Mở đầu
Sau khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, kinh tế Việt Nam đã bước sang
một trang sử mới với sự phát triển vượt bậc về mọi mặt. Việt Nam đã được đánh
giá là một “con hổ” của nền kinh tế Châu Á. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải đối
mặt với rất nhiều vấn đề nan giải như: lạm phát, mất giá đồng nội tệ, nhập siêu cao
Đặc biệt trong thời gian gần đây, việc tỷ giá hối đoái giữa VND và USD tăng cao
đã có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam theo cả hai mặt tốt và
xấu.
Tỷ giá hối đoái xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của thương
mại quốc tế, nó được giải thích bởi một hiện tượng đơn giản là hàng hoá không có
biên giới quốc gia trong khi tiền chỉ được chấp nhận trên lãnh thổ quốc gia phát
hành ra nó. Tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ, nó là mục
tiêu của chính sách tiền tệ mà mọi quốc gia đều hướng tới. Đồng tiền ổn định và tỷ
giá hối đoái hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc duy trì, mở rộng và phát triển các mối
quan hệ kinh tế trong nước và quốc tê, giúp cho nền kinh tế trong nước có điều
kiện hội nhập khu vực và thế giới ngày càng mạnh mẽ hơn.
George Soros - tác giả của cuốn sách Giả kim thuật Tài chính - cho rằng mối quan
hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát không phải là quan hệ một chiều mà là quan hệ
vòng, chúng tác động qua lại lẫn nhau, không thể coi cái này là nguyên nhân và cái
kia là kết quả. Ông gọi một quan hệ vòng tự tăng cường lẫn nhau như vậy là một
vòng ác luẩn quẩn khi đồng nội tệ mất giá, lạm phát gia tăng và là vòng thiện khi
xảy ra điều ngược lại.
Cho đến nay, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát, tác động của tỷ giá hối
đoái tới lạm phát và ngược lại, tăng tỷ giá có cứu được lạm phát là những vấn đề
lớn đang được nhiều nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu. Một số chuyên gia tiền
tệ đồng ý với quan điểm cũ của các học giả phương Tây về mối quan hệ giữa tỷ giá
và lạm phát. Các nhà nghiên cứu cho rằng: khi mức độ phá giá của tiền tệ lớn hơn
sự mất giá của hàng hóa, lạm phát sẽ gia tăng. Khi mức độ mất giá của tiền tệ thấp
hơn sự mất giá của hàng hóa, lạm phát sẽ được hạn chế. Bởi vậy khi lạm phát trầm
trọng, tăng tỷ giá có thể hạn chế được lạm phát.
PHẦN I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI
tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá và sự cạnh tranh hàng hoá giữa các nướcvới
nhau trên thị trường quốc tế.
+ Khi đồng tiền của một nước tăng giá, hàng hoá của nước đó tại nước ngoài
đắt hơn và hàng hoá nước ngoài tại nước đó rẻ hơn. Điều này dẫn đến những nhà
sản xuất trong nước đó gặp khó khăn hơn trong việc bán hàng của họ ở nước ngoài.
+ Khi đồng tiền rẻ của mỗi nước sụt giá thì hàng hoá của nước đó tại nước
ngoài rẻ hơn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó đắt hơn.
→ Những nhà sản xuất trong nước có ưu thế cạnh tranh trong việc bán hàng ở thị
trường nước ngoài, đồng thời hạn chế nhập khẩu.
2.1.4. Cơ sở xác định tỉ giá hối đoái:
* Trong lưu thông tiền đúc bằng kim loại: tỷ giá được hình thành dựa trên trọng
lượng kim loại của các đồng tiền được so sánh với nhau.
* Trong chế độ tiền giấy được tự do chuyển đổi ra vàng: Tỉ giá được hình thành
dựa trên trọng lượng vàng theo luật định của các đồng tiền được so sánh với nhau.
Ví dụ: Trước năm 1970, nội dung vàng của một đồng bảng Anh (GBP) là
2.4888281 gram vàng nguyên chất, 1USD là 0.888671 gram vàng nguyên chất.
Như vậy 1GBP = 2.8 USD (2.488281: 0.888671).
