Luận văn
Thực trạng hỗ trợ xuất khẩu cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt
Nam và giải pháp phát triển
1
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................................4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CHÍNH
SÁCH HỖ TRỢ XUẤT KHẨU....................................................................................................5
1- Tiêu th c xác nh doanh nghi p v a v nhứ đị ệ ừ à ỏ................................................5
2. Các y u t tác ng n phân lo i SME.ế ố độ đế ạ ......................................................7
II- VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT
TRIỂN KINH TẾ...........................................................................................................................8
1- Các biện pháp hỗ trợ:...............................................................................................................9
1.1- T giá h i oái:ỷ ố đ ............................................................................................9
1.2. Th c hi n các bi n pháp t i chính tín d ng:ự ệ ệ à ụ ...........................................10
1.2.1- Th c hi n bi n pháp c p tín d ng xu t kh u:ự ệ ệ ấ ụ ấ ẩ .................................10
1.2.2. Bi n pháp b o lãnh tín d ng:ệ ả ụ .............................................................11
1.3- Bi n pháp tr c p xu t kh u:ệ ợ ấ ấ ẩ ....................................................................11
1.4- Bi n pháp h tr v th ch - t ch c:ệ ỗ ợ ề ể ế ổ ứ .....................................................12
2- Kinh nghiệm hỗ trợ xuất khẩu cho SME của một số nước.................................................12
2.1. Các bi n pháp h tr c a i Loan.ệ ỗ ợ ủ Đà .....................................................12
2.2. Các bi n pháp h tr c a H n Qu c.ệ ỗ ợ ủ à ố ........................................................15
CHƯƠNG II: DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH .......................17
HỖ TRỢ XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM ...................................................................................17
I- KHÁI QUÁT TH C TR NG CÁC DOANH NGHI P V A VÀ NH Ự Ạ Ệ Ừ Ỏ ..........17
VI T NAM.Ở Ệ .....................................................................................................17
1. Khái ni m v các doanh nghi p v a v nh (SME) Vi t Nam.ệ ề ệ ừ à ỏ ở ệ ..........17
2. Khái quát th c tr ng các doanh nghi p v a v nh Vi t Nam.ự ạ ệ ừ à ỏ ở ệ ..........18
3. Vai trò c a các doanh nghi p v a v nh Vi t Nam trong xu t kh u ủ ệ ừ à ỏ ở ệ ấ ẩ
v s nghi p phát tri n kinh t .à ự ệ ể ế ....................................................................23
.............................................................................................................................52
III. NH NG GI I PHÁP CH Y U NH M H TR XU T KH U CHO CÁC Ữ Ả Ủ Ế Ằ Ỗ Ợ Ấ Ẩ
DOANH NGHI P V A VÀ NH .Ệ Ừ Ỏ .....................................................................53
1. i m i ho t ng tín d ng h tr xu t kh u cho SME.Đổ ớ ạ độ ụ ỗ ợ ấ ẩ .....................53
2. Ti p t c i m i chính sách thu theo h ng h tr cho SME.ế ụ đổ ớ ế ướ ỗ ợ ..............57
3. T ng c ng ho t ng c a các Qu h tr SME trong ho t ng kinh ă ườ ạ độ ủ ỹ ỗ ợ ạ độ
doanh xu t kh u.ấ ẩ ................................................................................................59
4. T ng c ng ho t ng xúc ti n th ng m i nói chung, i v i SME nói ă ườ ạ độ ế ươ ạ đố ớ
riêng.....................................................................................................................60
5. Xây d ng h th ng thông tin h tr xu t kh u.ự ệ ố ỗ ợ ấ ẩ ..........................................61
6. H tr doanh nghi p ti p c n v i th tr ng th gi i.ỗ ợ ệ ế ậ ớ ị ườ ế ớ ...............................61
7. Ti p t c i m i chính sách th ng m i trong vi c h tr xu t kh u cho ế ụ đổ ớ ươ ạ ệ ỗ ợ ấ ẩ
các doanh nghi p v a v nh .ệ ừ à ỏ ...........................................................................62
8. T ng c ng h tr kh n ng c nh tranh cho SME trên th tr ng th ă ườ ỗ ợ ả ă ạ ị ườ ế
gi i.ớ .................................................................................................................63
DANH M C TÀI LI U THAM KH OỤ Ệ Ả ..............................................................66
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng:
cơ cấu kinh tế có chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng trưởng ổn định trong một thời gian khá
dài. Kết quả đó có sự đóng góp không nhỏ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) thuộc các
thành phần kinh tế ở nước ta.
