sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái trong các thị trường mới nổi - Pdf 13

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Bài nghiên cứu

Sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái trong các thị
trường mới nổi
GVHD

Năm 2013
MỤC LỤC Tóm lược
Bài nghiên cứu về sự truyền dẫn của tỷ giá đến giá cả trên 12
thị trường mới nổi tại Châu Á, Mỹ Latinh và các nước Trung và
Đông Âu. Kết quả nghiên cứu dựa trên việc sử dụng ba mô hình hồi
quy tiêu chuẩn (mô hình vecto tự hồi quy), một phần dựa trên sự
hiểu biết về ERPT trong giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở các thị

hạn và giá dầu. Cách tiếp cận véc tơ hồi quy này cho phép khả năng
phát sinh biến nội sinh giữa các biến nghiên cứu.Những cú sốc tỷ giá
hối đoái được xác định bằng cách đưa biến lãi suất vào một cách phù
hợp và áp dụng một chương trình xác định đệ quy.Việc đưa các biến
vào có thể phát sinh vấn đề, chúng tôi tiến hành phân tích độ nhạy
bằng sự thay thế cách sắp xếp khác nhau của các biến. Để so sánh,
chúng tôi cũng ước tính mô hình theo một chuẩn mực riêng cho các
nền kinh tế phát triển, cụ thể là khu vực đồng Euro, Mỹ và Nhật
Bản.
Kết quả của chúng tôi khẳng định rằng tác động của sự truyền
dẫn tỷ giá hối đoái giảm dọc theo chuỗi giá, cụ thể là giá tiêu dùng
thấp hơn giá nhập khẩu. Ngoài ra còn có bằng chứng về ERPT thấp
ở các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là trong trường hợp giá tiêu
dùng của Mỹ và Nhật Bản. Phù hợp với các nghiên cứu trước ERPT
tác động đến giá tiêu dùng và nhập khẩu trong khu vực đồng Euro
có phần cao hơn so với ở Mỹ. Phân tích của chúng tôi cũng phần
nào đã phá vỡ những kiến thức thông thường cho rằng ERPT ở các
quốc gia "mới nổi" thường cao hơn các quốc gia "phát triển". Đối
với các nền kinh tế mới nổi với chỉ số lạm phát ở mức một con số
(đặc biệt là các nước châu Á trong mẫu của chúng tôi), ERPT là thấp
và mức độ phổ biến không giống trong nền kinh tế phát triển.Tổng
quát hơn, bài nghiên cứu cung cấp những bằng chứng xác thực cho
mối quan hệ giữa mức độ của ERPT và lạm phát, phù hợp với giả
thuyết của Taylor. Kết quả này trở nên rõ ràng chỉ sau khi loại trừ
hai nước (Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ), do khó khăn trong việc ước
lượng cùng với sự ước lượng về kinh tế vĩ mô đã diễn ra vượt tầm
kiểm soát trong phạm vi nghiên cứu ở hai nước này. Cuối cùng, bài
nghiên cứu cũng tìm ra được sự liên kết chặt chẽ giữa mức độ mở
cửa nhập khẩu của một nền kinh tế và ERPT, trong khi về mặt lý
thuyết vấn đề này chưa được nghiên cứu nhiều.

