Tình hình tỷ giá hối đoái và lạm phát tại việt nam giai đoạn 2010 2013 - Pdf 23

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 5
1.1 Một số lí luận cơ bản về tỷ giá hối đoái 5
1.1.1 Khái niệm và cơ chế xác định tỷ giá 5
1.1.1.1 Khái niệm 5
1.1.1.2 Cơ chế xác định tỷ giá 5
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái 6
1.1.3 Vai trò của tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế mở 7
1.1.4 Các nhân tố tác động đến tỷ giá 7
1.2 Một số lí luận cơ bản về lạm phát 9
1.2.1 Khái niệm về lạm phát 9
1.2.2 Phân loại lạm phát 9
1.2.3 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế 11
1.2.4 Nguyên nhân của lạm phát 13
1.2.5 Hậu quả của lạm phát 16
CHƯƠNG 2 18
2.1 Tình hình tỷ giá hối đoái tại Việt Nam giai đoạn 2010-2013 18
2.2 Tình hình lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2010-2013 25
2.3 Mối quan hệ của TGHĐ và LP tại Việt Nam giai đoạn 2010-2013 31
CHƯƠNG 3 34
3.1 Một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của chính sách TGHĐ 34
3.1.1 Kiến nghị đối với NHNN và các cơ quan quản lí vĩ mô 34
3.1.2 Kiến nghị đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu 36
3.2 Một số kiến nghị nhằm kiềm chế lạm phát 36
3.2.1 Kiến nghị nhằm kiềm chế lạm phát trong ngắn hạn 36
3.2.1 Kiến nghị nhằm kiềm chế lạm phát trong dài hạn 38
PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………………………… 39
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1: Lạm phát do cầu kéo

ổn định và phát triển vững mạnh.Nền kinh tế Việt Nam ta cũng không thoát khỏi xu thế
chung càng ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Các vấn đề về hoạt động xuất
nhập khẩu và đầu tư nước ngoài luôn luôn là các chủ điểm trong các cuộc hội thảo kinh
tế. Do đó, cân bằng ngoại tệ của nền kinh tế nâng cao giá trị của đồng nội tệ là vấn đề
đáng quan tâm của các nhà hoạch định. Việc nâng cao vai trò của tỉ giá hối đoái và kiểm
soát được tỉ lệ lạm phát lại hết sức quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này.
Không chỉ vậy, tỷ giá hối đoái còn là công cụ để các doanh nhân và các nhà kinh tế
phân tích, xác định cho mình đối sách thích hợp trong buôn bán quốc tế. Từ đó tạo nên
khả năng dự trữ ngoại tệ cũng như mở rộng buôn bán ngoại tệ hình thành nên giá cả của
các đồng tiền.
Tùy vào điều kiện xuất phát và đặc điểm phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà xác
định cho mình một chích sách tiền tệ khác nhau, thông qua đó Ngân hàng Trung ương sẽ
thực hiện được chính sách thích hợp đối với thị trường ngoại hối để đạt được mục tiêu
cuối cùng là ổn định giá trị đồng tiền, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm…Tuy
nhiên muốn đưa ra một chính sách điều hành tỷ giá hối đoái và kiềm chế được lạm phát là
vô cùng khó khăn.
Vì vậy, nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát trong thời gian
qua và tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng trong thời gian tới, từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm ổn định tỷ giá và kiềm chế lạm phát là hết sức cần thiết.
Do vậy em xin chọn đề tài “Tình hình tỷ giá hối đoái và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn
2010-2013” để thưc hiện đề án nhập môn tài chính tiền tệ.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về lý luận chung liên quan đến tỷ giá hối đoái và
lạm phát.
Đánh giá thực trạng chung của tỷ giá hối đoái và lạm phát, mối quan hệ giữa tỷ giá hối
đoái và lạm phát giai đoạn 2010-2013.
Trên cơ sở lý luận đánh giá đúng đắn thực trạng về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái
và lạm phát, kết hợp với quá trình phân tích và căn cứ vào thực tiễn đề xuất một số giải
pháp ổn định chính sách tỷ giá hối đoái và lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

(ngoại tệ/nội tệ). Rất nhiều nước yết giá theo phương pháp này, nên người ta gọi phương
pháp yết giá này là phương pháp yết đa số
1 ngoại tệ = x nội tệ
Vd: Tại Nhật Bản ngân hàng công bố: USD/JPY = 112,34
Tại Singapore ngân hàng công bố: USD/SGD =1,8345
- Phương pháp thứ hai: lấy tiền tệ trong nước làm đơn vị so sánh với tiền tệ nước
ngoài (nội tệ/ngoại tệ). Ít nước yết giá theo phương pháp này nên người ta gọi phương
pháp yết giá này là phương pháp thiểu số.
