Mục lục
Danh mục các hình vẽ 3
Phần mở đầu 4
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát và thất nghiệp 7
1.1. Những vấn đề cơ bản về lạm phát 7
1.1.1. Quan điểm về lạm phát 7
1.1.2. Khái niệm lạm phát 8
1.1.3. Phân loại lạm phát 8
1.1.4. Biểu hiện của lạm phát 9
1.1.5. Nguyên nhân của lạm phát 9
1.1.6. Tác động của lạm phát 12
1.2. Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp 13
1.2.1. Khái niệm thất nghiệp 13
1.2.2. Phân loại thất nghiệp 13
1.2.3. Tác động của thất nghiệp 16
1.3. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp 17
1.3.1. Đường Phillips ban đầu 17
1.3.2. Đường Phillips mở rộng 18
1.3.3. Đường Phillips dài hạn 18
Chương 2: Tình hình lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam 20
giai đoạn 2010-2013
2.1. Tình hình lạm phát trong giai đoạn 2010-2013 20
2.1.1. Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2010 20
2.1.2. Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2011 23
2.1.3. Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2012 27
2.1.4. Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2013 28
2.2. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010-2013 30
2.2.1. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam năm 2010 30
2.2.2. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam năm 2011 31
2.2.3. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam năm 2012 31
2.2.4. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam năm 2013 33
hoạch định chính sách mà còn của toàn bộ chủ thể trong nền kinh tế đó chính là lạm
phát, thất nghiệp và mối quan hệ giữa chúng. Nền kinh tế Việt Nam từ sau đổi mới
năm 1986 đã đạt được nhiều thành tựu to lớn song cũng mắc không ít những khó khăn,
có những năm nền kinh tế tăng trưởng cao và kéo dài song cũng có những năm lạm
phát và thất nghiệp chỉ tỉ lệ cao gây tác động đến nền kinh tế - xã hội khiến đất nước
rơi vào vòng xoáy lạm phát và thất nghiệp mà hậu quả của nó là kéo theo các cuộc
khủng hoảng kinh tế, chính trị trầm trọng. Do đó, đây là chủ đề được mọi tầng lớp xã
hội quan tâm.
Xuất phát từ những lí do trên, em quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Tình hình
lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010-2013”.
2. Mục tiêu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát và thất nghiệp.
- Đánh giá tình hình lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010-2013.
- Kết hợp một số vấn đề lý luận, qua đánh giá tình hình, đề ra một số giải pháp
nhằm kiềm chế tình hình lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam trong những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về tình hình lạm phát và thất nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về tình hình lạm phát và thất nghiệp ở Việt
Nam giai đoạn 2010-2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng quát là phân tích, tổng hợp, đánh giá dựa trên những lí luận
cơ bản về lạm phát và thất nghiệp.
- Phương pháp thống kê so sánh và khái quát hóa vấn đề cần nghiên cứu phân tích.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề án gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát và thất nghiệp.
Chương 2: Tình hình lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010-2013.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm kiềm chế tình hình lạm phát và kiểm soát thất
nghiệp ở Việt Nam trong những năm tới.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát và thất nghiệp.
2.1. Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2010-2013.
2.2. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010-2013.
2.3. Tác động của lạm phát và thất nghiệp đến nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
2010-2013.
Chương 3: Một số biện pháp kiềm chế tình hình lạm phát và kiểm soát thất
nghiệp ở Việt Nam trong những năm tới.
3.1. Những biện pháp nhằm kiềm chế tình hình lạm phát.
3.2. Những biện pháp nhằm kiểm soát tình hình thất nghiệp.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát và
thất nghiệp
1.1. Những vấn đề cơ bản về lạm phát.
1.1.1. Quan điểm về lạm phát.
Có nhiều nhà kinh tế đã nêu lên những quan điểm xung quanh lạm phát, nhưng
hầu hết chưa có một sự thống nhất hoàn toàn. Để có một quan điểm thống nhất về lạm
phát, chúng ta cần nghiên cứu một số ý kiến về nó.
- Theo Milton Friedman: “ Lạm phát là việc đưa quá nhiều tiền vào lưu thông
làm cho giá cả tăng lên”.
- Theo Jean Bodin: “Lạm phát trong mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng của lưu
thông tiền tệ. Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lượng tiền tệ trong
lưu thông tăng lên với nhịp độ nhanh hơn so với sản xuất”.
