Ước lượng mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát ở Việt Nam - Pdf 12

1 Ước lượng mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát ở
Việt Nam

TÓM TẮT
Bài nghiên cứu đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào trong chỉ số giá
nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng, đồng thời ước lượng mức tác động của cú sốc
các biến trong nền kinh tế trong việc giải thích sự biến động của lạm phát tại
Việt Nam trong giai đoạn từ quý 1 năm 1999 đến quý 2 năm 2011. Bài nghiên
cứu sử dụng mô hình tự hồi quy vecto (VAR) qua các kiểm định thực nghiệm
như kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller, hàm phản ứng xung và
phân rã phương sai. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số truyền dẫn tỷ giá vào chỉ
số giá nhập khẩu là 0,53 sau 5 quý, và vào chỉ số giá tiêu dùng là 0,29 sau 6 quý
kể từ tác động của cú sốc tỷ giá đầu tiên. So sánh với kết quả các bài nghiên cứu
tương tự ở Việt Nam cũng như các nước châu Á nhưng giai đoạn trước đó, có
thể thấy mức truyền dẫn tỷ giá ở mức trung bình và có tăng lên so với giai đoạn
trước. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy ngoài biến cú sốc giá dầu
thế giới và chỉ số giá nhập khẩu thì cung tiền M2 là một yếu tố chính giải thích
biên động lạm phát. Tỷ giá danh nghĩa giải thích khoảng 10% những biến động
của lạm phát. Các con số ước lượng này, hy vọng sẽ mang lại đóng góp nhỏ
trong công tác hoạch định chính sách vĩ mô khi công cụ tỷ giá hối đoái được sử
dụng hiệu quả. 2

1. GIỚI THIỆU
Tỷ giá là một biến kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mở. Tỷ giá có thể ảnh
hưởng đến nền kinh tế thông qua các kênh khác nhau như thương mại, giá cả và

thể gián tiếp tác động vào mức giá chung nếu các quyết định về giá chịu ảnh
hưởng của chi phí nhập khẩu. Điều này đặc biệt đúng đối với những nước dựa
vào việc nhập khẩu hàng hóa trung gian phục vụ sản xuất và có hiện tượng đô la
hóa cao như Việt Nam.
Vậy sự tăng hay giảm tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát về
thời gian lẫn độ lớn; tỷ giá hối đoái có thể giải thích bao nhiêu phần trăm những
thay đổi của lạm phát; và liệu tỷ giá hối đoái có phải là một kênh phù hợp để đạt
được kiềm chế lạm phát ở Việt Nam? Trả lời những câu hỏi này, bài viết tập
trung vấn đề nghiên cứu Mức chuyển tỷ giá vào lạm phát – Exchange rate pass
through – một trong những khái niệm khá quen thuộc trong nghiên cứu kinh tế vĩ
mô trên thế giới từ những năm 1980, và gần đây được lưu tâm bởi các nhà
nghiên cứu ở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết làm rõ khái niệm về truyền dẫn tỷ giá hối đoái, cơ chế truyền dẫn tỷ giá
đến lạm phát và các nhân tố vi mô và vĩ mô tác động đến mức truyền dẫn tỷ giá
đến lạm phát dựa trên cơ sở lý luận từ tổng hợp kết quả các bài nghiên cứu trước
đây.
Nội dung nghiên cứu chính nhằm giải quyết hai vấn đề: (1) Đánh giá tác động sự
truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào trong lạm phát ở Việt Nam, bằng cách ước lượng
mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng
tại Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua giai đoạn từ năm 1999 đến hai quý đầu
năm 2011. (2) Xác định tầm quan trọng của cú sốc các biến vĩ mô trong việc giải
thích những biến động của lạm phát.
Bài viết mong muốn đem đến một đóng góp nhỏ trong việc hoạch định chính
sách kinh tế vĩ mô, bởi lẽ ước lượng được thời gian và độ lớn của mức truyền
dẫn tỷ giá vào trong lạm phát sẽ giúp đưa ra những quyết định đúng đắn khi sử
dụng công cụ tỷ giá của chính sách tiền tệ nhằm đảm bảo mục tiêu chung hướng
4