1 nội tệ = x ngoại tệ
Vd: Tại Anh quốc ngân hàng công bố: GBP/USD = 1,7654
Tại Australia ngân hàng công bố: AUD/USD = 0,7482
1.1.1.2 Cơ chế xác định tỷ giá.
Tùy theo cơ chế của mỗi quốc gia, thì tỷ giá sẽ chia thành những loại như sau:
- Cơ chế thị trường: Tỷ giá cũng là một loại giá cả, nó dược xác định dựa trên các lực
lượng cung cầu nội ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối là nơi mua
bán trao đổi đồng nội và ngoại tệ.
+ Xuất hiện việc cung tiền của nước A trên thị trường ngoại hối so với đồng tiền nước B
khi người dân nước A mua hàng nhập khẩu hoặc khi người dân nước A đầu tư sang nước B.
Đường cung về tiền có độ dốc dương trong không gian hai chiều giữa tỷ giá và lượng cung
tiền.
+ Xuất hiện về cầu tiền nước A trên B mua hàng xuất khẩu từ nước A hoặc khi người dân
nước B đầu tư sang nước A. Đương cầu về có độ dốc âm trong không gian hai chiều giữa tỷ
giá và lượng cung tiền.
- Cơ chế hành chính: Ở những nước theo đuổi chính sách kiềm chế tài chính và kiểm
soát chặt chẽ nguồn vốn thường đưa ra một mức tỷ giá cố định. Tỷ giá này có thể thay đổi
điều chỉnh song không phải do các lực lượng thị trường quyết định. Nó được ấn định lại khi
các nhà quản trị cần thấy phải thay đổi nó nhằm một mục đích nào đó.
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái
- Căn cứ vào phương tiện di chuyển ngoại hối
+ Tỷ giá điện hối (Telegraphic transfer – T/T): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng

sắc tới mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia:
- Tỷ giá là phương tiện trao đổi thương mại quốc tế, nó qui định tỉ lệ trao đổi giữa các
loại tiền.
- Tỷ giá tác động trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu.Vì vậy nó tác động tới cán cân
thanh toán quốc tế: sự thâm hụt hoặc thặng dư cán cân. Khi đồng tiền của một nước tăng giá
(so với đồng tiền của các nước khác) thì hàng hóa của nước dó ở nước ngoài trở nên đắt hơn.
Ngược lại, hàng hóa nước ngoài ở nươc đó lại rẻ hơn.
- Tỷ giá là công cụ điều tiết vĩ mô, ảnh hưởng đến tổng cầu, sản phẩm quốc dân, thất
nghiệp…Tỷ giá góp phần vào việc cải thiện cung cầu về ngoại tệ, giải quyết vấn đề nợ nước
ngoài. Song việc điều hành tỷ giá không tốt có thể dẫn tới lạm phát, khủng hoảng.
1.1.4 Các nhân tố tác động đến tỷ giá
- Lạm phát: Theo thuyết ngang sức mua thì tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền sẽ được điều
chỉnh phù hợp với mức giá cả hai nước. Chẳng hạn, khi mức lạm phát trong nước cao hơn
mức lạm phát ở nước ngoài thì nhu cầu về hàng nội địa giảm khiến đồng nội tệ có xu hướng
giảm giá để hàng nội địa có thể bán dược trên thị trường.
- Lãi suất: Tác động tới tỷ giá theo thuyết ngang bằng lãi suất. Thuyết này nói lên rằng
lãi suất thực giữa các nước là bằng nhau, sự khác nhau tạm thời của của lãi suất thực giữa các
nước được bù đắp bởi sự thay đổi trong tỷ giá. Khi lãi suất trong nước tăng so với lãi suất
nước ngoài sẽ dẫn đến nhu cầu đầu tư bằng đồng bản tệ tăng, ngoại tệ giảm, đồng bản tệ có
xu hướng tăng giá và ngược lại.
