HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
BÀI GIẢNG MÔN
NGHIỆP VỤ
THƯƠNG MẠI
Giảng viên: TS. Nguyễn Hoài Anh
Điện thoại: 0948555117
Bộ môn: Quản trị - Khoa QTKD1
Năm biên soạn: 2009
CHƯƠNG 5: DỰ TRỮ HÀNG HOÁ Ở DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI
5.1. KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG CỦA DỰ TRỮ
5.2. PHÂN LOẠI DỰ TRỮ
5.3. CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ DỰ TRỮ
5.4. CÁC MÔ HÌNH QUẢN TRỊ DỰ TRỮ
5.5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI TIẾN QUẢN TRỊ DỰ TRỮ
5.1 KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG CỦA DỰ TRỮ
Trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, do sự cách biệt về
không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng sản phẩm,
do đặc điểm khác biệt giữa sản phẩm sản xuất và sản phẩm tiêu
dùng, do điều kiện địa lý, tự nhiên và khí hậu, hoặc do phải đề
phòng những mất cân đối lớn có thể xẩy ra (chiến tranh, thiên
tai, ...) mà sản phẩm sau khi sản xuất ra không thể tiêu dùng
hoặc tiêu thụ ngay, mà phải trải qua một quá trình nhằm xóa đi
những sự cách biệt…kể trên. Sản phẩm trong trạng thái (hình
thái) này được coi là dự trữ.
Đối với doanh nghiệp, cần thiết phải tập trung một lượng
sản phẩm nhất định nhằm cải thiện dịch vụ khách hàng và giảm
chi phí trong kinh doanh, như: cung cấp sản phẩm và dịch vụ
cho khách hàng đầy đủ và nhanh, và do đó duy trì và phát triển
doanh số; Tập trung một lượng lớn sản phẩm trong vận chuyển
hoặc tại kho giúp giảm chi phí:
hiểm.
Chức năng giảm chi phí: Dự trữ nhằm giảm những chi phí
trong quá trình sản xuất và phân phối. Chẳng hạn nhờ dự trữ tập
trung, có thể vận chuyển những lô hàng lớn để giảm chi phí vận
chuyển, và, tuy phải tăng dự trữ và do đó tăng chi phí dự trữ,
nhưng tổng phí vận chuyển và dự trữ giảm đi đáng kể.
5.2 PHÂN LOẠI DỰ TRỮ
Dự trữ gồm nhiều loại và có thể phân theo nhiều tiêu thức
khác nhau. Một số tiêu thức chủ yếu để phân loại dự trữ trong
hoạt động thương mại:
* Phân loại theo vị trí của sản phẩm trên dây chuyền cung ứng.
* Phân loại theo các yếu tố cấu thành dự trữ trung bình.
* Phân loại theo mục đích của dự trữ.
* Phân loại theo thời hạn dự trữ.
a) Phân loại theo vị trí của sản phẩm trên dây chuyền cung ứng
Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên quan mật
thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một
cách khoa học và có hệ thống, nhằm chu chuyển hàng hóa dịch
vụ, … và những thông tin có liên quan, từ điểm đầu đến điểm
cuối của dây chuyền cung ứng với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu
của người tiêu dùng một cách tốt nhất. Để đảm bảo cho quá trình
logistics diễn ra liên tục thì dự trữ sẽ tồn tại trên suốt dây chuyền
cung ứng, ở tất cả các khâu (hình 5.1):
Ghi chú
Dự trữ
nguyên vật
liệu
Dự trữ bán
thành phẩm
Dự trữ thành
vật liệu để cung ứng theo đơn đặt hàng của người sản xuất thì
cần có dự trữ của nhà cung cấp. Khi nguyên vật liệu được giao
cho người sản xuất, sau khi kiểm tra và làm thủ tục cần thiết sẽ
được nhập kho – dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất được
tiến hành liên tục, nhịp nhàng, đó là dự trữ nguyên vật liệu.
Trong suốt quá trình sản xuất, nguyên vật liệu dưới dự tác động
của các yếu tố khác, như: máy móc, sức lao động, … dần biến
thành sản phẩm.
Để quá trình sản xuất được liên tục, thì trong mỗi công
đoạn của quá trình lại có dự trữ bán thành phẩm. Để có đủ sản
phẩm theo yêu cầu của các đơn đặt hàng, thì sản phẩm làm ra sẽ
được dự trữ tại kho thành phẩm của nhà máy, chờ đến khi đủ số
lượng mới xuất đi. Đó là dự trữ sản phẩm tại kho của nhà sản
xuất. Trong quá trình lưu thông, phân loại hàng hóa sẽ được dự
trữ tại các trung tâm phân phối khu vực, tại kho của các nhà
buôn …
Dự trữ sản phẩm trong phân phối. Khi sản phẩm đến tay
các nhà bán lẻ, để đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng mọi
lúc, nhà bán lẻ sẽ tổ chức dự trữ hàng hóa tại các kho, cửa hàng
– Dự trữ của nhà bán lẻ, và cuối cùng sản phẩm đến tay người
tiêu dùng, họ sẽ tổ chức dự trữ để đáp ứng nhu cầu cá nhân –
Dự trữ của người tieu dùng.