2004). Devereux và Engel (2001) và Bacchetta và van Wincoop
(2003) khám phá vai trò của việc định giá đồng nội tệ trong việc
giảm mức độ ERPT.
Những bằng chứng được đưa ra từ những cách tiếp cận lý
thuyết khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm cho cả nền kinh tế tiên
tiến và các nền kinh tế mới nổi đã tìm thấy bằng chứng của ERPT
không hoàn toàn.Những nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về sự
khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, từ những gì đã chứng minh ta
tìm thấy được những yếu tố cơ bản nhất về sự truyền dẫn.Taylor
(2000) đã đưa ra giả thuyết rằng sự phản ứng của giá đối với biến
động tỷ giá phụ thuộc rất nhiều vào lạm phát.Mức độ tác động của
lạm phát đến sự truyền dẫn còn tuỳ thuộc vào mức độ và thời gian
của lạm phát. Liên kết sau có thể được thể hiện như sau: Lạm phát
dai dẳng, thì sự biến động của tỷ giá chỉ là nhất thời và nhiều công
ty có thể khắc phục điều này thông qua việc điều chỉnh giá.
Các bằng chứng từ các nghiên cứu khác nhau xuất hiện đã hỗ
trợ nhiều cho giả thuyết Taylor. Tuy nhiên, mối quan hệ tích cực
giữa sự truyền dẫn và lạm phát dường như mạnh mẽ hơn khi thị
trường mới nổi được đưa vào mẫu nghiên cứu(đặc biệt là bằng
chứng trong bảng dữ liệu của Choudhri và Hakura, 2006). Không có
gì là ngạc nhiên, khi lập luận lý thuyết của Taylor trở nên có ý nghĩa
hơn đối với tỷ lệ lạm phát cao.
Một yếu tố quan trọng quyết định đến ERPT, là mức độ mở
cửa thương mại của một quốc gia.Tại một quốc gia mở cửa thì sự tác
động tỷ giá hối đoái đến giá nhập khẩu làm cho CPI thay đổi nhiều
hơn quốc gia có nền kinh tế khép kín. Tuy nhiên, theo nghiên cứu
của Romer (1993) có nhiều bằng chứng thể hiện không có mối
tương quan giữa lạm phát và sự mở cửa của một quốc gia.
Điều này đưa đến một giả thuyết gián tiếp, theo đó sự mở cửa
của một quốc gia tỷ lệ nghịch với lạm phát, còn trong giả thuyết của

phân tích là sự sáng tạo phù hợp, cơ sở dữ liệu so sánh cho mỗi quốc
gia và chất lượng của thị trường mới nổi. Chúng tôi đáp ứng được
yêu cầu vì lượng biến khảo sát cao, phong phú và đầy đủ để tránh sự
chủ quan.
Sau đó chúng tôi sử dụng kết quả để kiểm tra là ERPT tại các
thị trường mới nổi cao hơn so với các nền kinh tế công nghiệp phát
triển và điều tra mối tương quan của sự truyền dẫn của tỷ giá hối
đoái dựa trên các mẫu nghiên cứu theo nghiên cứu của McCarthy
(2000) và Choudhri và Hakura (2006). ERPT trong thị trường mới
nổi có cao hơn thị trường các nước công nghiệp hay không còn tuỳ
thuộc vào cán cân thương mại và chế độ tỷ giá hối đoái của quốc gia
đó. Một mức độ tương đối cao của sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái
cho nước đang phát triển là vấn đề nghiên cứu trong tài liệu “fear of
floating”. Nó cũng có vấn đề vì sự truyền dẫn thấp trong thị trường
mới nổ,i có thể cho rằng tiềm lực của các công ty trong các quốc gia
này sẽ tăng và không giảm theo như xu hướng toàn cầu hóa. Các
quốc gia trong thị trường mới nổi, các đặc tính khác biệt đặc thù sẽ
khó khăn trong việc ước tính độ tin cậy của ERPT. Một số quốc gia
châu Á đã thường xuyên theo đuổi chính sách tích cực nhằm kiểm
soát tỷ giá hối đoái. Các nước Trung và Đông Âu đã trải qua một
biến đổi triệt để nền kinh tế trong những năm 1990. Cuối cùng, Thổ
Nhĩ Kỳ và một số nước Mỹ Latinh trải qua sự bất ổn kinh tế vĩ mô
mạnh mẽ đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phát rất cao và sự biến động mạnh
mẽ của tỷ giá và lãi suất.
Kết quả của chúng tôi hỗ trợ việc đánh giá mức độ ERPT là tại
các thị trường mới nổi cao hơn so với các nước phát triển (như Mỹ,
khu vực đồng Euro và Nhật Bản).Cụ thể hơn, chúng ta thấy rằng
trong nền kinh tế mới nổi lạm phát thấp (đặc biệt là các nền kinh tế
châu Á) nên sự truyền dẫn đến giá tiêu dùng là khá nhỏ.Liên quan
đến điều này, nghiên cứu này hỗ trợ cho giả thuyết của Taylor, việc