- Năng suất lao động: Nếu năng suất lao động của một nước cao hơn nước khác sẽ làm
cho giá cả hàng nội địa rẻ hơn so với hàng ngoại. Do vậy, nhu cầu hàng nội địa tăng, đồng
nội tệ có xu hướng tăng giá.
Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế của một nước ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá thông
qua quan hệ cung cầu. Khi cán cân thanh toán quốc tế thặng dư làm cho dự trữ ngoại tệ tăng,
cung ngoại tệ tăng. Do đó đồng ngoại tệ có xu hướng giảm giá. Ngược lại, cán cân thanh toán
quốc tế bị thâm hụt, nhu cầu ngoại tệ tăng làm cho ngoại tệ có xu hướng tăng giá.
- Thay đổi mức cung tiền: Nếu lượng tiền tăng, về mặt dài hạn giá cả trong nước sẽ tăng,
do đó tỷ giá có xu hướng tăng lên, đồng bản tệ mất giá và ngược lại
- Thuế và Quota: Khi chính phủ đã ra hàng rào thuế quan, sẽ làm cho nhu cầu nhập khẩu

nhiều nhất là chỉ số tiêu dùng CPI (consumer price index). Ngoài ra người ta còn sử dụng các
chỉ số khác nhau như chỉ số giá cả sản xuất, chỉ số “giảm lạm phát GDP”. Ví dụ, nếu GDP
tăng theo mức cố định là 2% và theo mức giá danh nghĩa hiện hành là 5%, nó hàm ý mức lạm
phát trong toàn bộ nền kinh tế là 3%.
1.2.2 Phân loại lạm phát
Các nhà kinh tế có rất nhiều cách phân loại lạm phát nhưng do biểu hiện đặc trưng của
lạm phát là sự tăng lên của giá cả hàng hóa, nên các nhà kinh tế thường dựa vào tỉ lệ tăng giá
để làm căn cứ phân loại lạm phát ra thành ba mức độ khác nhau như sau:
- Lạm phát vừa phải:
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ một con số hàng năm
(dưới 10% một năm). Lạm phát vừa phải còn được gọi là lạm phát nước kiệu hay lạm phát
một con số. Loại lạm phát này thường được các nước duy trì như một chất xúc tác để thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.
- Lạm phát phi mã:
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ hai con số hàng năm (từ 10%
đến 100% một năm). Lạm phát cao còn được gọi là lạm phát phi mã. Thật ra cũng có một số
nhà kinh tế quan điểm cho rằng thuộc loại lạm phát phi mã bao gồm cả lạm phát ở mức độ ba
con số (100%, 200% ) lạm phát phi mã gây ra nhiều tác hại đến sự phát triển kinh tế xã hội.
- Siêu lạm phát
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ ba con số hàng năm trở lên.
Siêu lạm phát này còn gọi là lạm phát siêu tốc. Không có điều gì là tốt khi nền kinh tế rơi vào
tình trạng siêu lạm phát. Người ta thường ví siêu lạm phát như căn bệnh ung thư gây chết
người, có tác hại rất lớn đến nền kinh tế - xã hội. Lịch sử lạm phát của thế giới đã ghi nhận
tác hại của siêu lạm phát xảy ra ở Đức năm 1920-1923, ở Nga sau cách mạng tháng 10, ở
Trung Quốc sau chiến tranh thế giới thứ 2
Ví dụ như ở Đức, từ tháng 1 năm 1992 đến tháng 11 năm 1923 chỉ số giá cả tăng
10.000.000 lần , vào thời kỳ đó một ngân phiếu có giá trị 30 triệu DEM , sau 2 năm 30 triệu
DEM không mua nổi một chiếc kẹo cao su, vì vậy trong một khoảng thời gian ngắn từ năm
1921 đến năm 1923 mà kho tiền của nước Đức tăng 7.000 triệu lần.
Ngoài cách phân loại trên, lạm phát còn được phân loại như sau:

Tuy nhiên một sự điều chỉnh lãi xuất cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện
ở mức lạm phát thấp, lạm phát ở mức một con số hàng năm.
Khuynh hướng chung là khi dự đoán có lạm phát người ta thường dự trữ vàng hoặc đầu
tư vào bất động sản hoặc đầu tư các tài sản có giá trị khác.