SME trong thời gian qua có bước phát triển nhanh về số lượng, tham gia vào các loại
hình kinh tế và sự đóng góp vào sự tăng trưởng GDP của nước ta ngày một cao. Tuy nhiên
trong xu thế hiện nay, với quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và hội nhập kinh tế quốc tế trong
khu vực và trên thế giới đã bước sang một giai đoạn phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng
và sâu sắc, làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng trở thành một chỉnh thể thống nhất, các quan
hệ kinh tế được phát triển đa phương, đa dạng hoá dưới nhiều hình thức.Trong bối cảnh đó, đối
với một nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế đã tạo ra những cơ hội cho các doanh nghiệp nói chung và những doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở Việt Nam.
Do giới hạn về mặt thời gian cộng với trình độ còn hạn chế nên khoá luận tốt nghiệp này
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của các
thầy cô giáo trong Trường Đại học Ngoại thương cùng các bạn để khoá luận này được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Thạc sỹ Phạm Thị Hồng Yến đã tận tình giúp đỡ,
hướng dẫn tôi nghiên cứu hoàn thành bản Khoá luận tốt nghiệp này.
Sinh viên
Phạm Thị Bích Thủy
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CHÍNH
SÁCH HỖ TRỢ XUẤT KHẨU.
I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
1- Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa rất lớn để xác
định đối tượng được hỗ trợ. Vì vậy, hầu hết các nước đều nghiên cứu tiêu thức phân loại doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, trên thế giới không có tiêu thức thống nhất để phân loại doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Thậm chí ngay trong một nước, sự phân loại cũng khác nhau tuỳ theo từng
thời kỳ, từng ngành nghề, địa bàn...Có hai nhóm tiêu thức chủ yếu dùng để phân loại doanh
nghiệp vừa và nhỏ: Tiêu thức định tính và tiêu thức định lượng.
- Tiêu thức định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp vừa và nhỏ
như không có vị thế độc quyền trên thị trường, chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít...các
5
tiêu thức này có ưu thế là phản ánh đúng của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế.
Do đó, nó chỉ được làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử dụng trên thực tế để phân loại.
- Tiêu thức định lượng: Thường sử dụng các tiêu thức như là số lao động thường xuyên
và không thường xuyên trong doanh nghiệp, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong
đó:
- Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao
động thực tế,..
- Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn cố định, giá
Số lao động; Tổng giá trị tài sản; Doanh thu
Số lao động; Tổng giá trị tài sản
Vốn đầu tư; Tổng giá trị tài sản; Doanh thu
Số lao động; Vốn đầu tư
Số lao động
Nguồn: Ban thương mại và đầu tư, tiểu ban kinh doanh vừa
6
và nhỏ của các nước APEC, 2001.
Ở Indonesia; Tổng cục thống kê nước này phân loại dựa vào số lao động: Doanh nghiệp
có dưới 19 lao động được coi là nhỏ, doanh nghiệp có trên 20 lao động được coi là vừa và lớn.
Bộ công nghiệp xác định SME dựa trên vốn đầu tư vào máy móc: dưới 70 triệu rupi và tính bình
quân trên một lao động có dưới 625 nghìn rupi là doanh nghiệp nhỏ. Còn Ngân hàng Indonesia
coi doanh nghiệp có tài sản dưới 100 triệu rupi là SME.
Ở Hồng kông, doanh nghiệp có lao động dưới 200 người là SME. Ở Hàn Quốc; tiêu thức
phân loại doanh nghiệp chủ yếu dựa vào số lao động và phân biệt theo hai lĩnh vực sản xuất và
dịch vụ: trong lĩnh vực sản xuất dưới 1000 lao động, trong lĩnh vực dịch vụ dưới 20 lao động là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ở Đài Loan doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người và vốn đầu tư dưới 1,5 triệu
USD là SME. Ở Malaysia; doanh nghiệp có vốn cổ đông dưới 500 nghìn USD hay tài sản ròng
dưới 200 nghìn USD, số lao động dưới 20 người, doanh nghiệp có vốn cổ đông hay tài sản ròng
từ 0,5- 2,5 triệu USD, lao động dưới 100 người là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở Thái Lan;
doanh nghiệp có số lao động tối đa 250 người và vốn đầu tư không quá 99.500 USD là SME.