đến kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô như chủ trương của Chính phủ ta

bài báo của mình khi giải thích sự tác động của giảm giá tiền tệ. Kể từ đó thuật
ngữ này được sử dụng rộng rãi trong kinh tế. Khi nhắc đến thuật ngữ này, người
ta muốn đề cập đến mức độ tác động đến giá cả liên quan như: giá xuất khẩu,
nhập khẩu, giá tiêu dùng trong nước và mức độ mở cửa nền kinh tế. Hai thập kỷ
qua, một lượng lớn tài liệu kinh tế về truyền dẫn tỷ giá hối đoái đã được nghiên
cứu. Bắt đầu từ những quan điểm khác nhau, đã có nghiên cứu thực
nghiệm kiểm tra vai trò của truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở các nền kinh tế nhỏ và
lớn.

Khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái
Trước tiên cùng tìm hiểu về mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái là gì. Khái niệm này
được hiểu có đôi chút khác biệt bởi các nhà kinh tế, do góc độ nghiên cứu khác
nhau.
Trong bài nghiên cứu của Goldberg và Knetter (1996) hay Olivei (2002) mức
truyền dẫn tỷ giá hối đoái được định nghĩa là phần trăm thay đổi trong giá nhập
khẩu do 1% thay đổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa gây ra. Còn nghiên cứu của tác
giả Mc.Carthy, J. (2000) thì xem xét dưới góc độ là mức chuyển của tỷ giá và
giá nhập khẩu đến giá cả sản xuất nội địa PPI và giá tiêu dùng CPI. Trong một số
bài nghiên cứu khác như Lian (2006) và Nkunde Mwase (2006), khái niệm về
truyền dẫn tỷ giá hối đoái thường được hiểu rộng hơn, đó là mức chuyển của cú
sốc tỷ giá vào trong các chỉ số giá, bao gồm chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản
xuất và chỉ số giá tiêu dùng, được sử dụng rộng rãi trong bài nghiên cứu của các
tác giả ở nhóm nước đang phát triển; theo đó “truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần
trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay
đổi 1%”. Khái niệm này cũng chính là góc độ xem xét và hệ số ước lượng trong
bài nghiên cứu này.
6

Cơ chế truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát
Những thay đổi trong tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát qua các

(chỉ số giá
sản xuất PPI)
Hàng hóa tiêu
dùng cuối cùng
(chỉ số giá tiêu
dùng CPI)
Hàng hóa
nhập khẩu (chỉ
số giá nước
ngoài– P*)
Hàng hóa
nhập khẩu
(chỉ số giá
nhập khẩu
IMP)
Hàng hóa nhập
khẩu tiêu dùng
cuối cùng (chỉ
số giá tiêu dùng
CPI)
7

đó, tình trạng đô la hóa ngày càng tăng trong nền kinh tế có thể là một nhân tố
làm khuếch đại hiệu ứng truyền dẫn gián tiếp này. Một khi tỷ giá biến động tăng,
đồng nội tệ mất giá sẽ khiến cho giá cả các tài sản được định giá bằng đồng
ngoại tệ (như bất động sản, hàng hóa xa xỉ như ô tô…) sẽ tăng lên. Và đây là
nguyên nhân khiến giá cả tiêu dùng tăng.
Cơ chế truyền dẫn tỷ giá có thể diễn ra một cách hoàn hảo, không hoàn hảo hoặc
không xảy ra tùy vào đặc điểm kinh tế của từng quốc gia. Khi cơ chế này xảy ra
hoàn hảo, 1% phá giá nội tệ sẽ làm tăng 1% giá cả nội địa và ngược lại. Nếu

