Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở việt nam - Pdf 10

Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách
tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế
lạm phát ở Việt Nam Phạm Thị Phượng Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Tài chính - Ngân hàng; Mã số: 60 34 20
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Đức Thành
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Trình bày lý luận về việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách
tài khóa trong việc kiềm chế lạm phát. Thực trạng về hiệu quả phối hợp giữa chính
sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc kiềm chế lạm phát ở Việt Nam giai
đoạn 2006-2011: lạm phát và nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2006-
2011; thực trạng việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để
kiểm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006-2011. Giải pháp tăng cường hiệu quả
phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt
Nam.

Keywords. Tài chính ngân hàng; Quản trị kinh doanh; Chính sách tiền tệ; Chính
sách tài khóa; Kiềm chế lạm phát; Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô vô cùng
quan trọng của bất cứ quốc gia nào. Mỗi chính sách đều có mục tiêu riêng, nhưng chung quy

Phạm Đình Cường (2006) Tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ của Việt Nam nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội, Tạp chí Ngân hàng.
Lê Quang Cường (2008), Phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa chính sách tài khóa
và chính sách tiền tệ, Tạp chí Phát triển Kinh tế.
Lê Vinh Danh (2007), Chính sách tiền tệ và sự điều tiết vĩ mô của Ngân hàng Trung
ương ở các nước tư bản phát triển, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Nguyễn Đại Lai (2005), Hiệu quả phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách
tiền tệ, Hội đồng khoa học và công nghệ ngành Ngân hàng.
Lê Hùng (2009), Điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô,
Tạp chí Nghiên cứu kinh tế.
Tô Kim Ngọc (2006), Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam
thông qua mối quan hệ với chính sách quản lý nợ công, Thời báo Ngân hàng.
Nguyễn Thị Kim Thanh (2008), Hoàn thiện cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế, Luận án tiến sỹ, Đại
học Kinh tế quốc dân.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên vẫn còn chừng mực và chưa
có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về việc tăng cường hiệu quả phối hợp
giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là trả lời câu hỏi nghiên cứu chính như sau:
- Việc phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa hiện nay ở Việt Nam cần
được cải thiện như thế nào để nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát?
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu chính nêu trên, luận văn cần trả lời các câu hỏi phụ như
sau:
- Xét về cơ sở lý luận, bản chất của sự phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm
kiềm chế lạm phát là gì?
- Những đặc điểm làm giảm hiệu quả trong sự phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ
của Việt Nam nhằm kiềm chế lạm phát trong giai đoạn 2006-2011, và nguyên nhân của tình
trạng này là gì?

kết hợp phân tích các biến có tính định tính như:
- Cơ chế chính sách
- Hệ thống văn bản pháp quy
- Chia sẻ thông tin
- Tâm lý của công chúng….
Từ việc khảo sát, phân tích, đánh giá các biến số trên, luận văn sẽ đề xuất các giải
pháp để tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm
chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới.
Phương pháp thu thập số liệu:
Các thông tin và số liệu của các biến cần khảo sát được thu thập từ các nguồn văn
bản, các báo cáo tại các cơ quan, đơn vị có liên quan như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính,
Tổng cục thống kê, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, Ủy ban Chứng koán nhà nước…
Ngoài ra, để khảo sát các biến định tính, tác giả sẽ kết hợp điều tra bằng bảng câu hỏi
về tâm lý và phản ứng của công chúng về tình trạng lạm phát hiện nay.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Xem xét lại thực tiễn phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm
chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2011 từ cách tiếp cận kinh tế vĩ mô hiện đại
và các số liệu thực tiễn đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu.
Đề xuất các giải pháp liên quan đến thực thi chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa,
cũng như việc phối hợp giữa hai chính sách này nhằm kiềm chế tình trạng lạm phát tại Việt
Nam trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Lý luận về việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
trong việc kiềm chế lạm phát
Chương 2: Thực trạng về hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài
khóa trong việc kiềm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006-2011
Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính
sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam.