Theo các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì SME là những
công ty hạch toán độc lập không phải là các Công ty con của các Công ty lớn; tuyển dụng ít hơn
một số lượng lao động đã được quy định. Số lượng này khác nhau giữa các hệ thống thống kê
quốc gia. Giới hạn trần phổ biến nhất là 250 lao động tại các nước thuộc liên minh Châu Âu
(EU). Tuy nhiên, một số nước đặt ra giới hạn ở mức 200 lao động, trong khi Mỹ coi SME bao
gồm các Công ty có ít hơn 500 lao động.
1
II- VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT
TRIỂN KINH TẾ.
Trên thế giới, người ta đã thừa nhận rằng khu vực SME đóng một vai trò quan trọng
trong sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi nước. Tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế mỗi nước
mà vai trò cũng thể hiệ47n khác nhau.
Đối với các nước công nghiệp phát triển cao như CHLB Đức, Nhật Bản, Mỹ,... Doanh
nghiệp vừa và nhỏ có vai trò hết sức quan trọng. Ở CHLB Đức, SME vẫn có vai trò quan trọng
trên nhiều mặt. Ở Nhật Bản người ta coi SME là một nguồn lực bảo đảm cho sức sống của nền
kinh tế, là bộ phận quan trọng của cơ cấu quy mô nhiều tầng của các doanh nghiệp.
Đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển thì ngoài vai trò là bộ phận hợp
thành của nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, SME còn
có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành công nghiệp hoá đất nước, xoá
đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội.
Đối với các nước ở Châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippin, Inđônêsia, SME có vai
trò tích cực trong việc chống đỡ các tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, góp phần
đáng kể vào sự ổn định kinh tế - xã hội và từng bước khôi phục nền kinh tế.
Vai trò của SME được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: SME chiếm tỷ trong cao về số lượng trong tổng số các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh của các nước: Theo tiêu chí xác định SME thì số doanh nghiệp này ở các nước
8
chiếm tỷ lệ từ 90-99% tổng số doanh nghiệp của các nước. Cụ thể: Nhật Bản: 99,1%, các nước
Tây Âu: 99% (riêng Đức: 99,7%), Mỹ và lãnh thổ Đài Loan : 98%, Singapore: 90%, Thái Lan,
Malaysia, Indonesia: 95-98%.
Thứ hai: Thu hút lượng lao động của toàn xã hội. Tuy số doanh nghiệp của khu vực
SME chiếm tỷ trọng cao nhưng do số lượng lao động của từng doanh nghiệp không nhiều, nên
tổng số lao động làm trong SME không nhiều, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể, từ 50-80%.
Thứ ba: Đóng góp phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân và tăng trưởng kinh tế.
Theo tính toán của các nước thì SME góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân
của các nước.
Sở dĩ SME có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước vì nó có tính linh hoạt
Chỉ số giá cả nước ngoài
Việc đưa ra chỉ số giá cả nước ngoài vào tính toán tỷ giá thực tế cần phải được cân nhắc
kỹ bởi vì, một nước có quan hệ thương mại với nhiều nước khác. Để sử dụng có hiệu quả chính
sách tỷ giá hối đoái có thể phải tính tỷ giá hối đoái song phương đối với từng bạn hàng thương
mại quan trọng.
TGHĐTT thay đổi ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh xuất khẩu của SME nói riêng.
Do đó, nó có thể gây tác động thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động xuất khẩu. Điều này thể hiện:
nếu TGHĐTT quá cao có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị tăng lên so với đồng ngoại tệ thì hàng
nhập khẩu trở nên rẻ tương đối so với sản phẩm nội địa mà chúng chịu chi phí tăng do lạm phát
nhưng các nhà xuất khẩu trở nên kém sinh lợi do ngoại tệ thu được phải bán với tỷ giá chính
thức cố định thấp. Nếu các nhà xuất khẩu tăng giá xuất khẩu để bù đắp chi phí thì sẽ gặp rất
nhiều khó khăn trong vấn đề chiếm lĩnh thị trường. Như vậy, khi tỷ giá thực tế tăng so với tỷ giá
chính thức thì sẽ khuyến khích nhập khẩu nhưng lại kìm hãm xuất khẩu.
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt thúc đẩy xuất khẩu,
Nhà nước cần có biện pháp giảm lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền nội địa và có tỷ giá chính
thức hợp lý, phù hợp với mục tiêu chung trong chiến lược phát triển hướng ngoại.