2. Burstein et al (2001) chỉ ra rằng chi phí của các nhà phân phối trong nước
(như bán sỉ và bán lẻ) chiếm đến 40% trong giá bán lẻ sau cùng của bất
kỳ hàng hóa nào. Do những chi phí này ít phụ thuộc vào sự thay đổi của
tỷ giá, nên có thể dẫn đến mức truyền dẫn tỷ giá thấp hơn, ngay với hàng
hóa qua giao thương quốc tế.
3. Yang (1997) và Olivei (2002) nghiên cứu về mức độ lợi tức theo quy mô
(Returns to scale), kết luận rằng mức truyền dẫn tỷ giá tương quan nghịch
với với độ co giãn của chi phí biên với đầu ra. Nếu chi phí biên với đầu ra
giảm, mức cầu cao hơn do giá giảm hậu quả từ việc tăng tỷ giá, có thể dẫn
đến chi phí tăng thêm giảm, hàm ý mức mức truyền dẫn tỷ giá cao hơn.
4. Các nhà cung cấp nước ngoài thường điều chỉnh mức giá của họ theo độ
co giãn của cầu ở nước nhập khẩu. Mức độ co giãn của cầu theo sự thay
đổi của giá càng cao, càng ít khả năng truyền dẫn cú sốc tỷ giá (Yang
1997)
Nhân tố vĩ mô:
1. Taylor (2000) cho rằng môi trường lạm phát và nhận thức về sự kéo dài
của các cú sốc là những nhân tố quyết định mức truyền dẫn. Chính xác
hơn, các công ty thường ít điều chỉnh mức giá nếu những thay đổi trong tỷ
giá và mức lạm phát được kỳ vọng là tạm thời, điểm này cũng được nhấn
mạnh bởi Mann (1986) và được ủng hộ bởi Mc Carthy (2000)
2. Mối liên hệ giữa lạm phát và mức truyền dẫn tỷ giá hàm ý rằng chính sách
tiền tệ cũng có ảnh hưởng sự truyền dẫn những thay đổi của tỷ giá vào
trong giá cả nội địa. Gagnon và Ihrig (2004) cho rằng những quốc gia với
9

chính sách tiền tệ chống lạm phát đáng tin cậy nhìn chung có mức truyền
dẫn tỷ giá thấp hơn.
3. Độ mở của quốc gia, được tính bằng % nhập khẩu trên tổng sản lượng,
cũng ảnh hưởng mức truyền dẫn tỷ giá. Một cách trực quan, độ mở giao
thương quốc tế của quốc gia càng lớn, thì mức truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số

những năm 1970, 1980. Kết quả nhận được: 1) Có sự sụt giảm giá nhập khẩu và
biến động giá tiêu dùng gần như tất cả các nước G7. Khoảng một nửa các quốc
gia này có sự biến động sụt giảm đáng kể giữa 1975-1989 và 1990-2004 có ý
nghĩa thống kê. 2) Kết quả ước lượng khi đồng nội tệ giảm giá 10% khiến giá
nhập khẩu tăng trung bình 7% ở các quốc gia này những năm 1970, 1980, và chỉ
tăng khoảng 4% trong 15 năm trở lại. 3) Tương tự, đồng nội tệ giảm giá 10%
khiến giá tiêu dùng tăng trung bình gần 2% những năm 1970, 1980, và ảnh
hưởng trung lập đến giá tiêu dùng trong 15 năm trở lại.

Kết quả nghiên cứu trước đây ở các nền kinh tế mới nổi

Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007) đã xem xét hiệu
ứng truyền dẫn từ tỷ giá đến giá cả trong 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ
Latinh, Trung và Đông Âu. Từ đó, dựa trên mô hình VAR, một phần nào thay
đổi cách nghĩ thông thường rằng mức tryền dẫn tác động lên cả giá nhập khẩu và
giá tiêu dùng ở các nền kinh tế mới nổi luôn cao so với các quốc gia phát triển. Ở
các thị trường mới nổi với tỷ lệ lạm phát một con số (nhất là các nước châu Á),
người ta nhận thấy rằng mức tác động của tỷ giá lên giá nhập khẩu và giá tiêu
dùng thấp và không khác nhau là mấy so với các nền kinh tế phát triển. Nghiên
cứu này cũng cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá và lạm phát có mối quan hệ cùng
chiều, phù hợp với giả thuyết của Taylor khi hai nước (Argentina và Thổ Nhĩ
Kỳ) được loại trừ khỏi phân tích. Cuối cùng, về mặt lí thuyết có sự tồn tại mối
liên hệ cùng chiều giữa chính sách mở cửa nhập khẩu và mức truyền dẫn tỷ giá
nhưng trên thực tế tác giả chưa tìm được bằng chứng thực nghiệm vững chắc về
vấn đề này.

11

Mihaljek, D. and Klau, M. (2000) Bài nghiên cứu này trình bày các ước tính
của truyền dẫn khi tỷ giá hối đoái thay đổi và giá nhập khẩu thay đổi (được đo


cao hơn đáng kể trong một môi trường lạm phát cao và cũng bị ảnh hưởng bởi
môi trường có tỷ giá thay đổi tạm thời.