1.2.2. Các công cụ chính sách tài khóa
1.2.2.1. Thuế
1.2.2.2. Chi tiêu Chính phủ
1.3. Lạm phát
1.3.1. Lạm phát là gì?
Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế, là sự mất
giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền.
1.3.2. Các nguyên nhân dẫn đến lạm phát
1.3.2.1. Lạm phát do cầu kéo
1.3.2.2. Lạm phát do chi phí đẩy
1.3.2.3. Lạm phát do xuất khẩu
1.3.2.4. Lạm phát do nhập khẩu
1.3.2.5. Lạm phát tiền tệ
1.3.2.6. Lạm phát đẻ ra lạm phát
1.4. Cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để chống lạm
phát
1.4.1 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa với thuế và chi tiêu chính phủ làm tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp tới đầu tư và tiêu dùng hay tác động đến tổng cầu. Chính sách tiền tệ với các quyết định
về mức cung tiền và lãi suất, tác động trực tiếp tới thị trường tiền tệ và qua đó tác động trở lại
tới các thành phần của tổng cầu và làm tổng cầu thay đổi. Cả hai chính sách này đều tác động
đến quy mô của tổng cầu nhưng mỗi chính sách lại gây ra sự thay đổi khác nhau về các thành
phần của tổng cầu. Có thể nói việc vận dụng tốt cả hai chính sách có khả năng quản lý, kiểm
soát được sự thay đổi của tổng cầu và sản lượng từ đó có thể kiểm soát được sự tăng trưởng
của nền kinh tế và kiểm soát được lạm phát.
1.4.2. Bản chất của phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để
kiềm chế lạm phát
Chính sách tài khóa là các chính sách của Chính phủ nhằm tác động lên định hướng
phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu Chính phủ và thuế khóa.
Chính sách tài khóa khác với những chính sách kinh tế cơ bản khác. Hai công cụ chính của

Cán cân thanh toán tổng thể được cải thiện đáng kể.
Thực hiện nâng cao hiệu quả đầu tư công, các cấp, các ngành đã đồng loạt các giải
pháp cấp bách cần đẩy nhanh tiến độ. Nhờ vậy, số dự án hoàn thành đã tăng thêm 1.053 dự
án.
1.4.3.2. Những xung đột có thể xảy ra
Thứ nhất, chính sách tiền tệ phải theo đuổi nhiều mục tiêu và chưa có sự độc lập
tương đối.
Thứ hai, phối hợp chính sách trong việc kiểm soát lãi suất, ổn định thị trường tiền tệ
còn nhiều hạn chế và tồn tại.
Thứ ba, phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc cung cấp thông tin
phục vụ cho công tác dự báo mức lạm phát còn nhiều bất cập.
Thứ tư, mặc dù sự phối hợp chính sách đã được thực hiện ở một số khía cạnh nhưng
mới dừng lại ở hình thức, thiếu hiệu quả.
Thứ năm, chưa có sự phối hợp trong việc hoạch định mục tiêu chính sách ở tầm dài hạn và trong
ngắn hạn. Việc định lượng các mục tiêu về lạm phát và tăng trưởng thường dựa vào mức đã đạt được năm
trước mà ít có sự dự báo những biến động…

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2006-2011
2.1. Lạm phát và nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2006-2011
2.1.1. Tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2006-2011
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã phát triển lên một tầm cao mới. Nhưng cùng với sự
phát triển ấy là hiện tượng lạm phát cao và kéo dài, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức trung bình.
Lạm phát của Việt Nam hội tụ đủ các nguyên nhân: Lạm phát vừa do cầu kéo, vừa do chi phí đẩy và vừa do
lạm phát kỳ vọng; vừa có nguyên nhân từ yếu tố tiền tệ, vừa có nguyên nhân từ yếu tố phi tiền tệ. Đặc biệt,
nhiều nguyên nhân được tích lũy từ nhiều năm qua như: mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu
tư, nhưng đầu tư lại kém hiệu quả, nhất là đầu tư công; giá cả của nhiều mặt hàng như điện, xăng,… được
điều chỉnh tăng; nới lỏng chính sách tiền tệ của những năm trước…