1.2. Thực hiện các biện pháp tài chính tín dụng:
Việc Nhà nước áp dụng các biện pháp tài chính tín dụng nhằm mở rộng xuất khẩu là rất
quan trọng, nhất là đối với các nhà xuất khẩu có quy mô vừa và nhỏ. Để chiếm lĩnh thị trường
nước ngoài, thị trường mà ở đó cạnh tranh cực kỳ khốc liệt, nhà xuất khẩu phải thực hiện việc
bán chịu, trả chậm, hoặc dưới hình thức tín dụng hàng hoá với lãi suất ưu đãi cho người mua.
Trong trường hợp này, sự hỗ trợ của nhà nước là rất cần thiết đối với SME. Sự hỗ trợ trong việc
đảm bảo tài chính tín dụng được thể hiện qua các hình thức:
1.2.1- Thực hiện biện pháp cấp tín dụng xuất khẩu:
Vốn bỏ ra cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu thường rất lớn. Người xuất khẩu phải
có vốn trước và sau khi giao hàng để thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Nhiều khi người xuất khẩu
cần phải có vốn để kéo dài khoản tín dụng ngắn hạn dành cho khách hàng. Đặc biệt đối với
10
SME vấn đề vốn đang là vấn đề rất khó khăn nên cần có sự cung cấp tín dụng của nhà nước với
lãi suất ưu đãi. Cấp tín dụng trực tiếp cho SME không chỉ đơn thuần là trợ giúp để thực hiện
xuất được hưởng giá ưu đãi đối với các yếu tố đầu vào của sản xuất (như điện nước, vận tải,
11
thông tin liên lạc, trợ giá xuất khẩu...). Đối với SME hình thức này rất có tác dụng và có hiệu
quả.
Thứ hai: Trợ cấp gián tiếp là hình thức trợ cấp của nhà nước thông qua việc Nhà nước
dùng ngân sách của mình để giới thiệu, triển lãm, quảng cáo ... tạo điều kiện thuận lợi cho giao
dịch xuất khẩu hoặc Nhà nước trợ giúp về kỹ thuật và đào tạo chuyên gia. Trong điều kiện cạnh
tranh cả trong lẫn ngoài nước như hiện nay nhất là cạnh tranh ngoài nước, SME rất cần sự giúp
đỡ của Chính phủ trong việc nghiên cứu thị trường, cung cấp các thong tin về thị trường, giới
thiệu triển lãm và quảng cáo mặt hàng xuất khẩu. Những vấn đề này, bản thân SME không có
khả năng làm hoặc nếu làm thì không có hiệu quả cao. Việc trợ giúp kỹ thuật và chuyên gia,
không ai khác ngoài Nhà nước phải đảm nhận. SME cần có sự giúp đỡ về đào tạo chuyên gia,
về cả nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu và cả về chuyên gia sản xuất.
1.4- Biện pháp hỗ trợ về thể chế - tổ chức:
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu bằng việc áp dụng các biện pháp thâm
nhập thị trường và tạo điê kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hoá ở nước ngoài. Điều này
thường được thể hiện như sau:
- Lập các trung tâm cung cấp thông tin cho nhà xuất khẩu.
- Đào tạo cán bộ, chuyên gia giúp các nhà xuất khẩu.
- Lập các cơ quan Nhà nước ở nước ngoài để nghiên cứu tại chỗ tình hình thị trường
hàng hoá, thương nhân và chính sách của chính phủ nước sở tại.
- Nhà nước đứng ra ký kết các Hiệp định thương mại, Hiệp định hợp tác kỹ thuật, vay
nợ, viện trợ trên cơ sở thúc đẩy xuất khẩu.
2- Kinh nghiệm hỗ trợ xuất khẩu cho SME của một số nước.
Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra những thách thức lớn cho các doanh
nghiệp Việt Nam nói chung đặc biệt là SME nói riêng trong mọi lĩnh vực và quan trọng nhất là
lĩnh vực xuất khẩu. Với những khó khăn đó, SME sẽ phải quyết tâm rất lớn, bên cạnh đó thì sự
hỗ trợ của Nhà nước trong là một điều rất cần thiết đối với họ.
Một trong những biện pháp có ý nghĩa lúc này là những kinh nghiệm thành công cũng
như thất bại của các nước đi trước có thành tựu lớn trong phát triển kinh tế và thực hiện công
động và vốn.
