cấu tạo cơ quan sinh sản của thực vật hạt kín - Pdf 13


Đề tài: Cấu tạo cơ quan sinh sản của thực vật
hạt kín

Giáo viên bộ môn: Nguyễn Bá Hai
Sinh viên thực hiện: Lê Khắc Đào
Lớp: BVTV 42
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA NÔNG HỌC


Cấu tạo cơ quan sinh sản của thực vật hạt kín

1 Cấu tạo hoa

1.1 Đế hoa

1.2. Đài hoa(Kalyx-K)

1.3. Tràng hoa(Corolla-C)

1.4. Nhị hoa(Androeceum-A)

1.5. Bộ nhụy(Gynoeceum-G)

1.6. Công thức hoa

1.7. Sơ đồ hoa•

(Hoa hồng, Mảng cầu…)
Ở một số họ tiến hoá hơn, số lá noãn giảm đi và dính lại với
nhau ở nhiều mức độ, tạo thành bộ nhụy hợp, tuỳ theo mức
độ dính với nhau có thể có các kiểu bộ nhụy sau:

Bộ nhụy dính với nhau phần bầu, nhưng vòi và núm nhụy tự
do: Hoa Cẩm chướng


Bộ nhụy dính với nhau ở phần đầu và phần vòi nhưng núm
nhụy tự do: Dâm bụt

Bộ nhụy dính với nhau hoàn toàn:cây họ Cà. họ Cam.

Bộ nhụy dính với phần vòi và núm nhưng bầu tự do:
Cây Dừa cạn

Cấu tạo của bộ Nhụy

Đầu nhụy: Đầu nhụy là bộ phận chuyên hoá của lá noãn, là
nơi tiếp nhận hạt phấn, bề mặt của đầu nhụy thường được
phủ bởi một mô dẫn dắt, tiếp liền vào trong rãnh của vòi
nhụy. Chúng thực hiện vai trò tiết và có nhiệm vụ tạo môi
trường thuận lợi cho sự nảy mầm của hạt phấn và sự phát
triển của ống phấn ở đầu nhụy


Vòi nhụy: Vòi nhụy là một ống rỗng hoặc đặc, có
thể dài ngắn khác nhau, làm cho đường đi của hạt
phấn có thể khác nhau. Phía trong có thể tạo thành

do đó mức cao hơn so với bầu. Kiểu này tiến hoá hơn vì
noãn ở bên trong được bảo vệ tốt hơn (ổi, Sim,Bầu bí.)

Bầu giữa (Bầu trung): Bầu chỉ dính với dế hoa ở phần dưới,
còn phần trên vẫn tự do (Hoa Mua, Bạch đàn…)


VÞ trÝ t¬ng ®èi cña
bÇu:

Trªn A (Cam)

Giữa B (Mướ p rừng)

Díi C (BÝ, Míp)


Cấu tạo của noãn
Noãn là một khối đa bào, có hình trứng đôi khi có dạng hình
cầu hoặc hình thận.
Mỗi noãn thường gồm 2 phần: phần cuống noãn là nơi đính
noãn vào giá noãn; phần thân noãn là một khối tế bào nhỏ, vỏ
noãn thường để một lỗ nhỏ ở đỉnh gọi là lỗ noãn, chổ noãn
dính vào cuống gọi là rốn, chổ các lớp võ noãn gặp nhau và
dính với phôi tâm gọi là hợp điểm. Chúng ta có thể thấy phôi
tâm tương ứng với túi bào tử lớn và túi phôi tương ứng với thể
giao tử cái.

Các kiểu noãn thường gặp: Tùy theo vị trí tương đối giữa
thân noãn và cuống noãn, người ta phân biệt các kiểu noãn



Noãn thẳng: Trục của thân noãn và cuống noãn ở trên cùng
một đường thẳng, lúc đó lỗ noãn ở vị trí đối diện với cuống
noãn (Hồ tiêu).

Noãn cong: Trục của thân noãn làm thành một góc với
cuống noãn, lúc này lỗ noãn ở vị trí gần cuống noãn hơn.
Nếu góc làm thành giữa trục noãn và cuống noãn là một góc
vuông gọi là noãn ngang (họ Đậu).

