Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những tiến bộ to lớn về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin trong
những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển
kinh tế xã hội toàn cầu. Chính trên nền tảng đó, một phương thức thương mại
mới đã xuất hiện và phát triển nhanh chóng, đó là thương mại điện tử.
Thương mại điện tử chính là một công cụ hiện đại sử dụng mạng Internet giúp
cho các doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường thế giới, thu thập thông
tin nhanh hơn, nhiều hơn và chính xác hơn. Với thương mại điện tử, các
doanh nghiệp cũng có thể đưa các thông tin về sản phẩm của mình đến các
đối tượng khách hàng tiềm năng khác nhau ở mọi nơi trên thế giới với chi phí
thấp hơn nhiều so với các phương pháp truyền thống.
Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trên thế giới,
các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bộ phận
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các doanh nghiệp Việt Nam, cũng đã bước đầu
nhận thức được ích lợi và tầm quan trọng của việc ứng dụng thương mại điện
tử. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế trong nhận thức của bản thân các doanh
nghiệp cũng như các điều kiện cơ sở hạ tầng, việc ứng dụng thương mại điện
tử trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam có thể nói mới ở mức độ sơ
khởi. Vì thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần xây dựng cho mình một chiến
lược kinh doanh phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay nhằm tiếp cận nhiều
hơn nữa với thương mại điện tử để có thể khai thác tối đa lợi ích mà phương
thức kinh doanh này đem lại. Đây cũng là lý do để tác giả lựa chọn đề tài
“Thương mại điện tử và thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Lª Thu Ph¬ng
1
Lª Thu Ph¬ng
2
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về thương mại điện tử.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển ứng dụng thương mại
điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới
thầy giáo, ThS. Nguyễn Quang Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong
quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài khoá luận tốt nghiệp này. Đồng thời,
em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Trường Đại học Ngoại
thương cùng các bạn đã giúp đỡ em thực hiện đề tài.
Lª Thu Ph¬ng
3
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Chương I:
Tổng quan về thương mại điện tử
I. Khái niệm và sự ra đời của thương mại điện tử
1. Khái niệm thương mại điện tử
qua thì “Thương mại” (Commerce) trong “thương mại điện tử” (Electronic
Commerce) bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính
chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính
thương mại (commercial) bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch
sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá,
dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa
hồng (factoring); cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn;
kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả
thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác
công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá, hành khách bằng đường
biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.
Uỷ ban châu Âu cũng đưa ra định nghĩa thương mại điện tử như sau:
Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện kinh doanh qua các phương
tịên điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng văn
bản, âm thanh và hình ảnh. Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm
nhiều hành vi, trong đó có hoạt động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận
các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu
điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên mạng; mua sắm công
cộng; tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối
với thương mại hàng hoá (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên
dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ
pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo
dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo).
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Thương mại điện tử bao gồm
việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và
Lª Thu Ph¬ng
5
A5 -
K38B
6
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
khoa học quốc gia Hoa Kỳ (NSF) thiết lập ra một số trung tâm siêu máy tính
quốc gia vào năm 1986. NSF đã liên kết các siêu máy tính và cho phép các
mạng máy tính của khu vực và các trường đại học được kết nối vào. Hơn thế
nữa, để sử dụng mạng truy cập từ xa các siêu máy tính của NSF, người ta đã
phát triển các chương trình ứng dụng như là thư điện tử, giao thức truyền tệp
và các nhóm tin để việc chia sẻ thông tin được thuận tiện hơn. Liên kết của
các trường đại học với mạng của NSF để kết nối được với các siêu máy tính
chính là nguồn gốc của Internet ngày nay.
Internet tiếp tục phát triển rộng thành mạng toàn cầu khi các nước khác
cũng xin gia nhập mạng. Đặc biệt, khi có sự phát triển của World Wide Web
(www) và sự ra đời của các trình duyệt web đồ hoạ, Internet đã nhanh chóng
thu hút được sự quan tâm chú ý của những người ở ngoài cộng đồng giáo dục
và chính phủ. Với tính chất quốc tế và những tiện ích của các dịch vụ Internet,
các nhà quảng cáo và sau đó là các doanh nghiệp đã không bỏ lỡ cơ hội làm
ăn trên mạng. Từ đó, một phương thức kinh doanh mới của thương mại toàn
cầu xuất hiện và khái niệm thương mại điện tử ra đời. Sau đó, Đạo luật mẫu
về thương mại điện tử do Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về thương mại quốc tế
(UNCITRAL: United Nations Comission on International Trade Law) soạn
thảo đã được Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua, trở thành một cơ sở pháp
lý chính thức cho thương mại điện tử trên thế giới.