Trong thời gian 1970-1977 Đài Loan đã miễn giảm thuế, việc giảm thuế đã kích thích
đầu tư. Do đó, số SME mới không ngừng tăng nên, SME cũ không ngừng gia tăng tài sản, khiến
cho mức thuế cơ bản tăng lên, và giá trị tuyệt đối của thuế cũng không ngừng tăng lên. Cho tới
những năm 80, Chính quyền Đài Loan ban hành một hệ thống chính sách tổng hợp hỗ trợ SME
và ngay lập tức đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của khu vực này, tạo nên một làn
sóng phát triển SME. Hệ thống chính sách hỗ trợ SME của Đài Loan từ năm 2000 đến nay bao
gồm:
1. Chính sách hỗ trợ về tài chính tín dụng
2. Chính sách hỗ trợ về công nghệ
3. Chính sách nghiên cứu và phát triển
13
4. Chính sách về kiểm soát chất lượng sản phẩm
5. Chính sách quản lý đào tạo
6. Chính sách an toàn công nghiệp
7. Chính sách hỗ trợ nghiên cứu thị trường quốc tế
8. Chính sách trợ giúp SME hợp tác lẫn nhau cùng phát triển
9. Chính sách trợ giúp SME thích ứng với hệ thống pháp luật
Với hệ thống chính sách này, Đài Loan đã thành công trong phát triển SME . Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Đài Loan đóng góp bình quân mỗi năm tới 40% GNP, 60% kim ngạch
xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho khoảng 68% lực lượng lao động cả nước.
2
Ngoài những điểm nêu trên, về các phương tiện khai thác thăm dò tài nguyên, cung ứng
nguyên liệu, mở rông thị trường, chuyển giao công nghệ, chính quyền Đài Loan đều căn cứ vào
nhu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế, trực tiếp tham gia dẫn dắt, nâng đỡ khu vực SME
ở các khu vực khác nhau.
Về ngoại thương, Đài Loan tổ chức đặt trụ sở và mạng lưới mậu dịch ở hơn 50 nước và
khu vực. Đồng thời còn tham gia triển lãm, hội trợ quốc tế, thường xuyên mời khách nước
ngoài và các nhà kinh doanh đến Đài Loan tham quan, cử người đi nước ngoài để chào hàng. Để
mở rộng mạng lưới mậu dịch quốc tế, Đài Loan đã xây dựng các trạm "phục vụ mậu dịch quốc
thực hiện chiến lược thúc đẩy xuất khẩu hơn là thay thế nhập khẩu. Chính phủ Hàn Quốc đã hỗ
trợ mạnh mẽ cho các nhà xuất khẩu, với nhiều biện pháp khác nhau, gồm đối sử ưu đãi trong
cấp vốn tín dụng và trong chế độ thuế khoá.
Hệ thống cấp vốn tín dụng xuất khẩu đã đóng vai trò rất quan trọng nhằm hỗ trợ xuất
khẩu cho đến giữa những năm 80 khi có được thặng dư về cán cân vãng lai. Bản chất của hệ
thống này là chính sách tái chiết khấu của hệ thống ngân hàng để cung cấp tín dụng với lãi suất
thấp thông qua các ngân hàng thương mại cho SME đã nhận được tín dụng thư. Các khoản cho
vay chiết khấu của ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cũng được mở rộng cho xuất khẩu trước
khi giao hàng nhằm hỗ trợ cho việc mua nguyên liệu và các sản phẩm trung gian để sản xuất
hàng xuất khẩu.
Trước những năm 1980 lãi suất cho vay đối với xuất khẩu từ 6-10%/ năm, trong khi mức
lãi suất chung là 17-23%/năm. Từ cuối những năm 1980, sự chênh lệch lãi suất mới được xoá
bỏ. Nếu xem xét mức lãi suất trên thị trường tài chính phi chính thức tại thời điểm đó vào
khoảng hơn 30%, thì sự ưu đãi đối với xuất khẩu qua tín dụng lãi suất thấp thật lớn. Hầu như
mọi khoản tín dụng xuất khẩu đều được hỗ trợ thông qua cơ chế tạo tiền của Ngân hàng Trung
ương dưới hình thức chiết khấu. Trong khoảng thời gian từ 1976-1986 tỷ lệ tín dụng của Ngân
hàng Hàn Quốc trong tổng số khoản vay của Ngân hàng nội địa là 79,4%, đặc biệt vào những
năm 1973-1981 tỷ lệ này lên tới 90,1%.