- Trong khi đó, theo John Maynard Keynes, ông đưa ra hai quan điểm về lạm
phát như sau:
+ Luận thuyết “lạm phát chi phí”: Lạm phát nảy sinh do mức tăng các chi phí
sản xuất kinh doanh nhanh hơn mức tăng năng suất lao động. Mức tăng chi phí này
chủ yếu là do tăng tiền lương, giá các nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu… đặc biệt từ
sau năm 1970 do giá dầu mỏ tăng ca, đã làm cho lạm phát tăng ở nhiều nước.
+ Luận thuyết “lạm phát cơ cấu”: Lạm phát nảy sinh do sự mất cân đối sâu sắc
trong chính cơ cấu của nền kinh tế (mất cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa công
nghiệp và nông nghiệp,…), chính vì sự mất cân đối này là một nhân tố cơ bản dẫn đến
sự phát triển không có hiệu quả của nền kinh tế.
chỉ số giá cả hàng hóa biến động rất mạnh, tăng từ ba con số trở lên hàng năm, có
nghĩa là chỉ số giá cả tăng từ 100%/năm trở lên.
Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lạm phát, thì lạm phát được chia làm 2 loại, cụ
thể như sau:
- Lạm phát do cầu kéo: Đây là loại lạm phát xảy ra khi nhu cầu hàng hóa tăng
quá cao vượt quá khả năng cung ứng hàng hóa của nền kinh tế.
- Lạm phát do chi phí đẩy: Đây là loại lạm phát xảy ra khi chi phí đầu vào cho
một đơn vị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tăng, làm cho giá thành sản phẩm tăng lên nên
đẩy giá cả hàng hóa tăng lên.
- Lạm phát ỳ: Đây là loại lạm phát chỉ tăng lên với một tỷ lệ không đổi hàng năm
trong một thời gian dài.
Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác.
Căn cứ vào tác động của lạm phát, thì lạm phát được chia làm 4 loại, cụ thể như sau:
- Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán được: Đây là loại lạm phát xảy ra khi giá cả tất
cả các loại hàng hóa đều tăng cùng một tốc độ và có thể dự đoán trước được.
- Lạm phát không cân bằng và có thể dự đoán: Đây là loại lạm phát xảy ra khi tất cả
các loại hàng hóa tăng không đều, nhưng có thể dự đoán trước được.
- Lạm phát cân bằng và không thể dự đoán: Đây là loại lạm phát xảy ra khi giá cả các
loại hàn hóa tăng đều nhau nhưng bất ngờ và không thể dự đoán trước được.
- Lạm phát không cân bằng và không thể dự đoán trược: Đây là loại lạm phát xảy ra khi
giá cả các loại hàng hóa tăng không đều nhau và bất ngờ, không dự đoán trước được.
Và ngoài ra, còn có nhiều cách phân loại khác.
1.1.4. Biều hiện của lạm phát.
Biểu hiện của lạm phát là:
- Tiền giấy bị mất giá.
- Giá ngoại tệ tăng liên tục.
- Giá cả của tất cả các loại hàng hóa kể cả hàng hóa tư liệu tiêu dùng, lẫn hàng
hóa tư liệu sản xuất và giá cả hàng hóa sức lao động đều tăng.
- Giá cả của chứng khoán biến động mạnh.
1.1.5. Nguyên nhân của lạm phát.
Hình 1.1. Lạm phát do cầu kéo
Giả định nền kinh tế ban đầu tại điểm cân bằng E, mức giá P và sản lượng Y*.
Chính phủ có ý muốn giảm thất nghiệp bằng cách tác động vào làm tăng tổng cầu
(đường AD dịch chuyển sang phải). Tại điểm cân bằng ngắn hạn mới F, việc làm
nhiều, để giữ chân người lao động các hãng tăng tiền lương, làm chi phí sản xuất tăng
nên đẩy đường AS dịch chuyển sang trái. Quá trình trên tiếp tục và kết quả dẫn đến
Ghi chú:
AS: Đường tổng cung
AD: Đường tổng cầu
AS
LR
: Đường tổng cung dài hạn
P: Mức giá
Y: Sản lượng
Y*: Sản lượng tiềm năng
mức giá tăng lên liên tục theo thời gian từ P đến P’ và đến P”. Chính phủ làm tăng tổng
cầu, dịch chuyển đường tổng cầu sang phải, trong khi đó các đường AS lại dịch chuyển
sang trái và hậu quả là làm tăng liên tục mức giá. Mức giá leo thang nhanh hay chậm còn
tùy thuộc vào độ dịch chuyển của đường AD và độ dốc của đường tổng cung AS.