Nhìn chung những người dự trữ vàng vẫn có lợi nhất vì giá vàng so sánh với các loại
hàng hóa cao cấp như: ô tô, xe máy kể cả các loại hàng hóa thông thường như: gạo, muối,
đường…và ngoại tệ thì không suy giảm chút nào.Vì vậy trong thời kỳ giá vàng xuống mức
thấp họ tăng cường mua vàng và bán ra khi giá vàng được nâng lên. Trong thời kì này những
người gửi tiết kiệm là bị thiệt hại nhiều nhất
Lạm phát với mức độ phi mã hoặc siêu tốc thì nợ nần của chính phủ được giảm bớt, song
chính phủ sẽ bị áp lực chính trị của đông đảo quần chúng, nhân dân lao động bị thiệt hại do
lạm phát xảy ra.
 Tác động của lạm phát đối với phát triển kinh tế và công ăn việc làm.
Đối với nền kinh tế thị trường, khi lạm phát xảy ra cơ bản là có tác động làm tăng trưởng
nền kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm. Nhưng trong nền kinh tế bao cấp thì không như
vậy, vì việc sản xuất nhiều hay ít là tùy thuộc vào Nhà nước quy định, giá cả là do Nhà nước
ấn định, nên việc thúc đẩy của lạm phát không làm gia tăng sản xuất. Từ đó khối lượng công
ăn việc làm cũng không tăng thêm, các thành viên trong tuổi lao động của xã hội không có đủ
việc để làm dẫn đến một dạng thất nghiệp trá hình diễn ra khá phổ biến.
Trong nền kinh tế thị trường lạm phát đồng nghĩa với cung tín dụng phát triển nhanh
chóng, các nhà kinh doanh có cơ hội đầu tư thêm, công ăn việc làm cũng tạo ra nhiều hơn.
Nhưng khi lạm phát giảm thì lao động và tư bản bị bỏ không, không sử dụng hết năng lực của
nền kinh tế. Các món nợ của ngân hàng và các chủ nợ khác sẽ dễ dang thu lại trong thời kỳ
lạm phát, nhưng nếu là ngân hàng tư nhân họ sẽ không thiệt hại gì cả. Chỉ có người gửi tiền
mới bị thiệt hại. Hơn nữa nếu là ngân hàng Nhà nước sử dụng nguồn vốn chủ yếu từ ngân
sách, khi lạm phát vốn được cấp sẽ bị giảm dần cùng chiều với tốc độ của lạm phát nên càng
bổ sung vốn thì tốc độ lạm phát sẽ càng tăng lên nhanh chóng.
 Các tác động khác của lạm phát
- Lạm phát cân bằng có dự tính trước: Đây là trường hợp lí tưởng khi giá cả tăng lên 10%
chẳng hạn, thu nhập danh nghĩa cũng tăng lên 10% có nghĩa là lạm phát không ảnh hưởng gì

AD
0
SAS: tổng cung ngắn hạn
P: giá cả
0 Y
P
Y
1
Y
Có nhiều lý do khác khiến cho tổng cầu tăng lên. Để thấy được vấn đề, chúng ta tách tổng
cầu theo các thành phần chi tiêu trong nền kinh tế:
AD = C + I + G + (X – M)
Trong đó C là chi tiêu của người tiêu dùng, I là đầu tư, G là chi tiêu của chính phủ, X là
xuất khẩu, M là nhập khẩu.
Chi tiêu của Nhà nước tăng thường xuyên cho y tế, giáo dục, quốc phòng, … và do nhu
cầu khếch trương nền kinh tế. Nhà nước chủ trương phát hành tiền vào lưu thông để bù đắp
cho các chi phí nói trên đang bị thiếu hụt.
Như vậy, sự tăng lên của tổng cầu có thể do nhiều nhân tố tác động như cung tiền tệ
tăng, thuế giảm, xuất khẩu ròng tăng,…thông thường vẫn là do các yếu tố sau:
- Do bội chi ngân sách nhà nước thường xuyên và kéo dài.
- Do việc kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông của ngân hàng trung ương không chặt
chẽ, làm cho khối lượng tiền trong lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần thiết cho lưu
thông trong một thời gian.
- Do chất lượng tín dụng kém, không thu hồi được vốn, làm mất cân bằng quan hệ tiền -
hàng.Do tiền lương quá cao, tạo sức cầu hàng hóa lớn, vượt quá khả năng cung ứng hàng hóa
của nền kinh tế.