* Ngày nay, khi giấy bạc ngân hàng của các nước không được tự do chuyển đổi
ra vàng: tỉ giá được hình thành dựa trên sức mua của các đồng tiền, hay còn gọi là
ngang giá sức mua.
2.1.5 Phân loại tỷ giá.
Tùy vào mục đích sử dụng, tỉ giá được phân chia theo các tiêu thức khác nhau.
1.5.1 Căn cứ vào phương tiện chuyển hối
* Tỉ giá điện hối: Là tỉ giá mua bán ngoại tệ, cũng như các giấy tờ có giá bằng
ngoại tệ được chuyển bằng điện.
* Tỉ giá thư hối: Là tỉ giá mua bán ngoại tệ, cũng như các giấy tờ có giá bằng
ngoại tệ được chuyển bằng thư.
2.1.5.2 Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại tệ
* Tỉ giá mở cửa: Là tỉ giá áp dụng cho việc mua bán món ngoại tệ đầu tiên trong
ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái.
Ngân hàng Trung ương.
→ Chế độ tỷ giá này giúp cho chính sách tiền tệ quốc gia được độc lập.
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết: Là chế độ tỉ giá mà Ngân hàng Trung ương tiến
hành can thiệp trên thị trường ngoại hối nhằm ảnh hưởng đến tỉ giá nhưng không
cam kết duy trì một tỉ giá cố định hay biên độ dao động nào xung quanh tỷ giá
trung tâm.
2.2. Lạm phát.
Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho
chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt. Lạm phát
có những đặc trưng là:
- Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng
tiền bị mất giá;
- Mức giá cả chung tăng lên.
2.2.1. Phân loại lạm phát
Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát là sự tăng lên của giá cả hàng hóa, nên các
nhà kinh tế thường dựa vào tỷ lệ tăng giá để làm căn cứ phân loại lạm phát ra thành
3 mức độ khác nhau:
- Lạm phát vừa phải:
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ 1 con số hàng
năm ( dưới 10% một năm ). Lạm phát vừa phải còn gọi là lạm phát nước kiệu hay
lạm phát một con số. Loại lạm phát này thường được các nước duy trì như một
chất xúc tác để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Lạm phát cao:
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ hai con số hàng năm
( từ 10%-100% một năm). Lạm phát cao còn đươc gọi là lạm phát phi mã. Thật ra,
cũng có một số nhà kinh tế quan điểm cho rằng thuộc loại lạm phát phi mã bao
gồm cả lạm phát ở mức độ ba con số ( như 100%, 200% ). Lạm phát phi mã gây
ra nhiều tác hại đến sự phát triển kinh tế-xã hội.
- Siêu lạm phát:
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ ba con số hàng năm
giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong
khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng
lên, dẫn đến lạm phát.
- Lạm phát do xuất khẩu:
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ
lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu
khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước)
khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân
bằng sẽ nảy sinh lạm phát.
- Lạm phát do nhập khẩu:
Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế
giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung
bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.
- Lạm phát tiền tệ:
Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương
mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay
do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng
tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.
2.3.Mối quan hệ giữa tỷ giá với lạm phát
Khi mức độ phá giá của tiền tệ lớn hơn sự mất giá của hàng hóa, lạm phát sẽ
gia tăng. Khi mức độ mất giá của tiền tệ thấp hơn sự mất giá của hàng hóa, lạm
phát sẽ được hạn chế. Bởi vậy khi lạm phát trầm trọng, tăng tỷ giá có thể hạn chế
được lạm phát.” Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát không phải là quan hệ
một chiều mà là quan hệ vòng, tác động qua lại lẫn nhau, không thể coi cái này là
nguyên nhân và cái kia là kết quả”.
Ví dụ mức tỷ giá hối đoái năm 2010
1USD=19800VND
Đến năm 2013 là 1USD=21000VND,thì tất cả các sản phẩm nhập khẩu tính thành
tiền Việt Nam đều tăng giá, trong đó có nguyên vật liệu, máy móc cho sản xuất.
Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế không thay đổi , thì điều này tất yếu sẽ làm
cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền
mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu
ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong trường hợp các quốc gia đều có
lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa
các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ
mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng.
PHẦN II.THỰC TRẠNG LẠM PHÁT ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2013
1. Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
Tình hình lạm phát ở Việt Nam đang dần đi vào ổn định. Chỉ số giá tiêu
dùng CPI trong tháng 9 đã giảm xuống chỉ còn 0,18% - mức thấp nhất kể tử đầu
năm. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang ở trong tình trạng lạm phát phi mã. Vì vậy,kiểm
soát lạm phát hiện nay vẫn là một trong những mục tiêu được ưu tiên hàng đầu của
Chính phủ. Trong thời gian qua, Chính phủ cũng đã sử dụng chính sách tỷ giá hối
đoái như 1 công cụ đề kiềm chế lạm phát. Mặc dù vậy, cũng phải nhận thấy rằng
việc điều chỉnh tỷ giá trong còn có lúc chậm, bị động và chưa đủ mức. Trong điều
kiện nền kinh tế mới mở cửa từng phần, những hạn chế này phần nào đã không
được bộc lộ và chưa gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nhưng nếu tiếp tục để
xảy ra như vậy trong tương lai, khi Việt Nam đã mở cửa và hội nhập mạnh hơn thì
hậu quả của một chính sách tỷ giá kém linh hoạt sẽ có nguy cơ lấn át những tác
động tích cực mà một chính sách tỷ giá cố định tương đối tạo ra. Dưới góc nhìn
của các chuyên gia kinh tế, Việt Nam cần kiềm chế lạm phát bằng cách tăng cường
hơn nữa các biện pháp trong chính sách tỷ giá hối đoái.
Tăng cường linh họat tỷ giá hối đoái. Hiện tại, biên độ dao động tỷ giá mới ở Việt
Nam chỉ là ±2% . Theo ý kiến của các chuyên gia, mức biên độ này vẫn còn tương
đối hẹp và chưa thật sự hiệu quả. Với tình hình ở lạm phát cao Việt Nam hiện nay,
NHTW nên nới rộng biên độ dao động của VNĐ, chiều rộng khung này có thể ở
mức 10%. Tuy nhiên, do tình hình lạm phát tăng cao nên biện pháp này chủ yếu
nhằm mục đích nâng giá VNĐ trong ngắn hạn. Giảm việc phát hành VNĐ làm cho
cơ chế thị trường tác động nhiều hơn nữa vào tỷ giá. Giảm sức ép lên lạm phát
soát lạm phát.Những nhà đầu tư nước ngoài đang giữ vốn bằng VND lên giá sẽ
không có ý định rút vốn ra khỏi VN. Bên cạnh đó, trong điều kiện nền kinh tế VN
chưa hấp thu hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài, nếu VND lên giá sẽ có thể
giảm lượng ngoại tệ chảy vào VN. Nó có tác dụng chọn lọc những nguồn đầu tư
lâu dài thực sự có hiệu quả cao, hạn chế được những nguồn ngắn hạn mang tính
đầu cơ rủi ro lớn. Tất nhiên về dài hạn, VN sẽ có chính sách phù hợp để có thể thu
hút vốn nước ngoài khi kinh tế vĩ mô ổn định mà điều kiện cần là lạm phát trong
tầm kiểm soát. Linh hoạt tỷ giá để VNĐ tăng giúp giải quyết cả 2 nguyên nhân gây
lạm phát là chi phí sản xuất tăng và lượng cung tiền lớn. Nó vừa có tác dụng ngắn
hạn vừa có tác động dài hạn do vậy chính là sự lựa chọn đúng đắn và cần thiết cho
Việt Nam trong việc chống lạm phát hiện nay.
2. Thực trạng lạm phát ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong các giai
đoạn.