Ngoài ra còn có rất nhiều biện pháp hỗ trợ khác của Chính phủ đối với hoạt động xuất
khẩu của SME như chiết khấu thuế ra khỏi giá mua thiết bị và phương tiện đầu tư để sản xuất;
trợ cấp cho việc cải tiến đóng gói và mẫu mã sản phẩm, mở rộng các phương tiện cung cấp dịch
vụ kiểm tra hàng xuất khẩu, mở các trung tâm đào tạo tiếng nước ngoài, gửi các đoàn đến hội
trợ triển lãm ở nước ngoài, tổ chức các cuộc triển lãm ở nước ngoài, tổ chức các cuộc triển lãm
thương mại tại Hàn Quốc.
15
Chính phủ Hàn Quốc cũng theo dõi chặt chẽ kết quả hoạt động xuất khẩu và hàng tháng
hoặc hàng quý cung cấp các thông tin về các vấn đề kinh tế trong nước, về xu hướng của thị
trường nước ngoài. Thông qua các cuộc họp thường kỳ do Tổng thống làm chủ tọa với sự tham
dự của các quan chức cấp cao của Chính phủ để thực hiện xem xét kết quả hoạt động xuất khẩu.
Nếu kết quả hoạt động xuất khẩu là yếu kém, thì Tổng thống sẽ thúc giục các quan chức có liên
giám đốc doanh nghiệp: Doanh nghiệp cấp 1, Doanh nghiệp cấp 2, Doanh nghiệp cấp 3. Tiêu
thức phân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và theo phân cấp Trung ương - địa phương.
Hiện nay, khi chuyển sang cơ chế thị trường, mục đích, cách thức, tiêu thức phân loại và đối
tượng cũng khác trước. Phương pháp phân loại thường được sử dụng theo các tiêu chí: lao
động, vốn (pháp định, cố định và lưu động), doanh thu. Trong đó hai tiêu chí được thống nhất
chung là số lao động và vốn để xác định SME. Trước yêu cầu thực tiễn kinh doanh, vấn đề này
đã được giải quyết tạm thời bằng Công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/6/1998, theo đó
doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh
doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 387.000USD)
3
. Tiêu chí này được xác định nhằm xây dựng
một bức tranh chung về các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định
chính sách. Trên thực tế, tiêu chí này không cho phép phân biệt doanh nghiệp nhỏ hay doanh
nghiệp cực nhỏ, và nhất là đối với hộ kinh doanh cá thể hiện đang cần lưu tâm đặc biệt.
Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/11/2001, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ được xác định như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất,
kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký
không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Thông
qua Nghị định này, Nhà nước ta đã thể hiện sự nhìn nhận tích cực về vai trò của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Tuy vậy, cần có thời gian để đánh giá chính sách này và cần chuẩn bị các
biện pháp kế hoạch cụ thể cho việc thực hiện chính sách. Chính sách hỗ trợ này không đi theo
3
Theo tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Đôla Mỹ tại thời điểm ngày 20/06/1998.
17
phương thức can thiệp trực tiếp vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tránh tình trạng SME phụ
thuộc quá nhiều vào sự hỗ trợ của Nhà nước, mà phải khuyến khích tinh thần tự lực của SME.
2. Khái quát thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Như chúng ta đều biết, sự tồn tại và phát triển của khu vực tư nhân mới được chính thức
thừa nhận từ năm 1990, khi luật doanh nghiệp và luật công ty được thông qua. Các bộ luật này
đã được thay thế bởi Luật doanh nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/01/2000. Luật doanh nghiệp đưa
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Các ngành nghề nông thôn Việt Nam,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2002
Xét về ngành nghề kinh doanh, thì các đơn vị kinh doanh thuộc khu vực kinh tế tư nhân
chủ yếu hoạt động trong ba ngành: (I) dịch vụ thương nghiệp, sửa chữa xe động cơ, mô tô xe
máy 46%; (II) trong công nghiệp chế biến (22%); và (III) khách sạn nhà hàng (13%). Điều đáng
lưu ý là có 21% doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản và 26% công ty cổ
phần hoạt động trong lĩnh vực tài chính tín dụng, riêng trong lĩnh vực công nghiệp chế biến có
tới 37,3% số SME hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, 11% trong ngành
dệt, may, da và 18,6% trong ngành sản xuất các sản phẩm kim loại. Biểu đồ 2.1sẽ chứng minh
về cơ cấu ngành nghề kinh doanh của SME.