Lạm phát do chi phí đẩy:
- Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả các loại hàng hóa và tiền lương
công nhân luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được khối lượng công ăn việc
làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả khi
các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ. Lạm phát xảy ra như vậy nguyên nhân
là do sức đẩy của chi phí sản xuất.
- Khi tốc độ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ của năng suất lao động sẽ đẩy chi
phí sản xuất tăng lên. Có nghĩa là chi phí tiền công trong một đơn vị sản phẩm tăng lên
đã đẩy giá cả hàng hóa tăng lên.
- Các cuộc khủng hoảng về các loại nguyên liệu cơ bản như dầu mỏ, sắt thép,…, sẽ
làm cho giá cả của các loại hàng hóa này tăng lên và làm cho chi phí sản xuất tăng lên.
+ Tạo nên sự chênh lệch giá, hàng hóa và dịch vụ giữa các vùng, làm cho
thương mại năng động hơn.
+ Làm nội tệ mất giá nhẹ so với ngoại tệ, tạo lợi thế cho doanh nghiệp, đẩy
mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho nền kinh tế, khuyến khích sản xuất trong nước
phát triển.
+ Doanh nghiệp gia tăng sản xuất, đẩy mạnh cạnh tranh đưa ra thị trường với
nhiều sản phẩm chất lượng cao.
+ Lạm phát tương đồng với một tỷ lệ thất nghiệp, lao động sẽ nâng cao trình
độ chuyên môn, cạnh tranh chỗ làm việc.
- Lạm phát gây ra tác động tiêu cực:
+ Khi có lạm phát những người làm thuê và những người gửi tiền là bị thiệt hại.
+ Do tỷ lệ tăng giá hàng hóa trong khi lạm phát không giống nhau cho nên
những doanh nghiệp sản xuất và tồn kho những hang hóa có tỷ lệ tăng giá chậm sẽ bị
thiệt thòi.
+ Lạm phát với mức độ phi mã hoặc siêu tốc thì nợ nần của Chính phủ được
giảm bớt, song Chính phủ sẽ bị áp lực chính trị của đông đảo quần chúng, nhân dân
lao động bị thiệt hại do lạm phát xảy ra.
+ Khi có lạm phát,vốn của hệ thống ngân hàng thương mại chủ yếu là ngân
hàng của Nhà nước sẽ bị giảm dần cùng chiều với tốc độ của lạm phát, nên càng bổ
sung thêm vốn thì tốc độ lạm phát sẽ tăng lên nhanh chóng.
+ Ngoài ra, lạm phát có thể tác động làm kém hiệu quả của việc sử dụng
nguồn lực như: Làm biến dạng cơ cấu đầu tư, làm suy yếu thị trường vốn, làm sai lệch
tín hiệu của giá, làm phát sinh chi phí điều chỉnh giá, làm lãng phí thời gian cho việc
đối phó với tình trạng mất giá của tiền tệ, làm giảm sức cạnh tranh với nước ngoài,
kích thích người nước ngoài rút vốn về nước.
1.2. Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp.
1.2.1 Khái niệm thất nghiệp.
Để đi đến khái niệm thất nghiệp, chúng ta cần tìm hiểu một số quan điểm liên
quan đến thất nghiệp, cụ thể như sau:
- Người trong độ tuổi lao động: Là những người ở độ tuổi được Hiến pháp quy
kiếm việc làm hoặc công việc làm khác tốt hơn, phù hợp với nhu cầu riêng của mình.
- Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự thay đổi cơ cấu kinh tế làm mất cân đối
cung và cầu cục bộ trên thị trường lao động (ngành nghề, khu vực,…,). Đây là loại thất
nghiệp gắn với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh của cung trên thị
trường lao động.