Các nghiên cứu ở Việt Nam
Những năm gần đây đã có những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tồn tại mối
quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát ở Việt Nam.

Camen, U. (2006) nghiên cứu về các yếu tố tác động lên lạm phát CPI của Việt
Nam với chuỗi số liệu tháng từ 2/1996 - 4/2005 đã kết luận rằng tỷ giá danh
nghĩa USD/VND đóng góp khá quan trọng vào tốc độ tăng CPI của Việt Nam,
giải thích khoảng 19% trong tổng mức tăng CPI sau 12 tháng.
Võ Văn Minh (2009) dùng mô hình VAR để ước lượng mức tác động của mức
truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại Việt Nam với chuỗi số liệu tháng từ 1/2001 -
2/2007 cũng chứng minh được việc phá giá đồng Việt Nam tạo ra tác động
không hoàn hảo lên giá nhập khẩu và lạm phát CPI. Kết quả định lượng cho thấy
mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu sau 6 tháng là 1,04, sau
1 năm là 0,21; tuy nhiên mức truyền dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng trong 4 tháng
đầu là âm và mức tác động tích lũy sau 1 năm chỉ là 0,13 – ở mức thấp so với
các nước trong khu vực. Do độ lớn mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá
tiêu dùng là khá thấp, tác giả khuyến nghị một sự linh hoạt hơn của cơ chế điều
hành tỷ giá hối đoái ví dụ như cho phép sự biến động biên độ tỷ giá hối đoái lớn
hơn .
Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) trong một nghiên cứu về
các yếu tố tác động lên lạm phát CPI của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010, cho
kết luận khi Ngân hàng Nhà nước tăng 1% tỷ giá chính thức USD/VND sẽ tạo áp
lực làm tăng lạm phát, và tỷ giá giải thích khoảng 19% mức lạm phát CPI sau 12
tháng và khoảng 30% sau 17 tháng. Nghiên cứu cho thấy tỷ giá là một yếu tố
khá quan trọng giải thích biến động của lạm phát, nhưng hạn chế chính của
13


14 Câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mức truyền dẫn của tỷ giá vào lạm phát ở
Việt Nam từ quý 1 năm 1999 đến quý 2 năm 2011. Do vậy, câu hỏi nghiên cứu
trọng tâm đặt ra là: Cú sốc tỷ giá ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ lạm phát.
Để trả lời câu hỏi trọng tâm này, nghiên cứu đặt ra một số vấn đề liên quan sau:
 Giả định các yếu tố khác không đổi, tỷ giá thay đổi (mất giá) 1% thì lạm
phát thay đổi bao nhiêu phần trăm?
 Tỷ giá hối đoái có thể giải thích bao nhiêu phần trăm những thay đổi của lạm
phát?
 Liệu tỷ giá hối đoái có phải là một kênh phù hợp để đạt được kiềm chế lạm
phát ở Việt Nam?

15

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong bài viết này, một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng như:
 Phương pháp so sánh, tổng hợp
 Phương pháp mô hình hoá
 Phương pháp phân tích định lượng: mô hình VAR – (Vector autoregression
model) được sử dụng và ứng dụng chức năng hàm phản ứng xung IRF
(Impulse Response Function), phân rã phương sai (Variance decomposition)
để đo lường và phân tích sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá;
đồng thời thông qua chức năng phân rã phương sai, tác giả phân tích vai trò
của các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam. Phương pháp
này, cùng các bước thực hiện, thu thập và xữ lý dự liệu sẽ được trình bày cụ
thể sau đây.



















 









hình VAR cấu trúc đơn giản với hai biến và trễ một bước có dạng:
y
1t
= a
10
+ a
11
y
2t
+ a
12
y
1(1-t)
+ a
13
y
2(t-1)
+ 
1t
y
2t
= a
20
+ a
21
y
1t
+ a
22
y

1t
, ,Y
mt
)’; A
i
là các ma trận cấp m×m, A là ma trận cấp m×1, ε
t

là ma trận cấp m×1.