Ngoài ra có thể do các nguyên nhân về tâm lí, như ảnh hưởng của các cuộc khủng
hoảng về chính trị, quân sự, kinh tế, hoặc do thiên tai như động đất, bão, núi lửa, sụt bùn, lở
núi … làm cho dân chúng hoang mang đổ xô đi mua hàng hóa làm sức cầu hàng hóa gia tăng
nhanh chóng kéo giá cả hàng hóa tăng lên.

->AS
1
), vì thế đẩy giá cả tăng. Chi phí đẩy được minh họa trên hình 2
sau:
Hình 2: Lạm phát do chi phí đẩy
P LAS
SAS
1
P
1
SAS
0
P
0
AD
0
0 Y
1
Y
*
Y
- Thiếu hụt các nguồn tài nguyên:
Một khi các nguồn tài nguyên khai thác bị cạn kiệt không tránh khỏi tình trạng giá cả dần
dần sẽ gia tăng. Điều này làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp và đẩy giá cả hàng hóa tăng
lên cho đến khi doanh nghiệp tìm kiếm nguồn lực khác thay thế (nếu có thể).
Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả các loại hàng hóa và tiền lương công nhân
luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm ổn
định.Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả trong khi các yếu tố
sản xuất chưa được sử dụng đày đủ. Lạm phát xảy ra như vậy có nguyên nhân là do sức đẩy
của chi phí sản xuất.

Chương 2: Tình hình tỷ giá hối đoái và lạm phát tại Việt Nam giai
đoạn 2010-2013
2.1Tình hình tỷ giá hối đoái tại Việt Nam giai đoạn 2010-2013
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 và suy thoái kinh tế sau đó đã gây
tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước, với biểu hiện rõ nét là dòng vốn đầu tư
nước ngoài giảm mạnh, gây áp lực đến lạm phát và tỷ giá, buộc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam (NHNN) phải liên tục điều chỉnh tỷ giá USD trong các năm để ổn định tỷ giá.
Cụ thể qua từng năm như sau:
Đối với năm 2010, được xem là năm có những biến đổi thất thường về tỷ giá nhất
làm cho không riêng các nhà quản lý mà cả ngân hàng, doanh nghiệp và người tiêu dùng
phải chịu ảnh hưởng lớn. Với diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2010 thông qua hình 3
dưới đây:
Tháng 1/2010 tỷ giá VNĐ/USD giảm nhẹ, đứng ở mức 18,479 đồng/USD. Sự
giảm giá này của đồng USD là do nguồn ngoại tệ nhiều, xuất phát từ các nguyên nhân
như: nguồn vốn đầu tư nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp, có vốn hỗ trợ phát triển
chính thức), kiều hối… tăng. Bên cạnh đó các tập đoàn, các tổng công ty lớn của nhà
nước bán ngoại tệ cho ngân hàng.
Đến tháng 2/2010, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ
mức 17,941 đồng/USD nhằm khuyến khích các tập đoàn, các tổng công ty lớn của nhà
nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng, cải thiện thị trường ngoại tệ vốn đang căng
Hình 3: Diễn biến tỷ giá hối đoái năm 2010
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Ngân hàng Nhà nước
thẳng. Trước đó NHNN có quyết định giảm mạnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ
7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12
tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD cho các NHTM để vay trên thị
trường. Sau đó, để tăng thêm nguồn cung USD, NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối
đa bằng USD của các tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Lúc này sự dư thừa
ngoại tệ khiến lãi suất vay vốn bằng VND và USD có sự chênh lệch rất lớn.
Vào tháng 4/2010 tỷ giá trên thị trường tự do lần đầu tiên đã thấp hơn mức tỷ giá
niêm yết của các NHTM, và các tỷ giá do các NHTM luôn thấp hơn mức trần cho phép

Giai đoạn 2: Tháng 2 và tháng 3/2011.
