BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ XÂY DỰNG CÔNG CỤ HỖ TRỢ ĐÀO TẠO MỘT SỐ
CHUYÊN NGÀNH Y BẰNG MULTIMEDIA
Chủ nhiệm đề tài: BÙI MỸ HẠNH
Chủ nhiệm đề tài: TS. BS. BÙI MỸ HẠNH
Cơ quan (Tổ chức) chủ trì đề tài: TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Mã số đề tài (nếu có): 56
Năm 2009
2
BỘ Y TẾ
Năm 2009
3
1.1.1 Bỏo cỏo kt qu nghiờn cu ti cp B
1. Tờn ti: XY DNG CễNG C H TR O TO MT S CHUYấN
NGNH Y BNG MULTIMEDIA
2. Ch nhim ti: TS. BS. BI M HNH
3. C quan ch trỡ ti: TRNG I HC Y H NI
4. C quan qun lý ti: B Y t
5. Th ký khoa hc ti: BS. Nguyn Thựy Linh - Phũng o to i hc, ĐHY H Nội
6. Th ký ti chớnh ti: CN. on Th Võn Du, Nguyn Th H A B mụn Sinh lý hc,
ĐHY H Nội
7. Phú ch nhim ti hoc ban ch nhim ti (nu cú):
- GS. TS. Quách Tuấn Ngọc
Cục CN TT, Bộ GD-ĐT
8. Danh sỏch nhng ngi thc hin chớnh:
• Mã số: 56
2. Thuộc Chương trình (nếu có):
3. Chủ nhiệm đề tài: TS. BS. BÙI MỸ HẠNH
4. Cơ quan chủ trì đề tài: TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
5. Thời gian thực hiện (BĐ-KT): 10/2006 – 5/2009
6. Tổng kinh phí thực hiện Đề tài: 310 triệu đồng
Trong đó, kinh phí từ NSNN: 310 triệu đồng
7. Tình hình thực hiện đề tài so với đề cương:
7.1/ Về mức độ hoàn thành khối lượng công việc
Hoàn thành đầy đủ ba bộ sản phẩm điện tử cho ba chuyên ngành đạt chuẩn công nghệ và đào
tạo
7.2/ Về các yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN
- Báo cáo toàn văn bao gồm:
• Nghiên cứu tổng quan các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo và
thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo nói chung và đào tạo chuyên
ngành Y nói riêng.
• Quy trình xây dựng học liệu điện tử cho một số chuyên ngành Y
• Quy trình chuẩn hóa các câu hỏi trắc nghiệm bằng phần mềm QUEST
• Các khuyến nghị về định hướng, triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trong
đào tạo chuyên ngành Y
- Các báo cáo khoa học, luận văn thạc sỹ, công trình dự thi Sinh viên nghiên cứu khoa học
1. Bùi Mỹ Hạnh, Nguyễn Bá Thắng, Nguyễn Đức Hưng và cs. (2005). "Ứng
dụng công nghệ thông tin trong xây dựng phần mềm dạy-học chương sinh lý Hệ
thống Tuần hoàn." Tạp chí Nghiên cứu Y học 39(6): 137-142. (giải Ba Hội nghị
khoa học công nghệ tuổi trẻ các trường Y-Dược Việt Nam lần thứ 13)[6].
2. Trần Thúy Liễu (2007). "Góp phần chuẩn hóa một số trắc nghiệm thần
kinh tâm lý đánh giá chức nă
ng nhận thức người bình thường tuổi 50-59." Luận
văn Thạc sĩ Y học - Trường Đại học Y Hà Nội. [11].