32,0
41,2
20,3
27,5
29,8
10,0
Tăng trưởng tín dụng
26
53,9
25,4
39,6
32,4
5,59
Đi đôi với việc gia tăng lạm phát là tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 đến nay thấp hơn khá
nhiều so với mức bình quân 7,38%/năm giai đoạn 2000-2005 và có xu hướng giảm dần: từ mức bình quân
8,34%/năm giai đoạn 2006-2007 xuống mư
́
c 6,14%/năm giai đoạn 2008-2010 và đạt 5,,57% năm 2011.
2.1.2. Các nguyên nhân lạm phát của Việt Nam
2.1.2.1. Về phía chủ trương và chính sách của nhà nước phát triển kinh tế ở mức độ
cao bằng mọi giá (cầu kéo)
2.1.2.2. Vấn đề thâm hụt ngân sách của Chính phủ và đầu tư công không hiệu quả
(cầu kéo kết hợp chi phí đẩy)
2.1.2.3. Việc gia tăng tín dụng quá cao (lạm phát tiền tệ)
2.1.2.4. Chính sách lãi suất bất hợp lý
2.1.2.5. Năng suất của kinh tế Việt Nam thấp, hệ quả của một nền kinh tế xây dựng
trên một khu vực nhà nước với các doanh nghiệp nhà nhà nước làm ăn thường là thua lỗ mặc
dù được đầu tư rất nhiều
2.1.2.6. Chi phí gia tăng trong nhiều thời vừa qua (giá xăng, dầu, điện)
2.1.2.7. Việc phá giá đồng bạc Việt Nam, bất ổn trong cán cân thanh toán cũng làm

2010 thì việc luân chuyển tiền và qui chế mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước qua hệ thống
ngân hàng còn mang nặng tính chia cắt và tuỳ tiện.
Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến nay vẫn chưa thành lập được trung tâm
thanh toán quốc gia nên Kho bạc Nhà nước vẫn phải xây "kho" chứa tiền theo đúng cả nghĩa
đen lẫn nghĩa bóng của từ này. Với qui mô luân chuyển và sử dụng khối lượng tiền lớn như
vậy, nếu không đi qua một trung tâm thanh toán thống nhất "một cửa" của hệ thống thanh
toán quốc gia do Ngân hàng Trung ương quản lý thì tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro không
đáng có và gây ảnh hưởng rất lớn đến việc điều hành chính sách tiền tệ và kiềm chế lạm phát
của Ngân hàng Trung ương.
2.2.1.3. Chia sẻ thông tin
Chính sách tài khóa không những thiếu vắng thông tin mà còn thiếu cả sự phối hợp
với chính sách tiền tệ trong tất cả các lĩnh vực đặc biệt là trong việc kiềm chế lạm phát.
Các thông tin, báo cáo về các vấn đề tài chính công, đặc biệt chi tiêu và đầu tư công
lệch pha về thời gian với yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ; chưa thiết lập được cơ chế
thông tin một cách thường xuyên về các dòng vốn của thu - chi Ngân sách Nhà nước và các
định chế tài chính do Bộ Tài chính quản lý nên chưa thống kê và kiểm soát được một tỷ lệ
đáng kể phương tiện thanh toán trong nền kinh tế do đó khó xác định mục tiêu dài hạn như dự
báo mức lạm phát…
Sự thiếu trao đổi thông tin hữu hiệu và các diễn biến khu vực ngân sách trong ngắn
hạn giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước làm giảm hiệu quả điều hành chính sách tiền
tệ trong ngắn hạn.
2.2.1.3. Tâm lý công chúng
Trên thế giới, lạm phát luôn có yếu tố tiền tệ, song ở Việt Nam yếu tố lạm phát tâm lý
- lạm phát phi tiền tệ - lại khá mạnh.
Tính thiếu nhất quán của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đã phần nào tác
động tiêu cực đến tâm lý của người dân về lạm phát. Từ đó làm giảm hiệu quả của các giải
pháp kiềm chế lạm phát.
2.2.2. Những đặc điểm làm giảm hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa để kiểm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006-2011 qua phân tích
các biến số kinh tế