i
bao
gồm các ma trận của các hệ số tự hồi quy và 
t
là véc tơ của các sai
số trong mô hình.Việc xác định các cú sốc cấu trúc bằng cách đưa
vào các biến cần quan sát một cách thích hợp và áp dụng phương
pháp phân tích Cholesky cho ma trận hiệp phương sai của các sai số
rút gọn 
t
.
Để bắt đầu cho việc phân tích, mô hình VAR sáu biến tương tự
như của McCarthy năm 2000 và Hahnnăm 2003được phát triển.Mô
hình cơ sở VAR đã áp dụng cho các quốc gia khác nhau bao gồm
một chỉ số giá dầuoil
t
, một biến sản lượngy
t
, một tỷ giá hối đoáie
t
,
chỉ số giá nhập khẩu pimp
t
, chỉ số giá tiêu dùng cpi
t
, và một tỷ lệ lãi
suất ngắn hạn i
t
. Tỷ giá hối đoái và hai biến giá là các biến quan
trọng trong phân tích của chúng tôi. Các biến đầu ra và giá dầu được

Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông), Trung và Đông Âu
(Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan) với Thổ Nhĩ Kỳ, và Châu Mỹ La
Tinh (Argentina, Chile và Mexico). Việc lựa chọn nhóm các quốc
gia này theo tiêu chí phần lớn ở các quốc gia này là thị trường mới
nổi. Đối với mỗi quốc gia, một tập hợp các dữ liệu hàng quý được
thu thập, những số liệu đúng thời điểm cũng có thể chấp nhận. Giá
dầu được đại diện bởi một chỉ số giá dầu thô tính bằng đô la Mỹ.
Biến đầu ra thích hợp là GDP, mặc dù trong một số trường hợp
chúng ta đã sử dụng sản xuất công nghiệp để có được một khoảng
thời gian dài hơn mẫu. Đối với tất cả các quốc gia, chúng tôi sử
dụng chuỗi tỷ giá hối đoái danh nghĩa, còn bao gồm nhập khẩu bằng
đồng nội tệ và giá tiêu dùng, ngoại trừ Trung Quốc, nơi chúng tôi
hạn chế phân tích giá tiêu dùng khi mà một chuỗi giá nhập khẩu là
không có sẵn. Cuối cùng, công cụ chính sách tiền tệ được đại diện
bởi lãi suất ngắn hạn. Khi thời kỳ mẫu được xác định bằng dữ liệu
sẵn có, nó sẽ thay đổi giữa các nước (xem phụ lục một mô tả chi tiết
về các nguồn dữ liệu, và những hàng đầu tiên trong Bảng 1 và 2 cho
thời gian mẫu đã sử dụng).
Một sự tổng hợp các điều kiện kinh tế vĩ mô trung bình tại các
thị trường mới nổi trong giai đoạn mẫu mà dữ liệu có sẵn được đưa
ra như trong Bảng 1. Lạm phát trung bình tương đối thấp ở các nước
châu Á, đặc biệt là trong các trường hợp của Đài Loan và Singapore.
Hai nước mới đây đã tiến hành kết hợp sự tăng trưởng mạnh mẽ
GDP thực, lạm phát thấp và tỷ giá hối đoái danh nghĩa ổn định, cả
về giá trị và trong các điều kiện bất ổn. Các quốc gia trung và đông
Âu đã kết hợp tăng trưởng sản lượng khoảng 2 và 3% với tỷ lệ tương
đối cao nhưng lạm phát giảm. Cụ thể hơn, sự giảm lạm phát đã đạt
được trước đó tại Cộng hòa Séc, mặc dù trong bối cảnh các nguồn
lực suy thoái liên tục trong một số năm sau cuộc khủng hoảng ngân
hàng năm 1997. Giai đoạn được xem xét trùng với sự trở lại với các