II. Các phương thức hoạt động của thương mại điện tử
1. Các phương tiện kỹ thuật sử dụng trong thương mại điện tử
1.1 Điện thoại
Điện thoại là một phương tiện được sử dụng nhiều trong giao dịch
thương mại bởi tính dễ sử dụng và sự phát triển rộng rãi của mạng điện thoại
những khách hàng quan tâm đến sản phẩm được quảng cáo không thể tìm
kiếm các dịch vụ chào hàng cũng như đàm phán với người bán về các điều
khoản cụ thể. Hiện nay, nhờ được kết nối với máy tính điện tử, công dụng của
máy thu hình đã được mở rộng hơn và nhược điểm này có thể được khắc
Lª Thu Ph¬ng
8
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
phục.
1.4 Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử
Trong thương mại điện tử việc thanh toán có thể được thực hiện thông
qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử. Đây thực chất là
các phương tiện cho phép tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản
khác. Những phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thanh toán điện tử là
máy rút tiền tự động (ATM: Automatic Teller Machine), các loại thẻ tín dụng
(credit card), thẻ mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smart card - là
một loại thẻ từ có gắn vi chíp điện tử mà thực chất là một máy tính điện tử rất
nhỏ)...
1.5 Intranet và Extranet
Mạng nội bộ (Intranet) theo nghĩa rộng là mạng thông tin trong nội bộ
một cơ quan, một doanh nghiệp. Bằng sự nối kết giữa các máy tính điện tử
trong cơ quan, doanh nghiệp cùng với các liên lạc di động , các thành viên
trong cơ quan, doanh nghiệp đó có thể liên lạc, trao đổi thông tin và phối hợp
hoạt động với nhau thông qua mạng này. Theo nghĩa hẹp, mạng nội bộ có thể
là mạng kết nối các máy tính ở gần nhau, gọi là mạng cục bộ (LAN: Local
Area Network), hoặc mạng kết nối các máy tính trong một khu vực rộng lớn
hơn, gọi là mạng miền rộng (WAN: Wide Area Network). Hai hay nhiều
triển của Internet đã tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá, tạo ra
bước phát triển mới của ngành truyền thông và đã trở thành công cụ quan
trọng nhất của thương mại điện tử. Dù có hay không có Internet/Web, ta vẫn
có thể làm thương mại điện tử (qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ cùng
với các phương tiện điện tử khác), song ngày nay, nói tới thương mại điện tử
thường có nghĩa là nói tới Internet/Web, vì thương mại đã và đang trong tiến
trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá, nên cả hai xu hướng ấy đều đòi hỏi phải
sử dụng triệt để Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao
độ và có hiệu quả sử dụng cao.
2. Các hình thức hoạt động chủ yếu của thương mại điện tử
2.1 Thư điện tử (e-mail)
Các đối tác (người tiêu dùng, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử
Lª Thu Ph¬ng
10
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua
mạng, gọi là thư điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail). Đây là một thứ
thông tin ở dạng “phi cấu trúc” (unstructured form), nghĩa là thông tin không
phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận trước.
2.2 Thanh toán điện tử (electronic payment)
Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử
(electronic message). Sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử đã
hướng thanh toán điện tử mở rộng sang các lĩnh vực mới , đó là:
♣ Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính ( FEDI - Financial Electronic Data
Interchange) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty
giao dịch với nhau bằng điện tử.
khoán số hoá (digital securities trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân
hàng là một đại hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống:
- Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoại, tại các
điểm bán lẻ, các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch tại trụ sở khách
hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng...);
- Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu
thị...);
- Thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng;
- Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.
2.3 Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI - Electronic Data Interchange)
Trao đổi dữ liệu điện tử là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu
trúc” (structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác
trong nội bộ công ty, hay giữa các công ty hoặc tổ chức đã thoả thuận buôn
bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp
của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc vì các bên đối tác phải thoả thuận từ
trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin). Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật
thương mại quốc tế đã đưa ra định nghĩa pháp lý sau: “Trao đổi dữ liệu điện
tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính
điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được
thoả thuận về cấu trúc thông tin”.
Lª Thu Ph¬ng
12
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu và chủ yếu
được thực hiện thông qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ.