2.1. Giai đoạn 2008-2010.
Năm 2008 được giới phân tích tài chính coi là "năm bất ổn của tỷ giá" với
những biến động tỷ giá rất phức tạp với những ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô,
cung cầu ngoại tệ và thậm chí cả tin đồn. Chỉ trong năm 2008, biên độ tỷ giá đã
được điều chỉnh 5 lần, một mật độ chưa từng có trong lịch sử. Tỷ giá liên tục tăng
giảm,cụ thể ở từng giai đoạn sau:
Giai đoạn từ tháng 01/01-25/03/2008: Trong khoảng thời gian này, Chính phủ
và NHNN đang đẩy mạnh việc kiềm chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt
chặt, tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng
2/2008). NHNN không thực hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền
ra lưu thông, tăng biên độ tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày
10/03/2008.Tỷ giá liên tục giảm,dưới mức sàn.
Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm (từ mức
16.112 đồng xuống 15.960 đồng. mức thấp nhất là 15.560 đồng/USD). Trên thị
trường tự do, USD dao động từ mức 15.700 – 16.000 đồng/USD
Giai đoạn 2 (từ 26/03 – 16/07/2008): Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt
USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.Trong giai đoạn này, tỷ
đầu năm thì dường như yếu tố chính khiến cho tỷ giá USD/VNĐ tăng mạnh lại là
do sự găm giữ ngoại tệ.
Một mặt lạm phát ảnh hưởng đến cuộc sống của bộ phận dân cư nói chung
và nền kinh tế nói riêng khiến các doanh nghiệp phải ngừng sản xuất – thậm chí bị
phá sản ra khỏi thị trường, lao động thì sa thải hàng loạt, các công ty – doanh
nghiệp đành phải rút bớt khoản chi phí đó là chi phí nhân công và các khoản chi
phí khác để làm sao cho doanh nghiệp không bị nợ nần năm 2009. Đặc biệt, mối
quan hệ kinh tế quốc tế - trao đổi hàng hóa với nhau cũng ảnh hưởng không kém,
trong đó lạm phát tác động mạnh đến các đồng tiền mạnh trên thế giới, đây chính
là mối lo ngại nhất trên nền kinh tế, một đồng tiền được coi nhẹ so với các đồng
tiền khác thì chứng tỏ giao thương kinh tế với nhau rất khó khăn và sản xuất cũng
trở nên kém hiệu quả hơn. Vì vậy làm phát đã làm cho đồng tiền của chúng ta
(VND/USD) thấp cho với đồng USD chúng ta đành phải phá giá đồng tiền của
mình để tăng sản xuất trong năm 2009, chúng ta hai lần bị phá giá đồng tiền của
chính mình, ngân hàng nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá bình quân trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng áp dụng cho ngày 25/12/2008 lên mức 16.989đ/USD và
hiện nay 17/04/2009 là 18.544đ/USD nhằm tạo mặt bằng tỷ giá mới sẽ góp phần
hỗ trợ xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu và đảm bảo sự bền vững của cán cân thanh
toán quốc tế, đồng thờ hạn chế tâm lý kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng cao, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp xây dựng phương án sản xuất kinh doanh ổn định. NHNN sẽ áp dụng
các biện pháp cần thiết để giữ ổn định mức tỷ giá này. Từ ngày 07/11/2008, biên
độ tỷ giá giao dịch USD/VND được mở rộng từ mức 2% lên 3% so với tỷ giá bình
quân liên ngân hàng do NHNN Việt Nam công bố (quyết định 2635/QĐ-NHNN
ngày 06/11/2008).
Trong bối cảnh kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới,
mức dộ tự do hóa các giao dịch vốn tương đối cao, biến động của các luồng vốn
đầu tư, đặc biệt là luồng vốn gián tiếp đã ảnh hưởng mạnh tới cung cầu ngoại tệ và
tỷ giá. Trong năm 2009, luồng vốn đầu tư gián tiếp đã liên tục biến động, khiến
cho cung cầu ngoại tệ mất cân đối. Luồng vốn này gia tăng đáng kể trong 3 thàng
đầu năm, gây áp lực tăng giá VND, sau đó có dấu hiệu đảo chiều làm tăng cầu
gia đều có tăng trưởng GDP dương trong năm nay. Cùng với kỳ vọng hồi phục của
nền kinh tế thế giới, giá hàng hóa tiếp tục gia tăng. Do Việt Nam phải nhập khẩu
nhiều loại nguyên vật liệu, phụ liệu cho sản xuất nên việc giá cả hàng hóa thế giới
tăng đã góp phần gia tăng chi phí đẩy.
