Ảnh hưởng truyền dẫn tỉ giá hối đoái ở các thị trường mới nổi - Pdf 13

(by Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn
and Marcelo Sánchez)
ẢNH HƯỞNG TRUYỀN DẪN
TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở CÁC
THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI
class="bi x0 y0 w1 h1"
class="bi x0 y0 w1 h1"
NỘI DUNG
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
LIÊN HỆ THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM
I. MỤC TIÊU
NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mức độ truyền động hay ảnh hưởng
truyền dẫn tỉ giá hối đoái (ERPT) đến giá cả ở
12 thị trường mới nổi ở Châu Á, Châu Mỹ La
Tinh, Trung và Đông Âu nhằm mục đích:
• Kiểm định quan điểm truyền thống về mức độ ảnh
hưởng truyền dẫn tỉ giá vào giá cả nhập khẩu và
giá tiêu dùng ở các quốc gia thị trường mới nổi so
với các thông số này ở các quốc gia phát triển.
• Đánh giá mối quan hệ tương quan giữa ERPT, chỉ
số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
II. CÁC NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
II. CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
1. Các nghiên cứu về ERPT cho các nước phát triển
2. Các nghiên cứu về ERPT cho các nước TT mới nổi

Các quốc gia thành viên EU nhưng
không sử dụng đồng euro dựa theo
giá thị trường tương đối nhiều hơn
trong khi khu vực đồng euro nhập
khẩu từ Mỹ chịu mức độ ảnh hưởng
lớn hơn của ERPT
1. Các nghiên cứu về ERPT cho các nước phát triển
Campa và
Goldberg
(2004):
“Exchange Rate
Pass-Through
into Import
Prices”
Nghiên cứu này đánh giá mức độ
ERPT vào giá nhập khẩu của 23 nước
OECD, tìm được bằng chứng thuyết
phục về ERPT một phần trong ngắn
hạn, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất.
Trong dài hạn, việc định giá theo
đồng tiền của nước sản xuất phổ biến
hơn đối với rất nhiều mặt hàng nhập
khẩu.
Các nước có
TGHĐ
và lạm phát biến
động ít hơn có thể sẽ có mức độ
ERPT vào giá nhập khẩu thấp hơn
1. Các nghiên cứu về ERPT cho các nước phát triển
Campa,

Chỉ số giá nhập khẩu phi dầu mỏ chịu
ảnh hưởng truyền dẫn tỉ giá lớn nhất và
nhanh nhất, sau đó tới ảnh hưởng của
các cú sốc tỉ giá và các cú sốc giá dầu.
Các cú sốc bên ngoài đóng góp phần
lớn tới lạm phát trong khu vực euro
1. Các nghiên cứu về ERPT cho các nước phát triển
Ihrig và cộng
sự (2006):
“Exchange
Rate Pass-
Through in
the G-7
countries”
Có sự sụt giảm trong phản ứng của
giá nhập khẩu và giá tiêu dùng tới
biến động TGHĐ gần như ở tất cả
các nước G7. Theo ước tính, khi phá
giá đồng nội tệ 10%, chỉ số giá nhập
khẩu tính trung bình ở các nước này
tăng gần 7% trong những năm cuối
của thập niên 70 và 80, trong khi chỉ
số giá nhập khẩu chỉ tăng tới mức
4% trong thập niên 90 & đầu TK 21
1. Các nghiên cứu về ERPT cho các nước phát triển
Gagnon, J.
and Ihrig, J.
(2004):
“Monetary
Policy and

nhập khẩu có tác động mạnh hơn.
ERPT có mức độ lớn hơn ở những
nước có giá trị nhập khẩu lớn và phụ
thuộc nhiều vào tỷ giá và giá nhập
khẩu.
2. Các nghiên cứu về ERPT cho các nước mới nổi
Choudri và Hakura (2006)
Frankel và cộng sự (2005)
Mihaljek và cộng sự (2000)
2. Các nghiên cứu về ERPT cho các nước mới nổi
Choudri và
Hakura (2006):
“Exchange Rate
Pass-Through to
Domestic Prices:
Does the
Inflationary
Environment
Matter?”
Nghiên cứu này kiểm định giả thuyết
được đề xuất bởi Taylor (2000) rằng môi
trường lạm phát thấp dẫn đến ERPT tới
giá nội địa thấp. Sử dụng số liệu của 71
quốc gia trong giai đoạn 1979 – 2000 để
kiểm chứng mức độ của sự phá giá lên
lạm phát. Mức độ truyền dẫn tỉ giá
mạnh hay yếu phụ thuộc vào mức độ
lạm phát ban đầu của nước phá giá.
ERPT yếu đối với nước có mức lạm
phát ban đầu thấp và cao đối với nước

Kết quả cho thấy:
(a) Thay đổi TGHĐ tương quan với lạm phát
mạnh hơn và đồng thời hơn hơn là thay
đổi của giá nhập khẩu;
(b) Độ co giãn của giá nhập khẩu và TGHĐ
tới lạm phát gần như là như nhau ở 4
quốc gia trong mẫu.
(c) Sự khác biệt về hệ số ERPT giữa các quốc
gia là lớn và có vẻ liên quan đến biến
động của lạm phát nhưng không liên tục;
(d) Ảnh hưởng truyền dẫn từ thay đổi TGHĐ
vào lạm phát nói chung mạnh hơn ảnh
hưởng truyền dẫn từ giá nhập khẩu,
nhưng giảm kể từ giữa những năm 1990.
3. Các nghiên cứu giải thích tại sao ERPT chưa đầy đủ
Dornbusch (1987)
Taylor (2000)
Burstein và đồng sự (2003)
Burstein và đồng sự (2005)
3. Các nghiên cứu giải thích tại sao ERPT chưa đầy đủ
Dornbusch
(1987)
Chứng minh tính chưa đầy đủ
là do các công ty hoạt động
trong một thị trường được đặc
trưng bởi sự cạnh tranh không
hoàn hảo và các công ty điều
chỉnh số tiền cộng thêm vào giá
vốn của họ để phản ứng lại với
một cú sốc tỉ giá.

lượng hàng hóa ngoại thương, sự
điều chỉnh tỉ giá có quy mô lớn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status