ở châu Mỹ Latinh, ngoại trừ Chile. Tuy nhiên mức độ mở cửa có thể
góp phần đóng vai trò đối trọng bằng cách làm giảm ảnh hưởng đến
chỉ số truyền dẫn CPI trong nền kinh tế tương đối khép kín như Mỹ
Latinh, trong khi đặc biệt mang lại tác động tích cực trong các
trường hợp của Hồng Kông và Singapore - các quốc gia có độ mở
thương mại nhất trong mẫu của chúng tôi.
Mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái trong mỗi quốc gia được
tính toán bằng cách ước tính một đặc điểm kỹ thuật của mô hình (1)
cho các vector được chọn của các biến nội sinh chứa các thuộc tính
chuỗi thời gian của dữ liệu. Những kiểm định đơn vị gốc cho thấy
hầu hết các biến trong các nước được xem xét là không cố định (chỉ
có tỷ lệ lãi suất là cố định trong một số trường hợp), trong khi các
kiểm định đồng phân Johansen chỉ cung cấp một cách tổng thể bằng
chứng không chắc chắn của mối quan hệ cân bằng dài hạn có thể có
giữa các biến ở một số quốc gia. Với những đặc tính dữ liệu được
đưa ra, một mô hình VAR trong những sai số đầu tiên của các biến
không cố định đại diện cho một đặc điểm kỹ thuật phù hợp của các
mô hình. Để làm rõ mô hình VAR trong những saisố đầu tiên, trái
ngược với một mô hình Error Correction Vector (VECM), nếu đồng
phân sẽ xuất hiện thì có thể dẫn đến sai số. Tuy nhiên, sự lựa chọn
của chúng tôi cũng cho rằng phân tích: (i) tập trung vào các động lực
ngắn hạn trái với mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến; và (ii)
bị hạn chế bởi thời gian mẫu ngắn cho một số các nền kinh tế thị
trường mới nổi. Một lựa chọn thay thế khả thi sẽ là một mô hình
VAR ở các cấp độ của các biến.Tuy nhiên, điều đáng nói là không
ước tính về mức độ cũng như thông số kỹ thuật VECM được loại trừ
cho những vấn đề như ví dụ về Favero năm 2001.Trong sự hiện diện
của đồng phân, các phương pháp cũ sẽ vượt quá giới hạn và mất
hiệu quả.Mô hình VECM sẽ tạo ra những ước lượng không phù hợp
nếu vector đồng phân không đúng được trình bày trong mô hình.

một số yếu tố có thể quyết định bằng cách tính toán hệ số tương
quan.Cuối cùng chúng tôi kiểm định những kết quả này bằng cách
áp dụng hai mô hình xác định thay thế.
4. Kết quả thực nghiệm
Ước lượng sự truyền dẫn tỷ giá trên giá nhập khẩu và giá tiêu
dùng cho tất cả các thị trường mới nổi trong mẫu được tóm tắt trong
Bảng 3 và 4 cho hai khoảng thời gian, cụ thể là sau 4 và 8 quý. Đối
với hầu hết các quốc gia kết quả của chúng tôi nói chung có vẻ hợp
lý cả về chỉ số CPI và giá nhập khẩu. Sự truyền dẫn tỷ giá giảm dọc
theo chuỗi giá, tức là sự truyền dẫn tỷ giá lên giá nhập khẩu cao hơn
là lên giá tiêu dùng. Đặc biệt, một năm sau cú sốc, sự truyền dẫn lên
giá nhập khẩu là cao hơn và không khác biệt về mặt thống kê so với
1 ở các trường hợp của Argentina, Chile, Hungary, Mexico, Ba Lan
và Thổ Nhĩ Kỳ, hơi thấp hơn ở Cộng Hòa Séc và Hàn Quốc, và khá
thấp ở hầu hết các nước châu Á khác. Sự truyền dẫn tỷ giá đến chỉ
số CPI là cao nhất ở Hungary và Mexico.Trong khi đó, ở Châu Á, sự
truyền dẫn lên chỉ số CPI là thấp ở cả sau 4 và 8 quý.Đối với
Singapore, ước lượng điểm của các hệ số hơi tiêu cực, chúng không
khác biệt đáng kể với 0.
Sau đó chúng tôi áp dụng phương pháp tương tự cho khu vực
đồng Euro, Mỹ và Nhật Bản để đánh giá liệu rằng mức độ của sự
truyền dẫn có cao hơn tại các thị trường mới nổi hay không. Bảng 5
cho thấy các bằng chứng cho khu vực đồng Euro là rất phù hợp với
các ước lượng được tìm ra bởi các nghiên cứu khác sử dụng những
phương pháp tương tự (xem Hahn, 2003) hoặc các phương pháp
thay thế (xem ví dụ Anderton, 2003, và Campa etal, 2005., với giá
nhập khẩu). Các ước lượng cho thấy rằng sự truyền dẫn tỷ giá hối
đoái lên cả giá nhập khẩu và giá tiêu dung là rất thấp tại Mỹ (xem
Gagnon và Ihrig, 2004, giá tiêu dùng). Ở Nhật Bản, sự truyền dẫn tỷ
giá lên CPI là rất nhỏ cả sau 4 và 8 quý.Về giá nhập khẩu, ước lượng

truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng là cao hơn đáng kể (khoảng
40%). Những nhóm này phần nào ít nhất là đã ủng hộ rộng rãi giả
thuyết của Taylor. Hai quốc gia khác trong mẫu của chúng tôi,
Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ, nằm rõ ràng bên ngoài, cách xa nhóm
quan sát, khi kết hợp giữa tỷ lệ lạm phát trung bình rất cao (trên
60%) và truyền dẫn giá tiêu dùng thấp. Kiểm chứng trực quan qua
biểu đồ trên ta thấy rằng nếu hai nước này được đưa vào phân tích,
giả thuyết của Taylor sẽ bị phá vỡ. Tuy nhiên, phương pháp VAR có
lẽ không đủ để các nước có kinh nghiệm ổn định kinh tế vĩ mô khi
có siêu lạm phát hay tỷ lệ lạm phát rất cao. Lấy ví dụ về Argentina,
khi mở rộng mẫu quá nhiều bao gồm việc nhảy vọt các biến tài
chính (tốc độ tăng đột ngột hơn so với mức "bình thường"). Bằng
cách hạn chế khoảng thời gian mẫu để loại trừ các cuộc lạm phát
cao, thay vào đó, không chỉ dữ liệu trở nên rất ngắn mà còn làm cho
mẫu sẽ chỉ thể hiện một phần, điều này có thể gây nhầm lẫn, chỉ đơn
thuần là thể hiện cuộc lạm phát cao. Ví dụ một giai đoạn lạm phát
cao sẽ được kết thúc, trong khi đó sự ổn định kinh tế vĩ mô vẫn đang
tiếp diễn, và kết hợp với một đồng tiền tăng giá mạnh (đánh giá thấp
mạnh thường liên quan đến cuộc siêu lạm phát). Trong những
trường hợp này nó sẽ hình thành và rất khó khăn để khôi phục lại
mối quan hệ cơ bản giữa biến động tỷ giá và giá cả cho các mô hình
dự kiến sẽ phát sinh bất thường theo sự bất ổn của môi trường kinh
tế. Phương pháp VAR và mọi dự đoán kinh tế nói chung không có
khả năng để có thể nắm bắt được một biện pháp có ý nghĩa nào
trong đo lường truyền dẫn nếu giá, tỷ giá hối đoái và lãi suất là quá
dễ dàng bốc hơi. Ngược lại cái nhìn thấu đáo về kinh tế được đề xuất
bởi Taylor là một cứu cánh nếu chúng ta loại trừ 2 mẫu cá biệt là
Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina.
Hình ảnh rõ nét mối tương quan thuận giữa truyền dẫn và lạm
phát được xác định bởi hai định lý đo lường của tương quan - sản