sách Nhà nước. Những khiếm khuyết nói trên diễn ra trong nhiều năm thực sự là tác nhân
trực tiếp tạo mầm móng và cơ hội lạm phát khi nó cùng “cộng hưởng” với những yếu tố khác
gây sức ép nặng nề cho chính sách tiền tệ khi thực thi nhiệm vụ kiềm chế lạm phát.
2.2.2.4. Trái phiếu Chính phủ (gồm trái phiếu đã phát hành và trái phiếu được tái
chiết khấu từ hệ thống Ngân hàng thương mại)
Với yêu cầu huy động trong nước để tài trợ cho ngân sách cao như vậy rõ ràng là một
trở ngại lớn giảm lãi suất trên thị trường tiền tệ, khi ngân sách trực tiếp tham gia cạnh tranh
huy động vốn với các Ngân hàng thương mại, tạo áp lực tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ và
đi ngược lại với các cố gắng giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước điều và tất nhiên điều
này làm gia tăng áp lực lạm phát cho nền kinh tế.
2.2.2.5. Lãi suất (gồm lãi suất tín dụng và lãi suất tái chiết khấu)
Chưa có sự nhất quán giữa việc xác định lãi suất trái phiếu Chính phủ với chính sách
lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Đây là một biểu hiện của sự chưa ăn khớp giữa vận hành
của chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ trong thời gian qua.
2.2.2.6. Ngoại tệ
Trong lúc nước sôi lửa bỏng trên thị trường ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước muốn hạn
chế mua vào USD để cầu USD bớt nóng thì Bộ Tài chính muốn “tiếp tục duy trì việc mua
ngoại tệ của nhà đầu tư nước ngoài”; một bên muốn giữ giá tiền đồng thì theo bên kia cho
rằng nên “cho phép đồng Việt Nam lên giá ở mức cần thiết”. Sự không thống nhất này giữa
Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đã làm cho việc điều hành tỷ giá hối đoái một thời gian
lâm vào khủng hoảng và đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc kiểm soát lạm phát thời gian qua.
2.2.2.7. Cán cân thanh toán (vấn đề xuất, nhập khẩu và các dòng vốn gián tiếp vào
Việt Nam)
Khi Ngân hàng Nhà nước liên tiếp tung ra những biện pháp, điều chỉnh cán cân thanh
toán, kiềm chế lạm phát mạnh để hút tiền về như: quản lý chặt thị trường ngoại tệ (như phân
tích ở trên), thị trường vàng, thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán (và đã có
những phản hồi tích cực từ các thị trường này) thì Bộ Tài chính gấp rút kiến nghị Chính phủ
các biện pháp trái ngược như đề xuất “tiếp tục triển khai cho vay kinh doanh chứng khoán,
tránh thắt chặt hơn kênh dẫn vốn này” Không những thế, Kho bạc Nhà nước thuộc Bộ Tài
chinh cũng là một kho chứa tiền theo đúng nghĩa đen với cả nội tệ và ngoại tệ làm chi Ngân

3.2.1.2. Hệ thống văn bản pháp quy chặt chẽ quy định cụ thể về cơ chế phối hợp giữa
Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính
3.2.1.3. Xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính
trong việc hoạch định và thực thi chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
3.2.2. Các giải pháp cụ thể điều chỉnh các biến số kinh tế
3.2.2.1. Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính tiền tệ và chính sách tài khóa để
hạn chế mức thâm hụt ngân sách và chi tiêu công có hiệu quả
Cần tăng cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để thực
hiện huy động nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách, cũng như việc huy động trái phiếu Chính
phủ, lập dự toán Ngân sách Nhà nước, xác định qui mô thâm hụt, nhu cầu tài trợ và nguồn
vốn vay trong nước và cân nhắc cẩn trọng các khoản vay nước ngoài
Đồng thời, cần tiếp tục sự phối hợp để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính - ngân sách
- tiền tệ để đảm bảo phù hợp với các thông lệ quốc tế, phục vụ quá trình hội nhập trong thời
gian tới, đặc biệt là cơ chế kiểm tra, giám sát, cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt.
3.2.2.2. Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính tiền tệ và chính sách tài khóa để ổn
định cán cân thanh toán và ổn định tỷ giá hối đoái
Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần phối hợp chặt chẽ hơn trong việc xây dựng
và thực thi chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hàng năm trên cơ sở mục tiêu về lạm
phát, GDP và dự báo cán cân thanh toán, từng bước triệt để chống Đô la hoá và cả chống
“vàng hóa
Phối hợp để cải thiện cán cân ngoại thương thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu.
3.2.2.3. Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính tiền tệ và chính sách tài khóa để
quản lý trái phiếu Chính phủ và hoạt động tái chiết khấu trái phiếu Chính phủ
Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, nên
nhất quán giữ lãi suất tái chiết khấu cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ một mức phù hợp
với thực tế thị trường. Đồng thời, lãi suất trái phiếu Chính phủ nên tuân theo các tín hiệu của
thị trường vốn nói chung.
Lãi suất phát hành trái phiếu cần được nghiên cứu, tính toán với mặt bằng lãi suất huy
động chung của hệ thống Ngân hàng thương mại, hạn chế các Ngân hàng thương mại sử dụng
vốn huy động để mua trái phiếu Chính phủ và cần tăng cường phối hợp giữa chính sách tiền