3. Lương Linh Ly, Bùi Mỹ Hạnh (2009). "Điểm số trắc nghiệm trí nhớ ở
• Kéo dài thời gian nghiên cứu
Tổng số tháng kéo dài ………tháng
Lý do phải kéo dài do kinh phí cấp không đều/chậm so với đề cương và
tiến độ ban đầu
8. Về những đóng góp mới của đề tài: Trên cơ sở so sánh với những thông tin đã được
công bố trên các ấn phẩm trong và ngoài nước đến thời điểm kết thúc đề tài, đề tài có
những điểm mới sau đây:
8.1/ Về giải pháp khoa học - công nghệ
6
Xây dựng được 2 atlas điện tử và 1 bộ bài giảng điện tử có tích hợp nhiều công cụ
multimedia của ba môn Giải phẫu, Sinh lý, Mô học góp phần làm phong phú thêm học liệu
trong dạy-học các môn học này qua đó nâng cao khả năng tiếp cận, nắm vững kiến thức và
phát triển tư duy của sinh viên Y.
Xây dựng được 3 ngân hàng câu hỏi của ba môn Giải phẫu, Sinh lý, Mô học tích hợp
vào trong bài giảng góp phần phát triển lượng giá thường xuyên, tự lượng giá trong dạy-học
cũng như nâng cao khả năng tiếp cận, nắm vững kiến thức và phát triển tư duy của sinh viên
Y.
8.2/ Về phương pháp nghiên cứu
Xác định được các ứng dụng chính của máy tính và các công cụ multimedia cần thiết
cho dạy-học nói chung và các ứng dụng đặc thù cho dạy học một số chuyên ngành Y như Giải
phẫu, Sinh lý và Mô phôi. Các ứng dụng này sẽ định hướng cho xây dựng một mô hình, quy
trình phát triển các học liệu điện tử, xây dựng cơ sở học liệu, cơ sở dữ liệu cho đào tạo Y tại
chỗ, đào tạo liên tục và e-learning.
Khai thác được các tính năng multimedia cho các bộ học liệu cũng như công cụ lượng
giá trong thực tiễn dạy-học một số chuyên ngành Y (các nội dung của học liệu có thể được sử
dụng như những chất liệu cho việc tự xây dựng các khối kiến thức của từng bài giảng, từng
môn học, là nguyên liệu cho xây dựng phát triển hệ thống đào tạo-lượng giá dựa vào bằng
nối được tất cả các học viên Y và không chuyên Y trên cả nước trong quá trình nghiên cứu,
học tập và rèn luyện tư duy.
,ngày tháng năm 2009
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
(Họ, tên và chữ ký)
TS.BS. Bùi Mỹ Hạnh
8 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT & TT) ngày càng phát triển
mạnh mẽ và trở thành một lực lượng sản xuất vào loại quan trọng nhất trong nền
kinh tế trí thức. Tại nhiều nước phát triển trên thế giới như Hoa kỳ, Đức, Anh,
Pháp, Nhật, Hàn Quốc… cũng như các nước trong khu vực như Singapore,
Malaysia, Đài Loan, Thái Lan những thành tựu của CNTT đã được đưa vào ứng
dụng không những trong các lĩnh v
ực xã hội, kinh tế, khoa học kĩ thuật mà còn
trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục Y học nói riêng.
Dạy – học tích cực là một khái niệm không mới trong giáo dục hiện nay
nhưng lại là vấn đề chưa được triển khai rộng rãi do nhiều lý do khách quan và
chủ quan. Không như phương pháp dạy-học truyền thống coi người thầy là trung
tâm, phương pháp dạy học tích cực lấy người học là trung tâm, buộc người học
phả
i phát huy tính chủ động sáng tạo trong học tập. Vai trò của người thầy chỉ là
giúp cho quá trình học của sinh viên được dễ dàng và lượng giá kết quả cuối
phẩm này đến với người sử dụng ở dạng các đĩa CD-Rom hoặc các khóa học
online. Tuy nhiên, chúng ta không thể sử dụng tất cả các sản phẩ
m công nghệ
multimedia của nước ngoài vì các sản phẩm này được xây dựng phục vụ cho
chương trình học khác với Việt Nam không những về nội dung mà cả về các
mục tiêu học tập. Hơn nữa, tất cả đều được viết bằng tiếng nước ngoài nên việc
sử dụng là rất khó đối với giảng viên cũng như sinh viên Việt nam.
