MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CSTT Chính sách tiền tệ
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
NHTW Ngân hàng Trung ương
GDP Tổng sản phẩm quốc dân
VN Việt Nam
TCTD Tổ chức tín dụng
IMF Tổ chức tiền tệ quốc tế
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
WTO Tổ chức thương mại thế giới
VND Việt Nam đồng
USD Đồng đô la Mỹ
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Bảng 2.2. Cơ chế tỷ giá của Việt Nam theo thời gian, 2004-3/2011 29
Hình 2.3. Biên độ tỷ giá xung quanh tỷ giá chính thức, 03/1989 đến 12/2009 30
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Trước những năm 20 của thế kỷ XX, nền kinh tế vận hành theo cơ chế tự tác
động và điều tiết giữa các lực lượng trên thị trường, không có sự can thiệp của Chính
phủ. Điều này được thể hiện qua học thuyết “bàn tay vô hình” của A.Smith. Nhưng
cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 đã kéo tất cả mọi người từ nhà lập chính sách đến
người dân buôn bán bình thường, từ những người theo trường phái cổ điển cho đến
những người phản đối học thuyết này trở về với thực tế rằng bàn tay vô hình là không
hữu hiệu. Bàn tay hữu hình ra đời từ bối cảnh đó mà người đi đầu là J.M. Keynes.
Theo học thuyết Keynes thì cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
thay cho một bàn tay vô hình nào đó khi thị trường gặp phải thất bại. Công cụ để điều
hành nền kinh tế của một quốc gia chính là các chính sách kinh tế tài chính của chính
- Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành chính sách tỷ giá
trong việc kiểm soát lạm phát
- Thông qua thực trạng về lạm phát và điều hành chính sách tỷ giá của Việt
Nam từ năm 2004-nay để đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện việc điều hành
chính sách tỷ giá nhằm mục tiêu kìm chế lạm phát trong thời gian tới.
3. Nội dung nghiên cứu
1. Hệ thống lý luận về lạm phát, chính sách tỷ giá, điều hành chính sách
nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát
2. Thực trạng điều hành chính sách tỷ giá trong việc kiểm soát lạm phát từ
năm 2004 đến nay.
3. Các giải pháp nhằm hoàn thiện việc điều hành chính sách tỷ giá nhằm mục
tiêu kiểm soát lạm phát ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng: Điều hành chính sách tỷ giá nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát
trên giác độ của NHNN.
2. Phạm vi nghiên cứu: những vấn đề lý luận chung về chính sách tỷ giá
với mục tiêu kiểm soát lạm phát, và thực trạng điều hành chính sách tỷ giá của
Việt Nam từ năm 2004 đến nay.
2
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận. Các phương pháp được sử dụng trong
nghiên cứu đề tài bao gồm: phương pháp thống kê và miêu tả, phương pháp tổng
hợp, phương pháp so sánh.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng,
biểu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3
chương như sau:
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VỚI MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
quyền phát hành giấy bạc ngân hàng trên toàn nước Pháp.
Đầu thế kỷ thứ XX, ở các nước các ngân hàng được phép phát hành tiền đều
thuộc sở hữu tư nhân, nhà nước không có điều kiện can thiệp các hoạt động kinh tế
thông qua tác động của tiền tệ. Khủng hoảng kinh té thế giới năm 1929 – 1933 đã
buộc chính phủ các nước tăng cường hơn nữa can thiệp của mình vào lĩnh vực kinh
tế. Ngoài việc điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống luật pháp, các chính sách
thuế , Nhà nước cần phải nắm lấy phương tiện cơ bản của kinh tế thị trường – tiền
tệ để góp phần giải quyết tình trạng bất ổn định trong nền kinh tế. Vì thế, sau khủng
hoảng kinh thế thế giới năm 1929 – 1933, phần lớn các nước đã tiến hành quốc hữu
4
hóa hoặc thành lập mới ngân hàng phát hành thuộc sở hữu nhà nước, nhằm nắm
trọn quyền phát hành tiền tệ để qua đó điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô. Canada
quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1938, Đức quốc hữu hóa ngân hàng năm
1939, Pháp quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1945, Anh quốc hữu hóa ngân
hàng phát hành năm 1946 Từ đó, khái niệm Ngân hàng trung ương (NHTƯ) được
sử dụng để thay thế cho khái niệm ngân hàng phát hành.