Thương mại điện tử qua biên giới (Cross-border electronic commerce) về
hàng, xem hàng háo hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền bằng
thanh toán điện tử. Vì là hàng hoá hữu hình nên tất yếu sau đó cửa hàng phải
dùng các phương tiện gửi hàng truyền thống để đưa hàng tới tay khách. Điều
quan trọng nhất là khách hàng có thể mua hàng tại nhà (home shopping) mà
không cần phải đích thân đi tới cửa hàng.
3. Các loại giao tiếp trong thương mại điện tử
- Giao tiếp giữa người với người: qua điện thoại, thư điện tử, máy fax;
- Giao tiếp giữa người với máy tính điện tử: trực tiếp hoặc qua các mẫu
biểu điện tử (Electronic form) và qua mạng Internet;
- Giao tiếp giữa máy tính điện tử với người: qua thư tín do máy tính tự
động sinh ra, qua máy fax và thư điện tử;
- Giao tiếp giữa máy tính điện tử với máy tính điện tử: qua việc trao đổi
dữ liệu có cấu trúc, thẻ thông minh, các dữ liệu mã hoá bằng vạch (barcoded
data, cũng gọi là dữ liệu mã vạch).
4. Các giao dịch thương mại điện tử
4.1 Căn cứ theo đối tượng giao dịch
Các giao dịch thương mại điện tử hiện nay được xây dựng dựa trên các
mối quan hệ giữa các chủ thể bao gồm chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu
dùng. Do vậy, căn cứ theo đối tượng giao dịch, trong thương mại điện tử có
thể có các giao dịch sau:
- B to B (Business to Business): là giao dịch giữa các doanh nghiệp với
nhau và giao dịch bên trong doanh nghiệp (Business to Employee). Các doanh
nghiệp thường sử dụng hình thức giao dịch này để trao đổi chứng từ, thanh
toán tiền hàng và trao đổi thông tin. Hình thức trao đổi này thường được các
doanh nghiệp sử dụng mạng Intranet và Extranet để giao dịch.
- B to C (Business to Consumer): là giao dịch giữa doanh nghiệp và
người tiêu dùng, minh hoạ cụ thể là việc bán hàng qua mạng, làm cho việc
Lª Thu Ph¬ng
• Gửi các thông tin hoặc báo cáo về xử lý đơn hàng cho người cung
cấp hàng.
Lª Thu Ph¬ng
15
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
<2> Giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng
• Tra cứu thông tin về sản phẩm và hàng hoá (trên Web)
• Đặt hàng
• Thanh toán các hàng hoá và dịch vụ
• Cung cấp các lao vụ trực tuyến cho khách hàng
Trước hết, về giao dịch B2B, đây là quan hệ giao dịch chiếm tỷ lệ chủ
yếu trong tổng số các giao dịch thương mại điện tử hiện nay. Khi áp dụng
B2B, các doanh nghiệp xây dựng cho mình các Website trên mạng Internet
nhằm giới thiệu về doanh nghiệp cũng như các sản phẩm của doanh nghiệp
cho các đối tác, đồng thời những đối tác quan tâm có thể giao dịch trực tiếp
với doanh nghiệp ngay trên Website này. Bên cạnh đó, Website cũng là mạng
nội bộ giữa doanh nghiệp với một số khách hàng đã và đang làm việc với
doanh nghiệp. Ngoài ra, đối với đa số các công ty, các Website này cũng kiêm
luôn chức năng bán lẻ hàng hoá cho người tiêu dùng khi họ truy cập tìm hiểu
sản phẩm và đặt hàng như các khách hàng là doanh nghiệp khác.
Trong phương thức B2B, thông qua mạng Internet, các doanh nghiệp có
thể theo dõi, quản lý được quá trình cung cấp nguyên liệu, dịch vụ từ phía nhà
cung cấp cũng như việc giao hàng hoá cho các đại lý tiêu thụ của mình và các
nhà phân phối độc lập khác. Đồng thời, trong quá trình này, doanh nghiệp
cũng liên tục được cập nhật thông tin từ phía các đối tác do đó có thể nhanh
chóng nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh. Về phía nội bộ doanh nghiệp,
tin phản hồi trực tiếp từ phía khách hàng cũng giúp doanh nghiệp khảo sát
được thị trường một cách chính xác, hiệu quả và kinh tế.