18
BIỂU ĐỒ 2.1 CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CỦA SME:
Chú thích:
1: Khách sạn, nhà hàng
2: Các ngành khác
3: Công nghiệp chế biến
4: Dịch vụ thương nghiệp
Nguồn: Chương trình phát triển dự án Mêkông (MPDF): Chuyên đề nghiên cứu kinh tế tư nhân
số 10: Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trên đường tiến tới phồn vinh, Leila Webster, Hà
Nội, 2002.
Xét về doanh thu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực kinh tế tư nhân, thì cá
nhân và nhóm kinh doanh chỉ chiếm 40% tổng doanh thu của khu vực kinh tế tư nhân. Như vậy,
về khía cạnh này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đăng ký chính thức, gồm doanh nghiệp tư nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, chiếm phần quan trọng hơn (khoảng 57%). Điều
này có thể có khần do cá nhân và nhóm kinh doanh không khai báo đúng mức doanh thu của họ,
mà khai báo thấp hơn thực tế là điều có thể xảy ra. Tuy vậy, nó phản ánh một thực tế là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ có đăng ký chính thức có quy mô kinh doanh lớn hơn. Và nếu muốn
kinh doanh quy mô lớn thì chắc chắn phải chuyển sang hình thức doanh nghiệp đăng ký chính
thức, hoạt động theo nguyên tắc luật lệ của cơ chế thị truờng.
Doanh thu của khu vực SME được thể hiện chi tiết dưới bảng sau:
trung ở miền Nam Việt Nam.
Vốn đầu tư thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam được thực hiện dưới hình thức
doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng đáng kể. Tổng số vốn
đang ký của hai loại hình doanh nghiệp này chiếm khoảng 60% tổng số vốn đăng ký của kinh tế
tư nhân. cá nhân và nhóm kinh doanh chiếm khoảng 30%. Điều đáng chú ý là gần 50% vốn
đăng ký của khu vực kinh tế tư nhân ở đồng bằng sông Hồng được thưc hiện dưới hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn, trong khi đó khoảng 60% vốn đăng ký ở Đồng bằng sông Cửu
Long được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân.
Nhìn vào bảng 2.4 dưới đây ta có thể thấy rằng vốn đầu tư phân bổ chủ yếu vào các
ngành kinh tế như thương nghiệp, sửa chữa xe động cơ, mô tô chiếm 38,38% trong tổng số vốn
đầu tư vào các ngành kinh tế của khu vực SME. Tiếp đến là ngành công nghiệp chế biến chiếm
26,98%, vận tải kho bãi và thông tin liên lạc chiếm 9,41%, ngành thuỷ sản chiếm 6,79%, xây
dựng chiếm 6,17%. Như vậy, tổng số vốn đầu tư vào ngành thuỷ sản còn rất thấp trong khi kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản của khu vực này chiếm tỷ lệ rất lớn cụ thể trong giai đoạn 1998-2002
chiếm tỷ trọng 25,1% trong kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của cả nước. Để tăng kim ngạch xuất
khẩu hải sản trong thời gian tới cần phải chú ý đến việc đầu tư vốn cho khu vực này nhiều hơn.
Sự phân bố vốn của khu vực kinh tế nhìn chung được thể hiện dưới bảng sau:
20
Bảng 2.4: Vốn các loại hình kinh doanh phân theo ngành kinh tế
(đến ngày 31/12/2002)
Đơn vị: %
Phân theo
ngành kinh tế
Loại hình doanh nghiệp
DNT Công ty
TNHH
Công ty
cổ phần
Hợp
tác xã
5,48
0,53
0,02
0,00
2,05
0,19
0,27
0,47
0,31
26,51
0,06
15,57
43,51
2,89
3,83
0,03
0,08
0,42
6,04
0,09
0,61
0,00
23,03
0,00
7,94
7,33
1,49
0,69
55,89
0,00
0,26
26,98
0,04
6,17
38,38
4,33
9,14
3,02
0,02
1,2
2,44
21
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM), 2002.
Khu vực SME là nơi tạo ra nhiều việc làm trong nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, sự
phân bố lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phụ thuộc vào phân bố địa lý của
nước ta. Cụ thể xin xem thêm dưới bảng sau:
BẢNG 2.5: LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ PHÂN
THEO VÙNG LÃNH THỔ ( CÓ ĐẾN 31/12/2002).