NHTW không chỉ thực hiện chức năng phát hành tiền tệ vào lưu thông, mà
còn thực hiện chức năng quản lý về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng,
ngân hàng. Tuy nhiên, ở một số nước ngân hàng phát hành không hoàn toàn thuộc
quyền sở hữu của Nhà nước, nhưng hoạt động vẫn mang tính chất như một ngân
hàng của Nhà nước và cơ quan quản lý cao nhất của nó là do Nhà nước bổ nhiệm và
miễn nhiệm. NHTW Nhật Bản là ngân hàng cổ phần theo luật năm 1942, trong đó
cổ phần nhà nước chiếm 55%, cổ phần thuộc sở hữu tư nhân chiếm 45%, nhưng cơ
quan quản trị ngân hàng là hội đồng chính sách có 7 thành viên do chính phủ bổ
nhiệm và miễn nhiệm. Ở Mỹ, hệ thống dự trữ liên bang là ngân hàng cổ phần tư
nhân, nhưng cơ quan lãnh đạo cao nhất của ngân hàng này là hội đồng thống đốc có
7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm.
1.1.2. Mô hình tổ chức của Ngân hàng trung ương
Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi nước, NHTW có thể độc lập hay trực
thuộc Chính phủ.
1.1.3. Chức năng của Ngân hàng trung ương
1.1.3.1. Độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lượng tiền cung ứng
Đi liền với sự ra đời của NHTW thì toàn bộ việc phát hành tiền được tập
trung vào NHTW theo chế độ nhà nước độc quyền phát hành tiền và nó trở thành
trung tâm phát hành tiền của cả nước.
Giấy bạc ngân hàng do NHTW phát hành là phương tiện thanh toán hợp
pháp, làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán. Do đó, việc
phát hành tiền của NHTW có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ của
đất nước. Để cho giá trị đồng tiền được ổn định, nó đòi hỏi việc phát hành tiền phải
tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt.
6
Nguyên tắc thứ nhất là phát hành tiền phải có vàng bảo đảm. Nguyên tắc này
quy định việc phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông phải được bảo đảm bằng
trữ lượng vàng hiện hữu nằm trong kho của NHTW. NHTW phải bảo đảm việc tự do
đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng theo luật định khi người có giấy bạc yêu cầu. Tuy
nhiên, vận dụng nguyên tắc này, mỗi nước lại có sự co giãn về mức độ bảo đảm vàng
khác nhau, điều đó còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị của mỗi nước.
Nguyên tắc thứ hai là phát hành giấy bạc ngân hàng thông qua cơ chế tín
dụng, được bảo đảm bằng giá trị hàng hóa và dịch vụ. Theo cơ chế này, việc phát
hành giấy bạc không nhất thiết phải có vàng bảo đảm, mà phát hành thông qua cơ
chế tín dụng ngắn hạn, trên cơ sở có bảo đảm bằng giá trị hàng hóa, công tác dịch
vụ, thể hiện trên kỳ phiếu thương mại và các chứng từ nợ khác có khả năng hoán
chuyển thành tiền theo luật định. Đó là tín dụng của NHTW, được thực hiện bằng
phương thức tái cấp vốn đối với các ngân hàng thương mại (NHTM). Việc phát
hành giấy bạc ngân hàng theo nguyên tắc này, một mặt nó xuất phát từ nhu cầu tiền
tệ phát sinh do sự tăng trưởng kinh tế; mặt khác tạo ra khả năng để NHTW thực
hiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng theo yêu cầu CSTT.