thương mại, theo đó ở mức lãi suất cao - những thứ khác không đổi -
đồng tiền hấp dẫn hơn bằng cách khai thác sự phá vỡ của cân bằng
phương trình tiền tệ. Ước lượng truyền dẫn theo chương trình thay
thế này nhìn chung là rất tương đồng với thảo luận trong phần trước
(xem Bảng 7 và 8). Một ngoại lệ là Hungary, nơi mà ước lượng
truyền dẫn tỷ giá tới cả giá nhập khẩu và chỉ số CPI đều giảm đáng
kể. Về giá nhập khẩu, một năm sau cú sốc hệ số truyền dẫn qua
nghiên cứu ta thấy là cao và không chênh lệch đáng kể so với 1 ở
Argentina,Mexico và Ba Lan. Trong trường hợp của Chile, hệ số
truyền dẫn giá nhập khẩu lúc này phần nào thấp hơn và gần bằng với
Cộng hòa Séc và Hàn Quốc một năm sau cú sốc (khoảng giữa 0,7 và
0,8). Một năm sau cú sốc, mức độ truyền dẫn tới giá nhập khẩu vẫn
còn duy trì rất thấp trong các trường hợp của Singapore và Đài
Loan, mặc dù trong các trường hợp trước đây, mức độ này tăng lên
đáng kể trong hai năm sau cú sốc.
Về giá cả CPI, hệ số truyền dẫn vẫn gần như trước, luôn luôn
nhỏ hơn so với giá nhập khẩu tương đương. Hệ số bây giờ là cao
nhất một năm sau cú sốc ở Cộng hòa Séc, Mexico và Ba Lan. Ở
châu Á, sự truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng lại một lần nữa cho
thấy là thấp. Một lần nữa, trong trường hợp của Singapore, mặc dù
ước lượng điểm của các hệ số là âm, nhưng chúng không khác đáng
kể so với 0. Các kết quả tổng thể ở tất cả các nước đặc trưng bởi lạm
phát trung bình ít hơn 10% thường mức độ truyền dẫn tỷ giá đặc
trưng vẫn còn giữ ở mức vừa phải.Như đã đề cập ở trên, Argentina
và Thổ Nhĩ Kỳ nổi bật với sự truyền dẫn đến giá tiêu dung rất thấp.
Trừ hai quốc gia này, các mối tương quan thuận giữa truyền dẫn và
lạm phát vẫn còn được thể hiện là tích cực sau cả 4 và 8 quý, mặc dù
mức độ ý nghĩa là thấp hơn so với kịch bản đầu tiên mà chúng tôi đã
xem xét (xem bảng 9). Các đo lường khác cho sự bất ổn kinh tế vĩ
mô cũng tương quan một cách tích cực với mức độ truyền dẫn tỷ giá

mô hình, chúng mặc nhiên có xu hướng đi đến kết luận chắc chắn
về mối liên kết đồng thời giữa tỷ giá hối đoái và một tập hợp con
của nguyên tắc cơ bản. Tất cả những tài liệu này về khía cạnh kinh
tế vĩ mô có thể sẽ không giải thích được tỷ giá hối đoái trong ngắn
hạn và trung hạn. Đặc biệt, rất khó để phát hiện tác động ngược có
nghĩa là tỷ giá hối đoái thực – sự biến động này dường như bị thúc
đẩy bởi sự tăng lên của tỷ giá hối đoái danh nghĩa mà như vậy thì
không phù hợp với những lý giải cơ bản. Cùng với đó, mô hình thay
thế 2 cho phép tỷ giá hối đoái bị ảnh hưởng bởi những cú sốc do các
biến khác nhưng chỉ với một độ trễ, ngầm giả định rằng một cách
tạm thời ít nhất các yếu tố khác (chẳng hạn như “giao dịch tin đồn”
hay sự xem xét thông tin không hoàn hảo - cả hai đều rất quan trọng
trong bối cảnh thị trường mới nổi) có xu hướng vượt trội
Mặc dù mô hình tương đối khác nhau, những kết quả mà
chúng ta đạt được là đáng chú ý tương tự như những gì đã thảo luận
trong phần trước (Bảng 10 và 11). Truyền dẫn tỷ giá đến giá nhập
khẩu là gần 1, cả sau thời gian một và hai năm, tại Argentina, Chile,
Hungary, Ba Lan, Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi đó ước lượng
thấp hơn nhiều ở các nước châu Á và ở Cộng hòa Séc. Sự truyền dẫn
lên giá tiêu dùng thường là thấp hơn so với truyền dẫn lên giá nhập
khẩu cho tất cả các nước và trong trường hợp của một số quốc gia
châu Á là gần bằng 0 sau cả một và hai năm. Lặp lại việc phân tích
mối tương quan, chúng tôi luôn tìm thấy bằng chứng của một mối
quan hệ tích cực đáng kể giữa truyền dẫn chỉ số CPI và lạm phát (ở
mức 1%), sau khi loại trừ Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ khỏi mẫu (xem
Bảng 12). Hệ số tương quan giữa truyền dẫn CPI và các đo lường
còn lại về sự bất ổn kinh tế vĩ mô cũng tích cực và hầu như luôn
luôn có ý nghĩa thống kê cho tất cả các khoảng thời gian xem xét.
Các mối liên hệ giữa chỉ số truyền dẫn CPI và độ mở cửa một lần
nữa tích cực, sau khi kiểm soát lạm phát, nhưng nó không có ý nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status