Sự tắc nghẽn dòng vốn hiện nay cũng là nguyên nhân quan trọng làm gia tăng lạm
phát. Để tăng hiệu quả hoạt động, ngân hàng (khi không thể giảm được lãi suất đầu
vào) phải tìm cách tăng lãi suất đầu ra thông qua nhiều hình thức như thu thêm phí,
lệ phí…Nguy hiểm hơn, ngân hàng buộc phải chấp nhận cấp tín dụng cho các
khoản vay có rủi ro cao (cùng với kỳ vọng sẽ có lợi nhuận cao) như bất động sản,
chứng khoán. Nguồn vốn - vốn đã ít - lại không đi vào hoạt động sản xuất kinh
doanh mà chuyển vào kênh đầu cơ không sinh ra giá trị gia tăng cho xã hội. Sự
lãng phí nguồn vốn này khiến cho chi phí đầu vào của doanh nghiệp bị đội cao,
gây đình đốn sản xuất.
Để có thể tính toán được mức tỷ giá hợp lý cần phải có thông tin về tình
hình cung cầu (VND/USD) thực tế và dự đoán chính xác về diễn biến cung - cầu
trong tương lai. Do còn tồn tại đồng thời 3 thị trường tỷ giá: tỷ giá chính thức do
NHNN công bố, tỷ giá liên ngân hàng do các ngân hàng tự giao dịch với nhau; và
tỷ giá chợ đen, nên việc xác định tổng cung - tổng cầu tại mỗi thời điểm là không
thể thực hiện được. Dự đoán cung cầu trong tương lai cũng không thực hiện được
do Việt Nam chưa có thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai, cả về hàng hóa
lẫn tiền tệ. Ngoài ra, do đồng VND chưa tự do chuyển đổi nên các hợp đồng kỳ
hạn tiền gửi không giao dịch (NDF - non deliverable forward) hầu như không thể
dùng để dự đoán tỷ giá trong tương lai. Mặc dù vậy, có thể xác định sơ bộ tỷ giá
hối đoái thông qua chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và một quốc gia chuẩn, do
về thực chất tỷ giá hối đoái thể hiện tương quan sức mua giữa hai đồng tiền. Tuy
nhiên, tỷ giá hối đoái ở Việt Nam không được thả nổi theo tín hiệu thị trường mà
được điều chỉnh linh hoạt theo “định hướng” của NHNN. Vì vậy, NHNN có thể
can thiệp thị trường dựa trên kho dự trữ ngoại hối của mình - độ lớn của kho này
lại là một con số không được công bố. Do vậy, không thể định lượng tỷ giá hối
đoái, nhưng có thể định tính rằng đồng VND sẽ còn được điều chỉnh giảm do các
Bất ổn tỷ giá cũng là vấn đề nhức nhối mà cơ quan quản lý phải đối mặt.
Tình trạng tỷ giá USD/VND giao dịch trên thị trường tự do luôn lớn hơn tỷ giá
niêm yết khoảng 8% đã kéo dài trong khoảng 4 tháng trước đó.
Ngày 11/2/2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành văn bản số 74/TB-
NHNN, nâng tỷ giá liên ngân hàng USD/VND thêm 9.3%, từ 18,932 lên 20,693
VND/USD và thu hẹp biên độ dao động từ 3% xuống còn 1%. Đây là lần nâng tỷ
giá USD/VND đầu tiên kể từ ngày 18/8/2010.
Sau quyết định điều chỉnh tỷ giá, vào ngày 18/2, NHNN tiếp tục nâng lãi
suất tái cấp vốn thêm 2% lên 11%, mức cao nhât trong 2 năm. Thêm vào đó, các
lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp
thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN cũng được điều chỉnh tăng.
Việc tăng lãi suất này là một thông điệp rõ ràng cho thấy NHNN đang thực hiện
chính sách tiền tệ thắt chặt, và sau đó đã tác động đến lãi suất trên thị trường tiền
tệ. Ngoài ra, động thái này cũng nhắm đến một mục tiêu khác là ổn định tỷ giá.