Ngày nay, trong điều kiện lưu thông giấy bạc ngân hàng không được tự do
chuyển đổi ra vàng theo luật định, các nước trên thế giới đều chuyển sang chế độ
phát hành giấy bạc thông qua cơ chế tái cấp vốn cho các ngân hàng và hoạt động
các tổ chức tín dụng khác bằng nghiệp vụ chiết khấu hoặc tái chiết khấu. NHTW
còn là trung tâm thanh toán của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Với
trung tâm này, NHTW thực hiện các nghiệp vụ thanh toán như: thanh toán từng lần,
thanh toán bù trừ.
1.1.3.3. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của Nhà nước
Nói chung, NHTW là ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước, được thành lập
và hoạt động theo pháp luật. NHTW vừa thực hiện chức năng quản lý về mặt nhà
nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng; vừa thực hiện chức năng là ngân
hàng của Nhà nước. Ở đây, NHTW thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, NHTW là cơ quan quản lý về mặt nhà nước các hoạt động của của
8
hệ thống ngân hàng bằng pháp luật: xem xét, cấp và thu hồi giấy phép hoạt động
cho các NHTM và các tổ chức tín dụng; kiểm soát tín dụng thông qua cơ chế tái cấp
vốn và tỷ lệ dự trữ bắt buộc; quy định các thể chế nghiệp vụ, các hệ số an toàn trong
quá trình hoạt động cho các NHTM và các tổ chức tín dụng; thanh tra và kiểm soát
các hoạt động của toàn bộ hệ thống ngan hàng. Áp dụng các chế tài trong các
trường hợp vi phạm pháp luật, nhằmg bảo đảm cho cả hệ thống ngân hàng hoạt
động ổn dịnh, an toàn và có hiệu quả; quyết định đình chỉ hoạt động hoặc giải thể
đối với các NHTM và các tổ chức tín dụng trong các trường hợp vi phạm nghiêm
trọng pháp luật hoặc mất khả năng thanh toán.
Thứ hai, NHTW có trách nhiệm đối với kho bạc nhà nước: mở tài khoản,
nhận và trả tiền gửi của kho bạc nhà nước; tổ chức thanh toán cho kho bạc nhà nước
trong quan hệ thanh toán với các ngân hàng; làm đại lý cho kho bạc nhà nước trong
một số nghiệp cụ; bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại hối, các chứng từ có giá.
Thứ ba, NHTW thay mặt cho Nhà nước trong quan hệ với nước ngoài trên
lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng: ký kết các hiệp định về tiền tệ, tính dụng,
ngân hàng với nước ngoài; đại diện cho Nhà nước tại các tổ chức tài chính quốc tế
mà nước đó là thành viên như IMF, WB, ADB
1.1.4. Một số hoạt động cơ bản của Ngân hàng trung ương
Thứ nhất là hoạt động phát hành tiền hợp pháp phục vụ cho sự chi tiêu của
Mặc dù tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tỷ giá hối đoái song về bản
chất các quan điểm trên đều giống nhau. Tóm lại, tỷ giá hối đoái là hệ số quy đổi
của một đồng tiền nước này sang đồng tiền khác. Hay cách khác, tỷ giá hối đoái là
giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng khối lượng các đơn vị tiền tệ
nước ngoài.
1.2.2. Vai trò của tỷ giá hối đoái với hoạt động của Ngân hàng trung ương
Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa hai
đồng tiền. Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này
được biểu hiện bừang một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.
Sự biến đổi của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh
10
tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước
qua biến đổi của giá cả hàng hóa. Do vậy, tỷ giá hối đoái là một công cụ để NHTW
thực thi CSTT của mình. Tuy nhiên, khi vận dụng công cụ này, không phải là việc
NHTW đẩy tỷ giá lên cao hay kéo tỷ giá xuống thấp mà là ổn định tỷ giá ở một mức
độ nào đó được coi là hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của đất nước
trong từng giai đoạn, để tác động chung cuộc của nói đối với kinh tế là tốt nhất. Khi
vận hàng công cụ tỷ giá hối đoái, NHTW có thể ấn định tỷ giá cố định, hoặc thả nổi
tỷ giá theo quan hệ cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Giữa hai thái cực
tỷ giá thả nổi hoàn toàn và tỉ giá cố định còn có nhiều tỷ giá khác như tỷ giá cố định
nhưng di động khi cần thiết và tỷ giá thả nổi có quản lý.
Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn đều có những nhược điểm cơ bản.
Cụ thể, cung cầu ngoại hối biến đổi không ngừng, do vậy nếu NHTW ấn định một
mức tỷ giá cố định có nghĩa là NHTW đã vi phạm một trong những quy luật kinh tế
khách quan (quy luật cung – cầu). Còn nếu như thả nổi tỷ giá cho quan hệ cung –
cầu ngoại hối quyết định thì tình trạng thăng trầm của tỷ giá hối đoái là điều tất yếu
xảy ra và kéo theo nó là sự thăng trầm của nền kinh tế.
Tỷ giá cố định nhưng di động khi cần thiết là tỷ giá do NHTW ấn định
nhưng tùy theo tình hình, tỷ giá đó có thể được ấn định lại cho gần sát với tỷ giá
thực tế. Cách vận hành này chỉ có hiệu quả khi tình hình ngoại hối biến đổi chậm,
mất cân đối cung cầu dẫn tới tình trạng khan hiếm ngoại tệ phổ biến, gây khó khăn
cho các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu quốc tế
từ đó hạn chế sự phát triển thương mại quốc tế. Thứ ba, NHTW là cơ quan có chức
năng duy trì cố định tỷ giá nên chi phí can thiệp để ổn định tỷ giá là rất lớn, do đó
phải có quỹ dự trữ ngoại hối lớn.
1.2.3.2. Chế độ tỷ giá thả nổi
1.2.3.2.1. Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Đây là chế độ mà tỷ giá hoàn toàn được xác lập theo quan hệ cung cầu thị
trường, Chính phủ hoàn toàn không có bất kỳ tác động hoặc cam kết gì về việc điều
tiết tỷ giá. Giá của một đồng tiền nội tệ đối với một đồng tiền ngoại tệ được xác
12
định tại điểm mà cung ngang bằng cầu. Khi xuất khẩu tăng hoặc luồng vốn đầu tư
nước ngoài tăng sẽ làm cung ngoại tệ tăng, đồng ngoại tệ sẽ giảm giá và ngược lại.
Ưu điểm của chế độ này là đã tạo ra sự ổn định các thị trường tiền tệ, tạo ra
sự công bằng và một thị trường hiệu quả.
Tuy nhiên, với chế độ này thì tỷ giá hối đoái biến động do cung cầu thị
trường là rất lớn, tạo điều kiện cho giới đầu cơ làm mất giá đồng nội tệ, từ đó có thể
dẫn tới khủng hoảng tài chính.
1.2.3.2.2. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
Thực tế, chế độ tỷ giá này thường tồn tại dưới các dạng:
- Chế độ tỷ giá gắn vào đồng tiền dự trữ
Trong chế độ tỷ giá này, đồng tiền của một quốc gia được gắn chặt vào một
đồng ngoại tệ mạnh. Quốc gia thực hiện chế độ tỷ giá như vậy sẽ phải nắm giữ đồng
tiền nước ngoài làm đồng tiền dự trữ để bảo vệ giá trị đồng tiền nội tệ của mình. Kể
từ sau năm 1972, chế độ tỷ giá này được hầu hết các nước đang phát triển áp dụng.