Xuất phát từ những thực trạng kể trên, việ
c xây dựng được các học liệu điện
tử hỗ trợ việc dạy – học một số môn chuyên ngành Y ở Việt Nam góp phần đổi
mới nâng cao chất lượng nội dung, phương pháp và hình thức dạy – học là vô
cùng cấp thiết. Đề tài “Xây dựng một số công cụ đào tạo chuyên ngành Y bằng
multimedia” được tiến hành nhằm mục tiêu:
1. Xây dựng công cụ đào tạo multimedia cho một số chuyên ngành Y.
2. Xây dựng các công c
ụ lượng giá cho các chuyên ngành trên.
Mục tiêu cụ thể của đề tài là:
1. Xây dựng atlas điện tử cho chuyên ngành hình thái đại diện là Giải phẫu
và Mô học có tích hợp phần lượng giá.
2. Xây dựng bài giảng điện tử cho chuyên ngành chức năng đại diện là môn
Sinh lý học có tích hợp câu hỏi trắc nghiệm khách quan có chuẩn hóa.
10
2. TỔNG QUAN
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, việc áp dụng các thành tựu tiên tiến
của khoa học công nghệ là thước đo và cũng là điều kiện đảm bảo thành công
trên con đường hội nhập thế giới của mỗi quốc gia. Việc nghiên cứu thấu đáo và
triển khai các loại hình đào tạo có sự hỗ trợ của CNTT được coi là một giải pháp
quan trọng để giải quyết mâu thuẫn gay gắ
t giữa một bên là đảm bảo, nâng cao
mạng Internet để trao đổi thông tin với nhau bằng công nghệ số. Một khi đã
lên Internet, việc đó đồng nghĩa với việc công khai hoá 24/24, mở ra cho tất cả
mọi người. Đây được coi là giải pháp hữu hiệu tạo ra một hình thức dạy học
mới, vượt lên các giới hạn về không gian và thời gian, tạo ra cơ hội bình đẳng,
phát huy tính chủ động của người học.
2.1. Các hình thức ứng dụ
ng CNTT trong dạy học
Hiện nay, có nhiều cách phân loại về các hình thức ứng dụng CNTT trong
dạy và học nhưng nói chung thường được chia làm hai hình thức là đào tạo dựa
vào máy tính (Computer Base Training- CBT) và học điện tử (E-learning)[10].
2.1.1. CBT là hình thức người dạy sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các
trang thiết bị như máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia
để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến học viên, kế
t hợp với phát huy những thế
mạnh của các học liệu điện tử như BGĐT, atlas điện tử với sự tích hợp các
hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh… Hình thức học tập này tạo
ra sự tương tác người và máy. Atlas điện tử là sản phẩm tập hợp đầy đủ các hình
ảnh số hóa được tổ chức thành một hệ thống có quan hệ
, bổ xung cho nhau trong
một môn học thống nhất còn BGĐT là một tổ hợp các sản phẩm số hóa chứa văn
bản, âm thanh, hình ảnh, đồ họa, ký hiệu, thí nghiệm mô phỏng[17]… được thiết
kế , tổ chức theo ý đồ, mục tiêu sư phạm nhất định nhằm giải quyết những mục
tiêu dạy học, đảm bảo tính toàn vẹn và thống nhất của quá trình dạy học. Cả hai
sản phẩm này có thể được dùng một cách độc lập hoặc tích hợp với các phương
pháp dạy học truyền thống.