4.2 Căn cứ theo nội dung giao dịch
Hiện nay, nếu căn cứ theo nội dung giao dịch, thương mại điện tử có thể
có các loại giao dịch sau:
- Mua hàng điện tử: là hoạt động thương mại với chức năng bán sản
phẩm. Đối với hoạt động thương mại này, những thông tin như tìm hiểu về
sản phẩm, đặt hàng, thanh toán tiền đều có thể thực hiện qua mạng. Nhưng
hàng hoá đưa đến tay người dùng sẽ được thực hiện thông qua các dịch vụ
Lª Thu Ph¬ng
17
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
bưu điện đã có hoặc các cơ sở, công ty vận tải. Lợi điểm của loại hình này là
giảm thiểu đến mức tối đa các khâu trung gian trong quá trình lưu thông hàng
hoá.
- Cung cấp thông tin: là giao dịch thương mại điện tử mà đối tượng mua
bán là sản phẩm hoặc dịch vụ thông tin. Toàn bộ quá trình thương mại này
hoàn toàn có thể thực hiện qua mạng.
- Thanh toán điện tử (e-Cash và e-Cheque): là hoạt động cung cấp việc
thanh toán điện tử nhanh chóng nhất thông qua hệ thống thanh toán điện tử
(Electronic Payment System - EPS). Hoạt động này nhằm bổ sung cho hai
hoạt động thương mại kể trên để được một hệ thống hoàn chỉnh trong kinh
doanh. Đây là yếu tố quan trọng và cần có để hoạt động thương mại điện tử
mang đúng bản chất của thương mại. Đồng thời đây cũng là nguyên nhân cơ
bản thúc đẩy việc điện tử hoá tiền tệ.
III. Lợi ích của thương mại điện tử
điều kiện thăm quan cùng lúc nhiều trang web của nhiều doanh nghiệp khác
nhau và do đó có thể dễ dàng so sánh để chọn lựa sản phẩm và nhà sản xuất
mà mình ưng ý nhất.
3. Giảm chi phí sản xuất
Nhờ thương mại điện tử, chi phí sản xuất có thể được giảm bớt mà trước
hết là chi phí văn phòng, một nhân tố cấu thành trong chi phí sản phẩm. Cụ
thể là chi phí in ấn hầu như được loại bỏ, chi phí cho việc tìm kiếm và chuyển
giao tài liệu được giảm bớt bởi việc tài liệu được lưu trữ và chuyển giao trên
máy tính cho phép tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức. Cũng vì thế mà
số nhân viên văn phòng được giảm thiểu giúp doanh nghiệp tiết kiệm được
chi phí tiền lương mà lẽ ra phải trả cho số lượng nhân viên lớn hơn nhiều.
Ngoài ra, các văn phòng không giấy tờ (paperless office) cũng chiếm diện tích
nhỏ hơn rất nhiều so với các văn phòng truyền thống. Quan trọng hơn, các
nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ nên có thể
Lª Thu Ph¬ng
19
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
tập trung thời gian và năng lực vào nghiên cứu phát triển và do đó đem lại
nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp xét về mặt lâu dài, chiến lược.
4. Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị
Thương mại điện tử cũng giúp giảm bớt chi phí bán hàng và chi phí tiếp
thị. Nhờ có Internet, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất
nhiều khách hàng - những người thăm quan và đặt hàng trên trang web của
doanh nghiệp, chưa kể việc nhận các đơn đặt hàng có thể được máy tính tự
động xử lý và vì thế chi phí nhân viên bán hàng được giảm đi đáng kể . Với
số lượng người truy cập Internet ngày một nhiều như hiện nay, việc quảng cáo
mạng, từ các mạng nội bộ cho đến Internet, người tiêu dùng, các doanh
nghiệp và cả các cơ quan chính phủ có thể trực tiếp liên lạc với nhau mà
không có bất cứ hạn chế nào về thời gian cũng như khoảng cách địa lý bởi
việc liên lạc trên mạng Internet mang tính toàn cầu. Hầu như mọi giao dịch
đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục. Do vậy, các chủ thể của hoạt
động thương mại điện tử đặc biệt là các doanh nghiệp có cơ hội tìm kiếm
nhiều bạn hàng mới, nhiều cơ hội kinh doanh mới trên phạm vi toàn quốc,
toàn khu vực và toàn thế giới.
7. Tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hoá
Nền kinh tế số hoá (digital economy) hay còn gọi là nền kinh tế ảo
(virtual economy) là xu thế phát triển trong tương lai gần của nền kinh tế thế
giới. Việc nhanh chóng tiếp cận nền kinh tế số hoá có ý nghĩa rất quan trọng
đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, để tránh nguy cơ
tụt hậu. Trước mắt, thương mại điện tử kích thích sự phát triển của ngành
công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng
lớn trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, từ đó, thương mại điện tử tạo điều
kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá. Đây là một lợi ích mang
tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và liên quan đến chính sách phát
triển của các quốc gia, bởi một quốc gia, đặc biệt là nước đang phát triển, sớm
tiếp cận được với nền kinh tế số hoá có thể tạo ra cho mình một bước phát
Lª Thu Ph¬ng
21
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
triển nhảy vọt, tiến kịp các nước đi trước trong thời gian ngắn.