Đơn vị: %
Phân theo vùng lãnh thổ
Loại hình doanh nghiệp
DNTN Công ty
TNHH
Công ty
cổ phần
Hợp
tác xã
Kinh tế
cá thể
34,99
9,49
14,81
3,17
26,35
5,84
7,40
19,06
11,86
10,95
2,93
22,57
25,24
6,98
19,38
10,52
11,01
2,77
26,40
22,94
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế TW (CIEM ),2002
Như vậy theo bảng 2.4 thì khoảng gần một nửa (49,34%) số lao động của khu vực SME
làm việc ở vùng miền Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tiếp đó là vùng đồng
bằng sông Hồng (19,38%), Duyên hải miền Trung (11%), và vùng Khu Bốn cũ(10,52%). Trong
đó, số lao động làm việc trong loại hình kinh tế cá thể chiếm 81,21%, tiếp đến là các công ty
TNHH chiếm 7,98%, DNTN chiếm 5,54%.
Từ quá trình xem xét thực trạng khu vực SME ở Việt Nam, như trình bày ở trên đây, có
thể rút ra một số nhận xét tổng quát như sau:
Một là, xét trên tất cả các tiêu chí, phần lớn hoạt động của khu vực SME ở Việt Nam
3.1- Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế:
Ở nước ta SME có diện rộng, phổ cập chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp và
có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội.
Cùng với kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn, SME được xem như là những nhân tố đảm
bảo cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động,
khai thác tận dụng hiệu quả tiềm năng về vốn, tay nghề và những nguồn lực tiềm ẩn trong dân
cư. Nó còn góp phần phân bố công nghiệp trên các địa bàn khác nhau; giữ vai trò bổ sung cho
công nghiệp lớn; bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống, thể hiện bản sắc văn hoá dân
tộc.
23
Bảng 2.6 cho thấy phần đóng góp vào GDP của doanh nghiệp tư nhân chính thức thường
xuyên giữ ở mức 7,5%. Phần đóng góp của hộ kinh doanh cá thể và trang trại vào GDP giảm
một ít từ 36% năm 1997 xuống còn 33,18% năm 2001. Phần đóng góp của khu vực kinh tế nhà
nước tăng lên 41,4% năm 1999 và giảm xuống 41% năm 2001. Đóng góp của khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 7% lên hơn 10% GDP trong 5 năm cuối. Thực tế phần đóng
góp 40,5% vào GDP của hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân chính thức (năm 2001)
bao gồm phần đóng góp của các trang trại nông nghiệp và hộ kinh doanh nông nghiệp. Ước tính
phần đóng góp của hộ kinh doanh phi nông nghiệp là 19% GDP
4
. Do vậy, toàn bộ khu kinh tế tư
nhân đóng góp 26,31% GDP.
Bảng 2.6: Đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế trong giai đoạn 1997-
2001 (so sánh 1996)
Đơn vi: %
Các thành phần Kinh tế 1997 1998 1999 2000 2001
Khu vực quốc doanh 40,1 40,8 41,4 41,3 41,1
Khu vực ngoài quốc doanh 59,9 59,2 58,6 58,7 58,9
-Trong nuớc 53,2 51,9 50,4 49,5 48,9
-Hộ KD cá thể và trang trại 35,9 35,0 34,2 33,4 33,1
-Tư nhân chính thức 7,75 7,7 7,5 7,5 7,2
17.3
7.1
0.24
74.61
0.8
22.5
0.19
17.5
47.3
12.5
0
10
20
30
40
50
60
70
80
SOE Hợp tác xã Doanh nghiệp tư
nhân
Hộ kinh doanh Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước
ngoài
1993
1998
Ngun: Tng cc thng kờ: iu tra mc sng dõn c Vit Nam 1997-1998, Nxb Thng kờ, H
Ni, 2001.
Nu xột t gúc to vic lm trờn tng s lao ng thỡ h kinh doanh cỏ th chim u
th trong khu vc kinh t t nhõn (30,4%), nhng úng gúp ca chỳng cú xu hng gim vỡ s
1. N.nghip, lõm
nghip v thu sn
Ngi
%
23.654.058
62,78
279.478
0,74
5.916.336
15,70
165.396
0,44
17.279.805
45,86
13.026
0,03
25