Khi nói đến BGĐT và atlas điện tử đều phải xét đến tính “tương tác”. Nội
dung của dạy học truyền thống là những kiến thức khoa học được chắt lọc và
đóng gói trong giáo trình, sách giáo khoa và được chuyển đến người học theo
một chiều cứng nhắc (ngườ
chúng[62]. Việc xây dựng được các họ
c liệu này sẽ là nhân tố quan trọng đem
lại cơ hội học tập hiệu quả với chi phí thấp cho nhiều người nếu đưa đến với E-
learning, một trong những biện pháp thực hiện “Học tập suốt đời” mà UNESCO
hướng tới.
2.1.2. Khóa học điện tử (E-learning) và chuẩn SCORM (Sharable Content
Object Reference Model)
2.1.2.1. Khóa học điện tử (E-course, E-Learning): là phương thức đào tạo, dạy
h
ọc dựa trên các ứng dụng máy tính, mạng Internet và công nghệ web. Đây là
hình thức học viên sử dụng máy tính để tự học qua mạng Internet. Quá trình này
được điện tử hóa, số hóa cho phép người học, người dạy và nội dung tri thức
tương tác với nhau ở mọi nơi, mọi lúc. Điểm nổi trội của E-learning là lấy người
13
học làm trung tâm, người học sẽ tự làm chủ quá trình học tập của mình, người
dạy chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập cho người học. Để liên kết các thành
phần kể trên sẽ là một hệ quản trị nội dung hoàn chỉnh để vừa có thể dùng để tổ
chức đào tạo vừa có thể dùng để tự đào tạo, vừa có thể áp dụng đố
i với hình thức
đào tạo tập trung, vừa có thể áp dụng đối với hình thức đào tạo từ xa và phân
tán. Người học trực tuyến có thể chủ động chọn những kiến thức phù hợp với
mình so với hình thức tiếp thu thụ động trên lớp[55]. Cùng với việc đánh giá
được nhu cầu thực tế, học trực tuyến có thể áp dụng cho tất cả các nhu cầu cụ
thể nhất. Thêm vào đó, đào tạo trực tuyến đồng bộ giúp người học có khả năng
tự kiểm soát cao thông qua việc tự đặt cho mình tốc độ học phù hợp, bỏ qua
những phần hướng dẫn đơn giản không cần thiết mà vẫn đáp ứng được tiến độ
chung của khoá học. Tuy nhiên ngay cả những nước phát triển thì việc tổ chức,
triển khai sử d
ụng các học liệu điện tử cho các khóa học E-learning chuyên
triển xong một khóa học E- learning (có thể đào tạo
cho hàng ngàn học viên với chi phí tổ chức đào tạo
cho 20 học viên, tiết kiệm lương của người dạy, chi
phí thuê phòng học, chi phí đi lại ăn ở cho học viên,
chi phí hao tổn năng suất do thời gian học viên phải
đi học. Tuy nhiên chi phí ban đầu để phát triển một
khóa học E- learning lớn g
ấp 10 lần so với chi phí
triển khai một khóa học thông thường với nội dung
tương đương.
Mức giảm chi phí tổ chức
quản lý và đào tạo tuy không
bằng E-learning nhưng lại tiết
kiệm được chi phí đầu tư ban
đầu đặc biệt là có thể triển
khai ngay vì toàn bộ khóa học,
chương trình học E-learning
chưa thực sự chuẩn.
Tận dụng được nguồn giảng viên chất lượng cao của
trong và ngoài nước. Giảng viên đóng vai trò là
“nguồn cung cấp thông tin và kiến thức” .
Giảng viên còn là người ở phía
sau và gián tiếp kiểm soát các
hoạt động của học sinh.
Rút ngắn thời gian đào tạo 40-60%, không bị giới
hạn bởi số lượng giảng viên và lớp học nhưng khó
nhất là thay đổi chương trình đào tạo đồng bộ.
Khắc phục được những bất cập
về tính logic về trình tự dạy-
học kiến thức-thực hành.
thúc khóa học.