Đến tháng 2/2011, NHNN đã quyết định tăng tỷ giá một cách mạnh mẽ với 9,3%
từ 18,932 lên 20,693 VND/USD và siết chặt biên độ từ 3% xuống còn 1%. NHNN còn
đưa ra cơ chế áp và siết trần lãi suất huy động USD, thực hiện kết nối và mở rộng kết nối,
xử lí loạt giao dịch bất hợp pháp trên thị trường tự do…
Thêm vào đó tín dụng ngoại tệ vẫn tăng cao tạo nguồn cung thương mại từ vốn
chuyển đổi cho thị trường sự chuyển đổi vốn ngoại tệ sang VND cũng có ở các ngân hàng
thương mại khi chênh lệch lãi suất cho vay quá hấp dẫn với khoảng 300% càng tạo cung
cho thị trường…Với chính sách này, NHNN muốn giải phóng áp lực dồn nén quá lớn sau
một thời gian tương đối dài hơn thế nữa còn muốn một bước để nhanh chóng thu hẹp
khoảng cách giữa hai tỷ giá và xóa bớt kỳ vọng sẽ tiếp tục phá giá trong năm 2011 ở giới
đầu cơ, hay trong tâm lí thị trường.
Các biện pháp trên đã có hiệu quả khi vào thời điểm đầu tháng 3/2011tỷ giá giao
dịch trên thị trường tự do liên tục giảm từ 22,000 USD/VND xuống chỉ còn 21,100 –
21,150 USD/VND, đưa chênh lệch tỷ giá chính thức và tự do xuống còn 210 – 250 VND.
Giai đoạn 3 : tháng 4/2011 đến tháng 12/2011, đây là giai đoạn tương đối ổn định
của tỷ giá về sau… Giá USD liên tục giảm chóng mặt, từ 20.590 VND rơi xuống còn
20.409 VND. Lúc này Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước bất ngờ tăng mạnh giá mua vào
USD. Đây chính là điểm đánh giá cho” nửa sau bình yên” của tỷ giá 2011 với câu nói
trọng điểm là “Tỷ giá không tăng quá 1% từ đây đến cuối năm” của tân Thống đốc ngân
hàng Nhà nước
Tuy nhiên, NHNN sẽ khó thực hiện được với cam kết “không quá 1%” của mình
nếu không có sự gia tăng trở lại của dự trữ ngoại tệ trước đó. Từ tháng 4 đến tháng
6/2011, ngân hàng nhà nước liên tục điều chỉnh chính sách kinh tế để hạn chế tình trạng
đô la hóa và bình ổn thị trường ngoại hối như: áp trần lãi suất huy động USD từ 3%
xuống còn 2%, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ từ 4% lên 7%. Điều này
sẽ thu hút được nguồn ngoại tệ do người dân nắm giữ, vì điều này giúp người dân nhận
thấy nắm giữ USD không có lợi bằng VND nên có xu hướng bán USD để gửi tiết kiệm
bằng VND, giúp tăng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
Năm 2012 là năm có nền tỷ giá USD/VND diễn biến ổn định góp phần đem lại

Tháng 8/2012, tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do có tăng nhẹ và kéo dài khoảng
cách chênh lệch với tỷ giá giao dịch của các NHTM ở mức gần 70 VND/1USD, nhưng
sang tháng 9/2012 bắt đầu xu hướng giảm dần đều cho tới cuối năm 2012 khi xoay
quanh mức 20.850-20.870 VND/1USD. Tỷ giá BQLNH vẫn được duy trì một đường kẻ
thẳng kể từ tháng 11/2011 cho đến nay
Tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại không còn biểu hiện căng thẳng
luôn ở sát mức trần như giai đoạn trước.
Năm 2012, tỷ giá USD/VND diễn biến ổn định, tỷ giá BQLNH liên tục duy trì ổn
định ở mức 20.828VND/USD và dao động trong biên độ cho phép +1%/-1%.Tỷ giá bình
quân niêm yết mua vào-bán ra của các NHTM phổ biến ở mức 20.855-20.903 VND/USD.
Các TCTD chấp hành tốt các quy định về mua bán ngoại tệ, tâm lý thị trường ổn định
hơn, các nhu cầu ngoại tệ cấp thiết đã được đảm bảo.
Tất nhiên, một yếu tố khác cực kỳ quan trọng chính là giảm tổng cầu, đã góp phần
làm cho tỷ giá yên ổn hơn. Trong điều kiện kim ngạch xuất khẩu đạt 114,6 tỷ USD trong
khi kim ngạch xuất khẩu chỉ 114,3 tỷ USD cộng với lượng kiều hối ước khoảng 10,5 tỷ
USD và một số lợi thế khác, lần đầu tiên kể từ năm 2007 cán cân thanh toán tổng thể đã
thặng dư 10 tỷ USD.