Đô la Mỹ thường là đồng tiền được các nước dùng để gắn các đồng tiền của mình.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, vì các cuộc khủng hoảng tài chính thường
xuyên xảy ra và để giảm thiểu sự bất ổn do việc gắn chặt vào một đồng tiền, các nền
kinh tế đang chuyển đổi thực hiện chính sách gắn đồng tiền của mình vào một rổ
tiền tệ. Hệ thống quỹ dự trữ ngoại hối của các nước này được duy trì nhiều loại
thế giới. Tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng việc thúc đẩy quan hệ thương mại
quốc tế. Tùy vào kim ngạch thương mại, quốc gia có thể có cơ chế tỷ giá neo với
một đồng tiền mạng hoặc có thể gắn đồng nội tệ với một rổ ngoại tệ bao gồm tiền tệ
của các nước có quan hệ thương mại khăng khít với mình. Khi xem xét cơ chế tỷ
giá thì sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế cũng là một vấn đề cần
xem xét. Muốn nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, quốc gia đó không thể nâng
giá đồng nội tệ mà thay vào đó phải có chính sách phá giá nhẹ đồng nội tệ làm cho
14
Tỷ giá
giao dịch
thị trường
= Tỷ giá chính thức * (1 ± biên độ X%)
hàng hóa nước mình rẻ hơn một cách tương đối so với hàng hóa nước ngoài từ đó
kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
Thứ ba là mức độ độc lập của NHTW với Chính phủ. Chỉ khi NHTW có
mức độ độc lập thích hợp với Chính phủ, CSTT nói chung và chính sách tỷ giá nói
riêng mới hoạt động thực sự hiệu quả. Lúc này, tỷ giá mới không bị điều chỉnh để
chạy theo những chính sách kinh tế vĩ mô khác của Chính phủ, để giải quyết sự mất
cân bằng trong cán cân thanh toán hay sự khan hiếm ngoại tệ trên thị trường. Chỉ có
độc lập với Chính phủ, CSTT mới có thể được xây dựng cho mục tiêu trong dài hạn
của nền kinh tế và hoạt động có hiệu quả.
Thứ tư là mối quan hệ giữa các chính sách kinh tế khác. Chính sách tỷ giá là
một bộ phận của CSTT, chính vì thế chính sách tỷ giá không thể tách rời khỏi các
công cụ khác trong việc thực hiện mục tiêu của CSTT đề ra. Nằm trong mối tổng
hòa các công cụ của CSTT, chính sách tỷ giá phải có sự phối hợp chặt chẽ và đồng
bộ, nhất quán với các công cụ khác từ đó mới đi đến được một CSTT thống nhất,
hợp lý và hiệu quả.
1.2.5. Kinh nghiệm cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương
một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.5.1. Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở một số nước trên thế giới
hóa sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Giữa hai nền kinh tế có những nét tương đồng mặc dù thời điểm chuyển
đổi và mức độ chuyển đổi có thể khác nhau. Do đó, kinh nghiệm của Trung Quốc
trong việc hoạch định chính sách là những bài học quý giá cho Việt Nam, đặc biệt
là kinh nghiệm về điều hành chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong những năm
gần đây.
Trước năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định và đa tỷ
giá. Cơ chế này đã làm cho các doanh nghiệp mất đi quyền chủ động trong kinh
doanh, không gắn kết lợi ích kinh tế với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
làm cho các doanh nghiệp không chú ý đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh, tăng tính ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, chính điều này đã làm cho
Trung Quốc rơi vào suy thoái , khủng hoảng kinh tế sâu sắc.
Bảng 1.1: Diễn biến của tỷ giá hối đoái giữa đồng nhân dân tệ và đồng đô la
16
thời kỳ 1978 - 1990
Chỉ tiêu 1978 1980 1982 1984 1986 1988 1990
Tỷ giá cuối năm
NDT/USD
1,577 1,530 1,922 2,975 3,722 3,722 5,222
Tỷ giá trung bình năm
(NDT/USD)
1,683 1,498 1,892 2,320 3,453 3,722 4,783
Nguồn: NHNN Việt Nam
Trung Quốc đã nhận ra sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch, từ
năm 1979 đã thực hiện cải cách kinh tế, thực hiện chuyển đổi nền kinh tế. Chính
sách tỷ giá cũng được cải cách cho phù hợp với những chuyển đổi của nền kinh tế.