 Mô hình VAR dạng rút rọn hay dạng tiêu chuẩn (Standar VAR –
SVAR)
Trong mô hình này một biến chỉ chịu tác động của độ trễ của chính nó và độ trễ
của biến khác trong quá khứ. Các nhiễu trắng trong phương trình bao hàm trong
đó tính chất các biến. Nếu các biến khác nhau có tương quan với nhau thì nhiễu
trắng của chúng cũng tương quan với nhau. Mô hình VAR dạng rút gọn với hai
biến và trễ một bước có dạng:
y
1t
= b
10
+ b
11
y
1(1-t)
+ b
12
y
2(t-1)
+ e


Trong đó Y
t
= (Y
1t
, ,Y
mt
)’ , B
i
là các ma trận cấp m×m, B là ma trận cấp m×1, v
t

là ma trận cấp m×1 yếu tố ngẫu nhiên.

 Mô hình VAR đệ quy (recursive VAR)
Trong mô hình này, các nhiễu trắng trong mỗi phương trình được xây dựng sao
cho không tương quan với các nhiễu trắng trong phương trình hồi quy trước đó.
Phương pháp phân rã Cholesky được ứng dụng trong mô hình dạng này, ta sẽ
phân tích kỹ hơn sau đây. Mô hình VAR dạng đệ quy được sử dụng rất nhiều
trong các nghiên cứu kinh tế, bao gồm trong đó có những nghiên cứu về truyền
dẫn tỷ giá hối đoái, như Mc.Carthy, J. (2000), Hahn, E. (2003), Michele Ca’
Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007). Trong bài viết này, chúng ta
cũng đo lường mức truyền dẫn tỷ giá theo mô hình VAR đệ quy này.
18 Phân rã Cholesky
Mô hình VAR dạng cấu trúc được xếp là mô hình không định dạng được. Để xử
lý vấn đề này chúng ta đưa ra thêm ràng buộc lên các tham số của mô hình. Một
trong những cách tiếp cận dạng này là phân rã Cholesky. Để minh họa phân rã

Mô hình Var thường được dùng trong các bài toán liên quan đến các biến kinh tế
vĩ mô như:
 Dự báo, đặc biệt là dự báo trung hạn và dài hạn.
 Phân tích cơ chế truyền tải sốc, nghĩa là xem xét tác động của một cú sốc trên
một biến phụ thuộc lên các biến phụ thuộc khác trong hệ thống qua hàm phản
ứng xung (Impulse response)
 Phân tích mức tác động của cú sốc mỗi biến trong việc giải thích biến động
của một biến trong mô hình qua chức năng phân rã phương sai (Variance
decomposition)

Hạn chế của mô hình VAR
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của mô hình Var : 1) không cần xác định biến
nào là biến nội sinh và biến nào là biến ngoại sinh 2) có thể sử dụng phương
pháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ 3) với một số ít biến trong mô hình
nhưng tính tin cậy của dự báo thu được tốt hơn so với một mô hình hệ phương
trình đồng thời gồm nhiều biến và nhiều phương trình, thì mô hình Var còn
vướng phải một số hạn chế:

 Do trọng tâm mô hình được đặt vào dự báo nên VAR ít phù hợp cho phân
tích chính sách.
 Khi xét đến mô hình VAR phải xét đến tính dừng của các biến trong mô
hình. Yêu cầu đặt ra khi ta ước lượng mô hình VAR là tất cả các biến phải dừng,
nếu trong trường hợp các biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân để đảm bảo
chuỗi dừng. Càng khó khăn hơn nữa nếu một hỗn hợp chứa các biến có tính
dừng và các biến không có tính dừng thì việc biến đổi dữ liệu không phải là việc
dễ dàng.
 Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp. Giả sử mô hình Var
bạn đang xét có ba biến và mỗi biến sẽ có 8 trễ đưa vào từng phương trình. Như
xem xét ở trên thì số hệ số mà bạn phải ước lượng là 3
2

được thể hiện giai đoạn sau đó. Giai đoạn 97 -2003 Việt Nam phải trãi qua cuộc
khủng hoảng kinh tế châu Á và giai đoạn phục hồi, VND liên tục mất giá so với
21