- Thất nghiệp thiếu cầu (thất nghiệp kiểu Keynes): Xảy ra khi cầu chung về lao
động giảm xuống. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là có sự sụt giảm của tổng
cầu. Trong nền kinh tế hiện đại, loại thất nghiệp này gắn liền với suy thoái của chu kì
kinh doanh, vì vậy nhiều khi còn gọi là thất nghiệp chu kì. Dấu hiệu của loại thất
nghiệp này là thất nghiệp xảy ra ở mọi nơi, mọi lĩnh vực.
- Thất nghiệp theo lí thuyết cổ điển: Đây là loại thất nghiệp do có các yếu tố
ngoài thị trường gây ra. Khi tiền công bị ấn định cao hơn mức tiền công cân bằng do
các lực ngoài thị trường.
W SL
LF
W
1
C D E F
W
0
A B
DL
1
DL
2
L
2
L
nghiệp tự nhiên.
Thất nghiệp không tự nguyện: Là những người muốn làm việc ở mức tiền công
hiện hành nhưng vẫn không có việc làm. Thất nghiệp thiếu cầu xảy ra khi tổng cầu
giảm, sản xuất bị đình trệ, lao động không có công ăn việc làm… Vì vậy, loại thất
nghiệp này là thất nghiệp không tự nguyện.
Vậy:
Thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp do cơ cấu là thất nghiệp tự nguyện.
Thất nghiệp thiếu cầu là thất nghiệp không tự nguyện.
Ghi chú:
SL: Đường cung về lao động
LF: Lượng lượng lao động
W: Mức tiền lương
L: Mức lao động
DL: Đường cầu lao động
Thất nghiệp theo lí thuyết cổ điển được xét dưới hai góc độ:
- Đứng ở góc độ cá nhân người lao động thì đây là thất nghiệp không tự
nguyện.
- Đứng ở góc độ tập thể, góc độ toàn xã hội thì đây là thất nghiệp tự nguyện.
Thất nghiệp tự nhiên là thất nghiệp khi thị trường đạt cân bằng. Thất nghiệp tự
nhiên bao gồm: thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu.
Trong hình 1.3, tại mức công w
0
số việc làm đạt cao nhất có thể được mà không
phá vỡ thế cân bằng. Khi số lượng lao động đạt tại L
0
, tiền công được ổn định bởi cân
bằng của thị trường lao động. Khi không có những cú sốc đối với tổng cung và tổng
cầu ngắn hạn thì thị trường hàng hóa đạt cân bằng, giá cả ổn định, nền kinh tế không
xảy ra lạm phát. Cho nên, ở mức thất nghiệp tự nhiên còn được gọi là trạng thái toàn
dụng lao động (mức việc làm đầy đủ). Toàn bộ thất nghiệp tự nguyện ở đây được tính
Giáo sư A.W. Phillips người Anh đã chỉ ra mối quan hệ có tính ổn định giữa mức
thất nghiệp và nhịp độ tăng tiền lương trung bình. Thất nghiệp cao khi tiền lương tăng
chậm và thất nghiệp giảm khi mức tiền lương tăng lên nhanh.
Theo số liệu thống kê của Phillips , thì tỷ lệ thất nghiệp ở mức 2,5% nền kinh tế
có tỷ lệ lạm phát bằng 0. Khi tỷ lệ thất nghiệp lớn hơn 2,5% thì lạm phát nhỏ hơn 0 và
khi tỷ lệ thất nghiệp nhỏ hơn 2,5% thì lạm phát lớn hơn 0.
Đường Phillips ban đầu cho thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lạm phát và thất
nghiệp. Tức là giữa lạm phát và thất nghiệp có sự đánh đổi.
Mối quan hệ giữa tốc độ thay đổi tiền lương và thất nghiệp chu kì được biểu diễn
qua công thức:
∆W/W = -β(u - u*)
Trong đó:
W: Tiền lương danh nghĩa
∆W: Gia tăng tiền lương danh nghĩa
∆W/W: Tốc độ thay đổi tiền lương danh nghĩa
β: Tham số phản ánh nhạy cảm giữa thất nghiệp và lạm phát
(u - u*): Thất nghiệp chu kì
Nếu giả định ∆W/W là ổn định thì mức phần trăm thay đổi của tiền lương danh
nghĩa sẽ bằng mức lạm phát:
gp = -β(u - u*)
Phương trình hàm ý rằng, có thể đánh đổi lạm phát nhiều hơn để có một tỷ lệ
thất nghiệp thấp hơn và ngược lại.