Ngay từ đầu những năm 80, Trung Quốc đã cho phép thực hiện cơ chế điều chỉnh tỷ
giá giảm dần để phản ảnh đúng sức mua của đồng NDT. Năm 1980, tỷ giá đồng
NDT so với USD là 1,53 NDT/USD, đến năm 1990 là 5,22 NDT/USD. Chính sách
tỷ giá này đã giúp Trung Quốc cải thiện được cán cân thương mại, giảm thâm hụt
liên ngân hàng, cải tiến và hoàn thiện quản lý thu chi và kết toán ngoại hối, xóa bỏ
kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với thu chi ngoại hối, kết hợp việc kiểm soát
chặt chẽ của NHTƯ đối với các hoạt động ngoại hối ở các NHTM bằng quy định số
lượng và địa chỉ các ngân hàng được phép chuyển đổi tiền tệ, công ty nước ngoài
phải có bảng cân đối ngoại tệ hàng năm, doanh nghiệp liên doanh phải có giấy phép
đổi ngoại tệ mạnh sang NDT, doanh nghiệp nhà nước phải nộp 100% ngoại tệ thu
được (trước đó là 50%).
Bảng 1.3: Tình hình kinh tế Trung Quốc những năm 1994 - 1997
Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997
Tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu (tỷ USD) 236,73 280,90 289,90 325,05
Tốc độ tăng trưởng của XN khẩu (% năm) 20,97 18,65 6,41 12,12
Cán cân tài khoản vốn (Triệu USD) 32645 38647 39966 22978
Lạm phát (% năm) 24,24 16,90 8,32 2,80
Tỷ giá hối đoái (trung bình NDT/USD) 8,6187 8,3514 8,3142 8,2898
Tốc độ tăng trưởng (% năm) 12,70 10,50 9,50 8,80
Nguồn: NHNN Việt Nam
Cho đến cuối năm 1997, khi dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên
139,89 tỷ USD, Trung Quốc mới nới lỏng chính sách kết hối ngoại tệ. Ngày
15/10/1997, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc ban hành Chỉ thị số 402 cho phép
một số doanh nghiệp (Công ty xuất nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất có giấy
phép kinh doanh xuất nhập khẩu) được giữ lại một phần ngoại tệ trên tài khoản với
mức tối đa không quá 15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm.
18
Từ năm 1994 đến năm 2002, các ngân hàng thương mại Trung Quốc không
được phép cho các doanh nghiệp trong nước vay ngoại tệ. Đến ngày 6/12/2002 Cục
Quản lý ngoại hối mới có văn bản (Chỉ thị số 125 về cải cách cơ chế cho vay ngoại
tệ trong nước) cho phép các ngân hàng thương mại cho các tổ chức kinh tế trong
nước vay ngoại tệ. Khi vay vốn ngoại tệ các tổ chức kinh tế phải làm thủ tục mở tài
khoản vay ngoại tệ tại các ngân hàng được ủy quyền. Các ngân hàng thương mại có
trách nhiệm đăng ký khoản cho vay với cơ quan quản lý ngoại hối. Năm 2002, dự
việc điều hành cơ chế tỷ giá, đảm bảo đáp ứng được đầy đủ nhu cầu ngoại tệ cho
nền kinh tế phát triển vững chắc.
1.2.5.1.3. Mêhicô
Đầu những năm 90, chính phủ Mêhicô rất coi trọng chính sách kiềm chế lạm
phát, khi xây dựng các các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, tỷ lệ lạm phát luôn được để ở mức
thấp. Tuy nhiên, trong khi thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, chính phủ không
chú ý hạn chế việc tăng lương. Do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc tăng lương
mạnh, làm cho lạm phát cao lên trên mức dự báo.