Hình 6: Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2012
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Bước sang năm 2013, NHNN tiếp tục quản lý thị trường ngoại hối và điều hành tỷ
giá chặt chẽ theo tín hiệu thị trường, phù hợp với các cân đối vĩ mô và cán cân thanh toán
quốc tế, thực hiện các biện pháp tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước và chống đôla hóa. Nhờ
đó thị trường ngoại tệ 8 tháng đầu năm giữ được sự ổn định, tỷ giá giao động trong biên
độ cho phép.
Vào tháng 4/2013, một số ngân hàng thương mại đã nâng giá USD lên 21,036
VND/USD, lúc này giá bán USD trên thị trường tự do lên đến 21,320 VND. Cũng trong
thời gian này lãi suất tiền gửi VND tiếp tục giảm, tuy nhiên người dân vẫn có lợi khi gửi
VND hơn là USD.
Tháng 6/2013, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá BQLNH thêm 1% lên mức 21,036
VND/USD, điều này cho thấy quyết tâm ổn định tỷ giá. Lúc này nhu cầu USD tại các

+ Nhưng sau đó từ thánh 4/2010 đến tháng 8/2010, có liền 5 tháng tăng thấp về
gần mức 0% (tháng 7/2010 chỉ tăng 0,06% so với tháng 6/2010). Mức tăng này lập kỉ lục
về độ thấp kể từ 2004 đến nay. Điều này cũng nhờ vào sự điều tiết có hiệu quả của chính
sách vĩ mô.
+ Sau đó lại vượt lên trên 1% trong 4 tháng còn lại của năm. Các tháng từ tháng 9
đến tháng 11/2010, mức tăng đều đạt mức kỉ lục của 15 năm trở lại đây.
Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20%. Tiếp đó là hàng
ăn (16,18%), nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%). Các nghành giao thông, hàng hóa và
dịch vụ khác, thực phẩm đều ở mức tăng trên 10%. Bưu chính viễn thông là nhóm duy
nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010. Chỉ số giá vàng tăng 36,72%, chỉ số
giá USD tăng 7,63%. Về CPI của các vùng miền, đáng chú ý là chỉ số CPI khu vực nông
thôn tháng 12 tăng 2,04% cao hơn 1,87% của khu vực thành thị.
Có thể tóm tắt các yếu tố tác động đến lạm phát từ 3 nguyên nhân chính sau đây:
cung tiền tăng quá mức (từ năm 2000 đên 2009, tín dụng trong nền kinh tế tăng hơn 10
lần, cung tiền M2 tăng lên 7 lần, trong khi đó GDP thực tế chỉ tăng lên 1 lần. đều này tất
yếu dẫn đến đồng tiền bị mất giá và dẫn đến lạm phát). Giá hàng hóa thế giới tăng cao đột
ngột:, và sức cầu về hàng hóa trong nước tăng trong khi sản xuất chưa đáp ứng kịp.
- Diễn biến lạm phát năm 2011
Tính chung từ đầu năm , lạm phát của cả nước đã tăng 15,68% so với thời điểm
cuối năm 2010. So với cùng kỳ năm ngoái, mặt bằng giá hiện tại cao hơn 23,02%. Lạm
phát của nước ta đã có xu hướng tăng đáng kể từ đầu năm.
+ Chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng mạnh từ tháng 1/2011 với 1,87% so với tháng
trước và đã tăng 1,74% so với tháng 12/2010, đỉnh điểm là 3,32% vào tháng 4/2011.
Thời gian tiếp theo chỉ số CPI có xu hướng giảm khi các thời điểm tháng 5/2011, tháng
6/2011, tháng 7/2011 có giá trị lần lượt so với tháng trước là 2,21%, 1,09%, 1,17%. Đặc
biệt với hai tháng 8, 9/2011 con số này đã giảm xuống dưới 1% hạn chế sử dụng sự tăng
trưởng của lạm phát.
+ Đỉnh cao của lạm phát năm 2011 rơi vào tháng 4/2011 với tỷ lệ 9,64% so với
cuối năm 2010, vượt xa ngưỡng 7% mà chính phủ đặt làm mục tiêu cho cả năm vào thời
điểm đó. Nếu so với cùng kỳ năm ngoái lạm phát đã tăng 17,51% cao hơn mức đỉnh lạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status