bạch
3.3.2.2. Về trung và dài hạn
Cần xem xét các giải pháp kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng
từ chính sách tài khóa trong trung và dài hạn; Nâng cao hiệu quả và chất lượng của đầu tư và
chi tiêu công; xây dựng các thể chế quản lý chi tiêu công trong từng thời kỳ cho phù hợp với
mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước; khuyến khích phát triển khu vực tư nhân; xác lập kỷ
luật tài khóa tổng thể và chính xác.

KẾT LUẬN
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hợp thành hệ thống chính sách quan trọng
trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, các công cụ của hai chính sách này vừa có tính độc lập,
nhưng vừa có tính tương tác, hỗ trợ nhau trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Sự phối hợp
tốt, nhịp nhàng hoạt động của hai chính sách này sẽ giúp Chính phủ điều hành đạt được hai
mục tiêu quan trọng của kinh tế vĩ mô là tăng trưởng và kiểm soát lạm phát; nhưng ngược lại,
sự phối hợp không nhịp nhàng, không gắn kết sẽ làm giảm hiệu quả điều hành chính sách và
thậm chí có thể làm trầm trọng, làm cho kinh tế vĩ mô bất ổn. Vì vậy, tìm ra cơ chế phối hợp
giữa hai chính sách này luôn được chính phủ, các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Bài
viết này đề cập tới một số vấn đề phối hợp giữa hai chính sách trong kiểm soát lạm phát ở
Việt Nam trong thời gian qua và đưa ra một số đề xuất nhằm tăng cường phối hợp chặt chẽ
hơn nữa trong thời gian tới
Trên cơ sở những bất cập trong việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài
khóa để kiềm chế lạm phát tại Việt Nam trong thời gian qua, tác giả đã đưa ra một số kiến
nghị, đề xuất với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính như trên. Tuy nhiên, với
kiến thức bản thân và việc trình bày còn hạn chế, rất mong được sự đóng góp và cảm thông từ
thầy cô và độc giả.

References

1. Phạm Thế Anh (2008), Chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế: khảo sát lý luận
tổng quan, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tạp chí kinh tế - xã hội (Số 11, Trang 7).
17. Đào Minh Tú (2011), “Nhìn nhận khách quan và thấu đáo về vấn đề lạm phát ở
Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng (Số 53, Trang 9).
18. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo thường niên năm 2006.
19. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo thường niên năm 2007.
20. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo thường niên năm 2008.
21. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo thường niên năm 2009.
22. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo thường niên năm 20010.
23. Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa học ngành Ngân hàng (2006), NXB Văn
hóa thông tin.
24. Kỷ yếu hội thảo khoa học ngành Ngân hàng năm (2006), NXB Văn hóa thông tin.
25. Website:
Http://www.vnep.org.vn
Http://www.thesaigontimes.vn
Http://www.workbank.org
Http://www.baodautu.vn
Http://www.vnexpress.net
Http://www.vnn.vn
Http://www.vepr.org.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status