Từ tháng 2.2011 tới nay tỷ giá bình quân liên ngân hàng thay đổi trong phạm vi
rất hẹp, trong khi chỉ số CPI đã tăng thêm hơn 10%. Đây sẽ là một sức ép rất lớn
lên tỷ giá vào cuối năm nay và đầu năm 2012.
Trong năm 2012, lượng dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước tăng thêm 15
tỷ USD, yếu tố giảm tổng cầu đã giúp cho tỷ giá Việt Nam năm 2012 ổn định. Kim
ngạch xuất khẩu đạt 114,6 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu sấp sĩ ở mức 114,3 tỷ
USD, lượng kiều hối ước khoảng 10,5 tỷ USD là liều thuốc tiếp sức quý báu cho
tình trạng sức khỏe kinh tế khá nhạy cảm năm 2012. Lần đầu tiên kể từ năm 2007,
cán cân thanh toán tổng thể trong năm 2012 đã thặng dư 10 tỷ USD. Tình trạng
xuất siêu xảy ra trong năm qua là hệ quả biểu hiện của một nền kinh tế suy giảm,
hơn là dấu hiệu tích cực của tăng trưởng xuất khẩu. Bởi nền kinh tế Việt Nam phát
triển là nhờ vào xuất khẩu, nhưng cơ cấu xuất khẩu lại chủ yếu phụ thuộc vào
nguyên vật liệu nhập khẩu. Cả năm 2012, biên độ điều chỉnh tỷ giá tối đa được ghi
nhận là +1%, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước giữ
nguyên ở mức 20.828 VND/USD.
2.3. Năm 2013.
Tự bản thân tỷ giá không quyết định được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, vì
nếu xem kim ngạch xuất khẩu là một hàm nhiều biến, thì tỷ giá hối đoái chỉ là một
biến số. Và cần phải nhận định rằng, các tuyên bố giữ ổn định tỷ giá ngoại tệ cũng
không hẳn chỉ có mặt tích cực, mặt trái của chủ trương này là sẽ kích hoạt luồng
tiền nóng từ bên ngoài vào Việt Nam để hưởng chênh lệch lãi suất và tận dụng bảo
hiểm tỷ giá “miễn phí”.
Năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã mua ròng 15 tỷ USD và tiếp tục mua
ròng 5 tỷ USD trong khoảng thời gian từ đầu năm 2013 đến trước Tết Nguyên đán,
nâng dự trữ ngoại hối quốc gia lên mức cao nhất từ trước tới nay. Tự số liệu lượng
dự trữ ngoại hối năm 2012 tăng gấp đối so với năm 2011 và tiếp tục mua trong hai
tháng đầu năm 2013 đã phản ánh VND đã và đang chịu sức ép tăng giá so với
USD, động thái Ngân hàng Nhà nước liên tục phải mua USD cần nhận định đã là
một phương cách giữ cho VND không tăng giá gây bất lợi cho xuất khẩu.
Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến phá giá đồng nội tệ không hẳn lúc nào cũng
xuất phát từ nhu cầu mua ngoại hối hoặc các bức bách về thanh khoản ngoại tệ
trong hệ thống ngân hàng. Mặt khác, lượng dự trữ ngoại hối khoảng 20,9 tỷ USD
(tính đến cuối tháng 12/2012) của Việt Nam chỉ là con số khiêm tốn so với các
nước trong khu vực. Theo số liệu đăng công khai của CIA (Cơ quan Tình báo
Trung ương Hoa Kỳ), ở cùng thời điểm, dự trữ ngoại hối của Malaysia là 140,4 tỷ
USD (với dân số 29 triệu người); Singapore có 253,3 tỷ USD (với dân số hơn 5
triệu người); Thái Lan có 172,8 tỷ USD (với 67 triệu người); Philippin có 80,58 tỷ
USD (với 103,7 triệu người). Nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế trong hoàn cảnh
không ổn định, giải pháp định giá thấp đồng nội tệ hay được các chính phủ đem ra
sử dụng. Phá giá đồng nội tệ là một hình thức áp thuế tinh vi lên người làm công
ăn lương.