Noãn đảo: Trục của thân noãn nằm song song với cuống
noãn, lỗ noãn nằm sát và gần như trùng với cuống noãn (hoa
Hướng dương và loa kèn)

Các kiểu đính noãn:
Đính noãn trung trụ: Thường gặp ở những bầu có nhiều ô
do nhiều lá noãn hợp thành,các gia noãn thương nằm ở góc
trong của ô tạo thành một trung trụ ở giữa bầu và có các đính
xung quanh (Cam,Chanh, Dâm bụt…)

Đính noãn bên(Đính noãn mép): Thường gặp ở bầu có một
ô hoặc nhiều lá noãn dính một phần ở mép tạo thành, các
giá noãn thường nằm ở mép của bầu, chổ ranh giới giữa các
lá noãn (các cây họ Đậu, đu đủ…)
Đính noãn giữa (Đính noãn trung tâm): Thường gặp ở một
số cây Mã đề, Cẩm chướng…kiểu này được tiến hoá từ kiểu
đính noãn trung trụ do vách ngăn giữa các lá noãn bị tiêu
biến đi nhưng trụ do các lá noãn tạo nên vẫn còn.
Ngoài những kiểu đính noãn trên còn có các kiểu đính noãn:

Nếu thiếu một trong 2 bộ phận sinh sản gọi là hoa đơn tính.
Nếu chỉ có nhị hoa gọi là hoa đực

Giảm phân
Nguyên phân
1 tế bào mẹ
(2n)
4 đại bào tử (n)
Nhân
cực .
3 TB cực
2 TB kèm
Noãn cầu
(n) (trứng)
Túi phôi
3 lần

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TÚI PHÔI
3 đại
bào tử
tiêu biến
(2n)•
Nếu trên cùng một cây có cả hoa đực và hoa cái hay hoa
lưỡng tính gọi là cây cùng gốc (Bầu bí,Bắp ). (chiếm tỷ lệ
cao 94% - 95%). Nếu hoa đực và hoa cái tồn tại ở 2 cây
khác nhau ta gọi là cây khác gốc ( chiếm tỷ lệ tệ tương đối
thấp 4- 5%: Rong mái chèo,củ Nâu, Đu đủ…)

Hoa thức và hoa đồ
1.6. Hoa thức: Hoa thức là công thức biểu diễn ngắn gọn
cấu tạo của hoa.
K (Kalyx): Đài hoa; C (Corolla): Tràng hoa; A
(Androeceum): nhị hoa; G (Gynoeceum): nhụy hoa; P
(Perigonium): Bao hoa chưa phân hoá thành đài và tràng.
Sau mỗi chữ ghi con số chỉ số lượng của bộ phận ở mỗi
vòng,nếu thành phần nào thiếu thì ghi số (0) và dùng kí hiệu
dấu (+) hoặc (-). Nếu hoa có bầu trên thì ta gạch dưới số chỉ
số lá noãn; nếu hoa có bầu dưới thì ta gạch trên số chỉ lá
noãn và bầu trung ta gạch ngang số chỉ lá noãn;hoa trong
cùng một vòng dính nhau thì ta ghi những số đó trong ngoặc
đơn ( ).
Vd: hoa Huệ: *0 P
(3+3)
A
3+3
G
(3)

1.7. Hoa đồ: Hoa đồ là sơ đồ biểu diễn cấu tạo cắt ngang của hoa
(hoặc nụ hoa) trên mặt phẳng thẳng góc với trục chính mà hoa phát
triển
Người ta quy ước biểu diễn các thành phần hoa như sau:
:Trục mang hoa được thể hiện bằng vòng tròn nhỏ có thể
để trắng hoặc tôi đen
:Lá bắc được biểu diễn bằng một đường dây cung có mấu lồi
ở lưng
:Lá đài người ta có thể bôi đen hoặc gạch chéo ở bên trong
:Tràng hoa được biểu diễn bởi một cung đường tròn có thể

Buồng đuôi sóc: là kiểu bông mang rất nhiều hoa dày đặc
(hoa một số loại cỏ).

Ngù: kiểu cụm hoa này có cấu tạo giống kiểu chùm, nhưng
phía dưới hoa lại có cuống dài hơn các hoa ở phía trên, nên
các hoa được đưa lên cùng 1 mặt phẳng (hoa Phượng vĩ-
nhủ đơn, và hoa Súp lơ- ngũ kép).


Tán: các hoa cùng nằm trên một mặt phẳng ngang nhưng
cuống hoa đều tập trung tại 1 điểm tren đầu tận cùng trục
cụm hoa. Có 2 loại tán đơn và tán kép, đặc trưng cho các
hoa họ Hoa tán (Cà rốt, Ngò )

Đầu: là kiểu cụm hoa gồm nhiều hoa không cuống mọc xít
nhau trên đỉnh trục cụm hoa thu ngắn lại
-
kiểu cụm hoa hình cầu (hoa Trinh nữ, hoa Keo dậu…)
-
Kiểu cụm hoa hình đĩa (cây họ Cúc)
-
Kiểu cụm hoa hình đầu trạng (Sung, Vả…)
1.8.2. cụm hoa có hạn: là kiểu cụm hoa có cành mang hoa sinh
trưởng có hạn, tận cùng của cành hoa mang hoa là một hoa
xuất hiện sớm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status