USD. Tuy nhiên, lạm phát cao vẫn ko xuất hiện, thậm chí nền kinh tế còn rơi vào
giai đoạn giảm phát 2000-2001. Hơn nữa, việc áp dụng chính sách tỷ giá tương
đối cứng nhắc từ 2004 -2008 đã không giúp nền kinh tế kiểm soát lạm phát. Tỷ
lệ lạm phát tăng qua các năm và cao đột biến vào khoảng 23% năm 2008. Một
cái nhìn lại tỷ giá và lạm phát ở Việt Nam chỉ ra rằng mối quan hệ này khá phức
tạp và ảnh hưởng của những thay đổi tỷ giá lên lạm phát còn chịu phụ thuộc vào
nhiều nhân tố vĩ mô khác. Các kênh truyền tải đến lạm phát được trình bày dưới
đây, là căn cứ giúp ta đưa các biến vào mô hình.
Hình 2. Các kênh truyền tải đến lạm phát

Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Đức Thành (2010)

22

đoái và tác động lẫn nhau giữa các chỉ số giá. Bài viết này cũng như những mô
hình nghiên cứu trước đây giới thiệu bởi McCarthy (2006) và Michele Ca’ Zorzi,
Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007) tiến hành nghiên cứu và đưa 7 biến vào
trong mô hình:

 Giá dầu thế giới: OIL
 Biến sản lượng: GDP
 Cung tiền M2: M2
 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa hữu hiệu đa phương: NEER
 Chỉ số giá nhập khẩu: IMP
 Chỉ số giá tiêu dùng: CPI
 Tỷ lệ lãi suất ngắn hạn: RATE

Trong đó tỷ giá hối đoái và hai biến chỉ số giá sẽ là những biến chính trong phân
tích này. Biến giá dầu thế giới (oil) đại diện cho cú sốc cung và biến GDP thực
(gdp) tượng trưng cho cú sốc cầu được đề cập để nắm bắt những ảnh hưởng thực
sự đến nền kinh tế. Biến cung tiền M2 (m2) và biến lãi suất (rate) mô tả sự tác
động của thị trường tiền tệ (trong đó có chính sách tiền tệ) tới mối liên hệ đang
nghiên cứu.

Các biến được đưa vào mô hình với thứ tự sắp xếp như bên trên. Việc sử dụng
một tiến trình được lặp đi lặp lại để nhận diện ra những cú sốc tác động đồng
thời đến những biến tương ứng và những biến xếp sau đó, nhưng lại không gây
tác động đến những biến đứng trước. Điều nay đồng nghĩa với ta đưa ra những
giả định như sau:

Với chuỗi giá cả, chỉ số giá nhập khẩu đặt trước chỉ số giá tiêu giả định một sự
tác động cùng lúc của cú sốc chỉ số giá nhập khẩu đến chỉ số giá tiêu dùng nhưng

 




 


(1)








 









 







 


(3)








 




 


(4)






 




 




 


(6)

Biến lãi suất được đặt sau cùng, với giả định những biến động trong tỷ giá đại
diện cho thị trường tiền tệ, sẽ phản ánh đồng thời tất cả các cú sốc của nền kinh
tế đại diện bởi các biến trong mô hình.








 




(7)

Với:


: là độ trễ các biến



, 


,


,


,


: lần lượt là cú sốc giá dầu, cú sốc GDP, cú sốc cung
tiền, cú sốc tỷ giá hối đoái, cú sốc lãi suất
24




,



Chuỗi dữ liệu tất cả được đưa về cơ số mũ tự nhiên logarit.
25

Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương NEER
Trong các bài nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá hối đoái, biến tỷ giá có thể được
lựa chọn nhiều cách khác nhau, nhưng thiết thấy so với tỷ giá chính thức giữa
VND và USD, tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương NEER sẽ phản ánh tốt hơn
những biến động của tỷ giá đến các biến khác trong nền kinh tế, phù hợp để đưa
vào mô hình. Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương NEER cũng được sử dụng
trong bài nghiên cứu của Mc.Carthy, J. (2000), Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn
and Marcelo Sánchez (2007).
NEER Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương (Norminal Effective Exchange
Rate) phản ánh sự thay đổi giá trị của đồng nội tệ VND với tất cả các đồng tiền
trong rổ tiền tệ được chọn (chưa tính đến tương quan sức mua, điều chỉnh theo
lạm phát)
Công thức tính NEER như sau:











Với:
 n: số lượng đối tác thương mại chính của Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status