Chính phủ cần phải quyết định xem họ có thể chịu đựng lạm phát ở mức nào để
giải quyết công ăn việc làm. Đường Phillips ban đầu thường được xem xét trong các
chính sách kinh tế ngắn hạn.
1.3.2. Đường Phillips mở rộng:
Tình hình kinh tế đã thay đổi, các nền kinh tế không còn giống đường Phillips
ban đầu, nó có thể cùng một lúc vừa có thất nghiệp cao vừa có lạm phát cao.
Đời sống của người lao động biểu hiện thực sự thong qua tiền lương thực tế chứ
không phải là tiền lương danh nghĩa. Khi lạm phát thường xuyên xảy ra và thay đổi thì
e
Đường Phillips mở rộng
u* u
Đường Phillips ban đầu
Hình 1.4. Quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
Chương 2: Tình hình lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam
giai đoạn 2010-2013
2.1. Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2010-2013.
2.1.1. Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2010.
Năm 2010, lạm phát cả nước ở mức 11,75% dù được dự báo dưới hai con số.
Con số này đã vượt qua mục tiêu 8% mà Quốc hội đã đề ra. Dự báo trước đó của các
tổ chức cũng bị chệch hướng. Vào đầu quý 2/2010, Ngân hàng phát triển Châu Á
(ADB) đã dự báo, lạm phát trong năm này ở khoảng 10%. Trong khi đó, Ngân hàng
Thế giới (WB) đã dự báo lạm phát cả năm 2010 của Việt Nam cũng chỉ ở mức 10,5%.
Thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong năm này biến động rõ rệt.
Hình 2.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước năm 2010
Vào tháng 2, CPI tăng lên mức 1,96%. Nhưng sau đó giảm mạnh ở tháng 3 và
tháng 4 xuống lần lượt là 0,75% và sau đó chỉ còn 0,14%. Từ tháng 5 đến tháng 8, CPI
tăng giảm không nhiều, CPI thấp nhất trong năm là 0,05% vào tháng 7. Nhưng kể từ
tháng 8 đến cuối năm, CPI tăng mạnh, đạt đỉnh điểm 1,98% vào tháng 12 , tăng cao
nhất trong vòng 17 tháng trước đó. Đóng góp chủ yếu vào con số này là mức tăng giá
ở dịch vụ ăn uống 3,31%, riêng lương thực tăng tới 4,67%. Cũng trong tháng này, giá
nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh tới 2,53.
Dưới đây là diễn biến CPI năm 2010 so với năm 2009. Mức CPI tăng tương đối
cao so với năm 2009.
Hình 2.2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2010 so với năm 2009
Diễn biến CPI năm 2010 tạo bởi mức chênh lệch giữa tháng tăng (đỉnh) và tháng
giảm (đáy) lên đến hơn 1,5%. Hai điểm cao nhất ở mức tăng xấp xỉ 2% của tháng 2 và
tháng 12, từ tháng 4 đến tháng 8 chỉ ở xung quanh mức 0%.
Trong quý đầu năm, CPI tăng rất ít giữa các tháng, để rồi lại tăng ngược lên trong
trong năm được phát đi, theo đó sẽ tập trung mạnh vào ổn định nền kinh tế, đặc biệt là
kiềm chế lạm phát. Một mục tiêu quan trọng đặt ra là tăng trưởng cung tiền cả năm
giới hạn ở 20%, tăng trưởng tín dụng 25% so với cuối năm 2009.
Đột biến thứ hai: Lạm phát kéo dài.
Sau khi CPI tháng 3 được công bố, nhiều phân tích cho rằng đỉnh điểm lạm phát
năm nay có thể rơi vào tháng 4, tháng 5 với lập luận rằng mức cung tiền M
2
và tín
dụng cuối năm 2009 tăng khoảng 29% và cả năm là 38%). Tuy nhiên, điều đó đã
không đúng như nhiều suy luận và cảnh báo, trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 8, CPI
liên tục tăng rất thấp, về gần sát mức 0%. Cũng giai đoạn này xuất hiện sự điều chỉnh
đáng kể ở các yếu tố ảnh hưởng đến giá tiêu dùng, sức mua tăng đột ngột thể hiện ở
tổng mức bán lẻ trong tháng 4 và tháng 5 tăng gần 27% so với cùng kỳ, đi kèm với nó
là chỉ số tồn kho giảm tốc. Nhưng không dừng lại ở đó, xu thế này thay đổi nhanh
chóng, tổng mức bán lẻ so với cùng kỳ liên tục trượt xuống mức tăng thấp hơn qua
từng tháng, nguyên nhân là do cung tiền M
2
và tín dụng không hỗ trợ chi tiêu trong
thời gian này.