Trước mắt, việc đưa VND ra mua USD để giữ ổn định giá nội tệ mà vẫn
kiểm soát được lạm phát là cực kỳ khó. Quan điểm kiên trì kiềm chế lạm phát thể
hiện rõ trong năm 2012 đã thắng thế. Có lẽ biên độ điều chỉnh tỷ giá hối đoái năm
2013 chỉ ở mức +/- 3%. Trong cuộc phỏng vấn ngày 22/2 vừa qua ở Cổng Thông
tin điện tử Chính phủ, ngay Thông đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình
đồng nội tệ. Nếu không khống chế được lạm phát một cách hợp lý thì diễn biến
trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái là khó có thể kiểm soát được dẫn đến
những biến động.
Hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam để tạo điều kiện cho việc thực
hiện chính sách ngoại hối có hiệu qủa bằng cách mở rộng thị trường ngoại hối để
các doanh nghiệp, các định chế tài chính phi ngân hàng tham gia thị trường ngày
một nhiều, tạo thị trường hoàn hảo hơn, nhất là thị trường kỳ hạn và thị trường
hoán chuyển để các đối tượng kinh doanh có liên quan đến ngoại tệ tự bảo vệ
mình.
Hoàn chỉnh thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, điều kiện cần thiết để qua đó
nhà nước có thể nắm được mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ, đồng thời qua đó
thực hiện biện pháp can thiệp của nhà nước khi cần thiết nhằm khống chế lạm phát
tăng cao Trước mắt cần có những biện pháp thúc đẩy các ngân hàng có kinh
doanh ngoại tệ tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng , song song đó phải
củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp vụ
hoạt động của nó, tạo điều kiện cho NHNN phối hợp, điều hòa giữa hai khu vực thị
trường ngoại tệ và thị trường nội tệmột cách thông thoáng.
Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh TGHĐ Việt Nam. Để đảm bảo cho tỷ giá
phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường nên từng bước loại bỏ dần
việc qui định khung tỷ giá với biên độ quá chặt của Ngân hàng nhà nước đối với
các giao dịch của các NHTM và các giao dịch quốc tế (Hiện nay biên độ này là +/-
0.25%). Ngân hàng Nhà nước chỉ điều chỉnh tỷ giá trên các phiên giao dịch ngoại
tệ liên ngân hàng và theo hướng có tăng có giảm để kích thích thị trường luôn sôi
động và tránh hiện tượng găm giữ đô la.
Thực hiện chính sách đa ngoại tệ. Hiện nay trên thị trường ngoại tệ, mặc
dù USD có vị thế mạnh hơn hẳn các ngoại tệ khác, song nếu trong quan hệ tỷ giá
chỉ áp dụng một loại ngoại tệ trong nước sẽ làm cho tỷ giá ràng buộc vào ngoại
tệđó, cụ thể là USD. Khi có sự biến động vềgiá cả USD trên thế giới, lập tức sẽ ảnh
hưởng đến quan hệ tỷ giá của USD đến VND mà thông thường là những ảnh
hưởng rất bất lợi.
được ưa thích. Kinh nghiệm của các năm vừa qua cho thấy mặc dù NHNN có thể
duy trì tỷ giá ổn định trong một thời gian khi lạm phát tăng nhưng sau đó sẽ buộc
phải phá giá đồng nội tệ để kiềm chế nhập siêu.
Từ tháng 2.2011 tới nay tỷ giá bình quân liên ngân hàng thay đổi trong phạm
vi rất hẹp, trong khi chỉ số CPI đã tăng thêm hơn 10%. Đây sẽ là một sức ép rất lớn
lên tỷ giá vào cuối năm nay và đầu năm 2012.
Lạm phát ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Khi một nước có lạm phát, sức mua
đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt
hơn trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên
thị trường trong nứơc. Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang
dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá
hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu
hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối
đoái tăng. Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng
tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên
thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm
giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng.
Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ
thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm
phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối
đoái tăng.