Chính phủ Mêhicô đặt nhiều kỳ vọng vào chính sách tỷ giá để thực hiện mục
tiêu kiềm chế lạm phát, chính phủ đã cho đồng Peso tăng giá tới 40%. Trong khi
tăng tỷ giá đồng peso, khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa giảm sút, cán cân
thanh toán xấu đi, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế. Năm 1993 kinh tế Mêhicô
bắt đầu đình trệ, dòng vốn tư bản từ nước ngoài liên tục tháo chạy.
Đến tháng 12 năm 1994, Mêhicô buộc phải công bố đồng Peso phá giá
15,3%. Tuy nhiên do việc điều chỉnh tỷ giá quá chậm, biên độ phá giá không lớn,
cho nên tác dụng của việc phá giá rất hạn chế, dòng vốn nước ngoài tháo chạy ồ ạt.
Trong những ngày cuối năm 1994, đồng Peso phá giá thêm 40%. Chỉ số giá cả tiêu
dùng tăng vọt, năm 1994 chỉ số CPI là 7%, đến năm 1995 tăng lên 35%. Từ năm
1994 đến năm 1996, tính theo số lũy kế, về mặt danh nghĩa đồng Peso mất giá tới
150%. Cuối cùng điều tồi tệ nhất đã tới, Mêhicô rơi vào cuộc khủng hoảng tiền tệ.
Sau khủng hoảng tiền tệ năm 1994, Ủy ban đối ngoại, bao gồm các quan
chức từ Bộ tài chính và Ngân hàng Mêxicô, chịu trách nhiệm cho chính sách ngoại
20
hối ở Mêxicô, đã xác định rằng tỷ giá sẽ được xác định bởi cung – cầu trên thị
trường ngoại hối, Mêxicô tiến tới thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi. Tuy nhiên,
Ngân hàng Mêxicô vẫn có quyền can thiệp trong trường hợp cần thiết nhằm đảm
bảo cho tỷ giá được ổn định tạo điều kiện ổn định lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
1.2.5.2. Bài học cho Việt Nam
Từ thực tế điều hành cơ chế tỷ giá của một số nước, có thể rút ra một số bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam khi điều hành cơ chế tỷ giá như sau:
đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài - một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hoá.
(4) Tính nhạy cảm và khả năng phản ứng của các nhà điều hành chính sách
luôn là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại của chính sách tỷ giá - một loại
chính sách kinh tế phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố dự kiến và rủi ro
trong quá trình biến động, đặc biệt là sự liên quan chặt chẽ của nó với những yếu tốt
rủi ro có tính chất chính trị. Vì vậy, kinh nghiệm vẫn luôn luôn chỉ là kinh nghiệm,
nó chỉ thực sự có giá trị khi những người phân tích và khai thác kinh nghiệm tìm
được lối đi riêng trong điều kiện cụ thể của mình.
(5) Kết hợp cơ chế tỷ giá với các chính sách kinh tế khác: cơ chế điều hành tỷ
giá là một bộ phận của chính sách tỷ giá, mà chính sách tỷ giá lại là một phần của
CSTT và nằm trong mối quan hệ của hệ thống các chính sách kinh tế. Vì vậy, chính
sách tỷ giá chỉ có thể đạt được những mục tiêu của mình khi quá trình điều hành được
đặt ra trong mối quan hệ của hệ thống các chính sách kinh tế, đặc biệt là CSTT.
Mục tiêu của chính sách tỷ giá và các chính sách kinh tế khác, trong đó phải
tính đến mục tiêu của CSTT, trong ngắn hạn thường có sự mâu thuẫn với nhau. Một
sự phối hợp chặt chẽ và linh hoạt trong điều hành các chính sách có thể đem lại hiệu
quả cao hơn cho chính sách tỷ giá giảm thiểu được những hậu quả rủi ro đối với nền
kinh tế mà nó có thể gây ra.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1. Bối cảnh nền kinh tế xã hội Việt Nam từ năm 2004 đến nay
Là một nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển, Việt Nam thuộc nhóm
22