Đột biến thứ ba: “Bốc đầu” tăng mạnh.
Bốn tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng liên tục duy trì ở mức cao, cho thấy sức
nóng của lạm phát đã ở gần. Điều này xuất phát từ các nguyên nhân:
- Vào tháng 8, sự đổi hướng chính sách lại được ghi nhận, những động thái thay
đổi trên thực tế đều cho thấy việc kiểm soát lạm phát dường như đã lơ là hơn, trong
khi quan điểm ưu tiên cho tăng trưởng lại trỗi dậy.
- Ngày 9/8, giá xăng dầu sau một thời gian dài giữ cố định đã điều chỉnh tăng lên
khoảng 2,5%, đẩy CPI tháng 9 vào vòng thử thách mới. Không lâu sau đó, ngày 18/8,
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND
với USD lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%).
- Gạo xuất khẩu liên tục lên giá đẩy mặt bằng giá trong nước lên theo. Cả năm
loại trừ nhóm này thì CPI chỉ tăng khoảng 7,8% trong năm 2011.
Hình 2.3. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2011 so với năm 2010.
Lạm phát ở mức cao trong năm 2011 là kết quả của nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan. Cùng với việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND tăng thêm 9,3%, việc điều
chỉnh một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu theo giá thị trường như xăng dầu, điện
vào tháng 2 và tháng 3 ó tác động trực tiếp đến tăng CPI các tháng năm 2011. Lạm
phát trong năm 2011 còn do tác động của thiên tai kéo dài mang lại những tổn thất lớn
về người và tài sản, làm ảnh hưởng đến nguồn cung và tăng giá cả lương thực, thực
phẩm.
Khi vài ngày cuối cùng đang khép lại dần, những tàn dư từ lạm phát như lãi suất
còn cao, tỷ giá chưa ổn định hay chính sách vĩ mô sẽ siết thêm nữa,…, khiến lòng tin
chưa dễ tạo dựng. Tồn tại trong một năm tăng trưởng hạn chế là hai trạng thái cảm
nhận của người dân: Lo âu tăng dần đầu năm và bất an cuối năm gắn với lạm phát
đang “bốc đầu” dậy. Những điều nêu trên được biểu hiện qua hai đột biến sau:
Đột biến thứ nhất: Tăng sau Tết.
Liên tiếp tăng tố và đạt đỉnh vào cuối năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng tháng
1/2011 bất ngờ giảm nhẹ xuống mức tăng 1,74% so với tháng 12/2010. Nhiều nhận
định khi đó đã lạc quan cho rằng xu hướng này là tích cực, có thể mở đầu thuận lợi
cho một năm mà Chính phủ đặt quyết tâm kiềm chế lạm phát ngay từ đầu, với chỉ tiêu
khắc nghiệt chỉ có 8%.
Thị trường chứng khoán đón thông tin tích cực, VnIndex tăng điểm liên tục và
đạt đỉnh của năm vào ngày 9/2, ở mốc hơn 522 điểm vào lúc đóng cửa, cũng là mức
cao nhất kể từ tháng 5/2010. Nhưng hiện tượng này chỉ xảy ra ở các năm 1997, 2000,
2008 và 2010 khi có điều chỉnh chính sách lớn hoặc tác động từ khủng hoảng kinh tế
từ bên ngoài. Còn việc chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 phá vỡ xu hướng tăng tốc chỉ là
điều chỉnh trong ngắn hạn.
Tăng lương tối thiểu từ ngày 1/1, tiền lương thưởng Tết về túi người tiêu dùng,
lượng kiều hối nhiều hơn hay tổng tiền gửi giảm trên dưới 3% trong hai tháng trước
Tết,… Bộ tài chính khi đó nhìn nhận, sức mua của các tầng lớp trong dịp Tết Tân Mão
tăng khoảng 20% - 25% so với cùng kỳ năm trước.