góp ý và giáo dục trên mạng Internet; làm trung gian môi giới cho các mạng lưới
người mua và cung cấp các khoản viện trợ không hoàn lại về đổi mới và nghiên
cứu, vốn đầu tư và cơ hội ký hợp đồng. Tổ chức quốc gia cần cung cấp sự tiếp
cận với các thông tin và dòch vụ của Chính phủ thông qua đòa chỉ trang Web của
mình và xây dựng các cổng liên cơ quan để bất cứ ai cũng có thể tiếp cận thông
tin vào bất cứ thời điểm nào và bất cứ đâu.
- Tiếp cận các mạng và môi giới: tổ chức quốc gia nên giúp tạo ra các thò
trường, sửa chữa những khuyếm khuyết của thò trường ở nơi nào có thể cung cấp
một nền tảng để người mua và nhà cung cấp có thể liên hệ được với nhau và
vượt qua danh giới về khoảng cách và thời gian.
- Tiếp cận với sự trợ giúp của các giao dòch: các tổ chức quốc gia nên tiến
hành hầu hết các công việc kinh doanh của họ trên mạng Internet: như duyệt các
bảo đảm cho vay, cung cấp và chứng nhận các tiêu chuẩn được hưởng, hợp đồng
với Chính phủ, các khoản viện trợ không hoàn lại, cung cấp các lời giải đáp và
tạo công cụ hỗ trợ kinh doanh để giúp các công ty tìm ra giải pháp phù hợp.