IV. Tình hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới
Thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu. Tuy
gồm vệ tinh viễn thông, cáp, vô tuyến và các khí cụ điện tử.
Internet đang phát triển rất nhanh cả về phạm vi bao phủ, phạm vi ứng
dụng và chất lượng vận hành. Nếu như năm 1991 mới có 31 nước nối mạng
vào Internet thì tới giữa năm 1997 đã có 171 nước. Số trang web vào giữa
năm 1993 là 130, tới cuối năm 1998 đã lên tới 3,69 triệu. Số lĩnh vực sử dụng
Internet/Web vào giữa năm 1991 là 1600, tới giữa năm 1997 đã lên 1,3 triệu.
Giữa năm 1994, toàn thế giới có 3,2 triệu địa chỉ Internet (chủ yếu là ở
Mỹ và mỗi địa chỉ có thể có nhiều trang web do sử dụng các lĩnh vực khác
nhau, dùng nhiều cổng khác nhau), tới giữa năm 1996 đã lên 12,9 triệu địa chỉ
với khoảng 67,5 triệu người sử dụng ở khắp các châu lục và tới giữa năm
1998 đã có 36,7 triệu địa chỉ Internet với khoảng 100 triệu người sử dụng. Số
người sử dụng Internet toàn thế giới đã tăng lên trên 350 triệu vào năm 2000
và theo các nhà dự báo, vào năm 2005 sẽ có khoảng 1 tỷ người trên thế giới
sử dụng Internet.
Trước đây, kiểu tiêu biểu mà một cá nhân ở gia đình truy cập vào
Internet là thông qua một máy tính cá nhân (PC: Personal Computer) và một
đường dây điện thoại. Cách truy cập này có tốc độ rất chậm, ví dụ, nếu dùng
một modem 28,8 kbps (nghìn bit/sec) thì phải mất 46 phút mới tải xuống
được một chương trình video dài 3,5 phút. Hiện nay, các công ty điên thoại,
vệ tinh và cáp đã tạo ra các phương tiện truy cập Internet với tốc độ cao hơn
rất nhiều. Công nghệ “đường thuê bao số hoá không đồng bộ” (ADSL:
Asynchronous Digital Subscriber Line), với modem 8 Mbps (triệu bit/sec),
cho phép chương trình video nói trên được tải xuống chỉ trong 10 giây. Khi
các công ty Mỹ phát triển công nghệ dùng ti vi để truy nhập vào Internet (gọi
là HDTV: high-definition television) dùng cáp, với modem 10 Mbps sẽ chỉ
mất 8 giây cho việc tải chương trình đó. Các công ty mà chủ yếu là các công
Lª Thu Ph¬ng
23
A5 -
Lª Thu Ph¬ng
24
A5 -
K38B
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
hàng năm trên 60% từ năm 1999 đến năm 2004. IDC dự báo doanh số của
thương mại điện tử và doanh thu từ việc ứng dụng các chiến lược Marketing
sẽ tăng từ 709 triệu USD trong năm 1999 lên tới 4,5 tỷ USD trong năm 2004.
Cũng trong giai đoạn này, doanh thu từ bán hàng qua thương mại điện tử dự
kiến sẽ tăng từ 222 triệu USD lên tới 5 tỷ USD.
Như vậy, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin,
thương mại điện tử trên thế giới đang phát triển vô cùng mạnh mẽ và tạo ra
một xu thế phát triển chung mà các nước đang hướng tới. Trong đó, không chỉ
các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc Liên
minh châu âu mà cả các nước đang phát triển cũng đang nhanh chóng tham
gia vào thương mại điện tử. Sự phát triển của thương mại điện tử một mặt là
kết quả của xu hướng tất yếu, khách quan của quá trình “số hoá” toàn bộ hoạt
động của con người, mặt khác là kết quả của các nỗ lực chủ quan của từng
nước, từng nhóm nước và toàn thế giới nói chung, đặc biệt là trên bình diện
tạo môi trường pháp lý và đường lối chính sách cho kinh tế số hoá nói chung
và thương mại điện tử nói riêng.
Lª Thu Ph¬ng
25
A5 -
K38B