Theo chiều thuận, quá trình logistics sẽ đi từ người cung
cấp nguyên vật liệu cho người tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, ở
mối khâu của quá trình đều tổ chức dự trữ để đảm bảo cho quá
trình liên tục và hiệu quả. Thực tế cho thấy, ở mỗi khâu trong
quá trình logistics có thể xuất hiện những sản phẩm không đạt
yêu cầu cần phải hoàn trả lại, những sản phẩm hư hỏng, khiếm
khuyết, đòi hỏi phải tái chế, bao bì dán nhãn lại. Từ đó dẫn đến
nhu cầu phải tổ chức quá trình logistics ngược (reverse
vận chuyển bao gồm: Thời gian hàng hóa được chuyên chở trên
các phương tiện vận tải, thời gian bốc dỡ, chuyển tải, thời gian
hàng được bảo quản, lưu trữ tại kho bãi của các đơn vị vận tải.
b) Phân loại theo các yếu tố cấu thành dự trữ trung bình
Dự trữ chu kỳ : là dự trữ để đảm bảo cho việc tiêu thụ sản phẩm
(sản xuất hoặc bán hàng) được tiến hành liên tục giữa hai kỳ đặt
hàng (mua hàng) liên tiếp
Dự trữ định kỳ được xác định bằng công thức:
Trong đó:
Dck : Dự trữ chu kỳ (Qui mô lô hàng nhập - Qn)
: mức bán/ tiêu thụ sản phẩm bình quân 1 ngày đêm.
Tdh : thời gian của một chu kỳ đặt hàng (ngày)
Như vậy dự trữ chu kỳ phụ thuộc vào cường độ tiêu thụ sản phẩm và
độ dài chu kỳ đặt hàng. Khi những yếu tố này thay đổi thì dự trữ
chu kỳ sẽ thay đổi theo.
Trong trường hợp chỉ có dự trữ chu kỳ, dự trữ trung bình bằng 1/2
qui mô lô hàng nhập ( )
dhnck
tmQD .
==
m
n
QD
2
1
=
+ Dự trữ bảo hiểm: Dự trữ chu kỳ chỉ có thể đảm bảo cho quá
trình tiêu thụ sản phẩm được liên tục khi lượng cầu ( ) và thời
gian cung ứng/ chu kỳ đặt hàng (tdh) không đổi. Một khi hoặc
tdh hoặc cả hai yếu tố này thay đổi, dự trữ chu kỳ không thể
vv
tmD .
=
D
v
- Dự trữ sản phẩm trên đường
- Mức tiêu thụ sản phẩm bình quân
một ngày
- Thời gian trung bình sản phẩm
trên đường
m
v
t
vb
DD
Q
D
++=
2
c) Phân loại theo mục đích của dự trữ
+ Dự trữ thường xuyên:
Dự trữ thường xuyên nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu
hàng ngày. Dự trữ thường xuyên phụ thuộc vào cường độ và sự
biến đổi của nhu cầu và khoảng thời gian giữa 2 thời kỳ nhập
hàng. Dự trữ thường xuyên bao gồm dự trữ chu kỳ và dự trữ
bảo hiểm.
+ Dự trữ thời vụ:
Có những loại hàng hoá tiêu thụ quanh năm, nhưng sản
xuất có tính thời vụ như: nông sản, ngược lại có những sản
phẩm chỉ tiêu dùng theo mùa vụ nhưng có thể sản xuất quanh
2
1
21
−
+++
=
n
ddd
D
n
D
n
ddd ,...,,
21
5.3 CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ DỰ TRỮ
Quản trị dự trữ trong doanh nghiệp phải đảm bảo 2 yêu cầu
sau:
Yêu cầu trình độ dịch vụ:
yêu cầu giảm chi phí dự trữ.
5.3.1 Yêu cầu dịch vụ
Trình độ dịch vụ là việc xác định các mục tiêu hoạt động
mà dự trữ phải có khả năng thực hiện. Trình độ dịch vụ được
xác định bằng thời gian thực hiện đơn đặt hàng; hệ số thoả mãn
mặt hàng, nhóm hàng và đơn đặt hàng (sản xuất, bán buôn); hệ
số ổn định mặt hàng kinh doanh hệ số thoả mãn nhu cầu mua
hàng của khách (bán lẻ). Những chỉ tiêu trình độ dịch vụ khách
hàng trên đây phụ thuộc khá lớn vào việc quản trị dự trữ.
Trình độ dịch vụ do dự trữ thực hiện được tính toán theo
công thức sau:
c
d
i
- Trình độ dịch vụ của mặt hàng i
n- Số sản phẩm cung cấp
( )
Q
zf
d
.
1
δ
−=
d - độ lệch tiêu chuẩn chung
f(z) - Hàm phân phối chuẩn
Q - Qui mô lô hàng nhập