Có thể tự quyết định cấp độ và tốc độ học của mình, Tương đương
15
tự điều chỉnh tốc độ học nhanh hoặc chậm giúp học
viên giảm áp lực và tăng hứng thú học. Tự tin hơn
với việc học lại hoặc tham khảo thêm các nguồn tài
liệu bổ sung mà không gặp phải áp lực bị kiểm soát.
Có thể kiểm tra tính xác thực do làm các bài mô
phỏng. Việc ôn tập và kiểm tra trình độ mà “không
có ai giám sát hoặc cho điểm” tạo tâm lý thoải mái.
Tương đương
Chi phí kỹ thuật cao: Để tham gia khóa học trên
mạng, học viên cần phải cài đặt các phần mềm công
cụ trên máy tính của mình, các chức năng cắm và
chạy, phải kết nối mạng.
Chi phí vừa phải vì được giảm
trừ từ chi phí chung
Việc học có thể buồn tẻ do thiếu các quan hệ bạn bè
và sự tiếp xúc trên lớp.
Học viên sẽ thích thú hơn với
việc được tiếp xúc, giao tiếp
với giảng viên và học viên
khác
Thực tế, ngay cả những nước phát triển, việc triển khai e-learning trong
đào tạo nói chung là cần thiết nhưng chưa được triển khai rộng rãi do tính đặc
thù trong đào tạo chuyên ngành Y. Giải pháp triển khai blended learning được
nhiều ý kiến ủng hộ hơn trong hoàn cảnh thực tế hiện nay[26, 27].
2.1.2.2. Chuẩn SCORM: Nói đến e-learning là nói đến chuẩn SCORM (viết tắt
. Vấn đề quan trọng và bắt buộc đối với người dạy là
phải biết khai thác nguồn tài nguyên phong phú trên internet để làm tốt việc ứng
dụng CNTT trong dạy học. Có 2 phương pháp để khai thác các thông tin phục
vụ cho việc giảng dạy:
- Truy cập các thư viện tài nguyên trực tuyến
Wikipedia.org
(trang tiếng Việt là vi.wikipedia.org) là hệ thống bách khoa toàn
thư khổng lồ, do hàng chục triệu tình nguyện viên trên Thế giới và trong nước
đóng góp xây dựng. Có thể tìm ở đây từ các kiến thức khoa học phổ thông đến
các nghiên cứu khoa học chuyên ngành, tìm hiểu về tiểu sử những người nổi
tiếng cho đến những vấn đề thời sự được cập nhật hàng ngày
Youtube.com
là trang web chia sẻ video lớn nhất thế giới, ở đây chúng ta có thể
dễ dàng tìm được những tư liệu phim phù hợp với mục đích dạy học. Ở Việt
Nam cũng có trang chia sẻ video riêng ở địa chỉ Clip.vn
Thư viện tư liệu giáo dục
( http://tulieu.violet.vn ) là trang web chia sẻ các tư
liệu phim, ảnh, flash phục vụ cho giáo dục và đào tạo của Việt Nam.
Thư viện bài giảng điện tử
( http://baigiang.violet.vn ) là trang web cho phép
người dạy chia sẻ các bài giảng và giáo án của mình, đồng thời tham khảo các
bài giảng và giáo án của rất nhiều người dạy khác trên cả nước.
17
Thư viện giáo trình điện tử ( http://ebook.edu.net.vn.) là trang web tập hợp các
giáo trình bậc đại học và chuyên ngành từ các dự án của Bộ GD&ĐT với các
trường đại học lớn trên cả nước như Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Sư
phạm Hà Nội, Đại học Cần Thơ
Thư viện tư liệu giáo dục và thư viện BGĐT là các hệ thống mở, không những
giúp người dạy có thể download các tư liệu d
khắc phục những điểm hạn chế của CNTT và đặc biệt cần tránh những nhìn
nhận quá tuyệt đối hóa về CNTT trong thực tế dạy-học .
2.2. Công nghệ multimedia trong xây dựng các học liệu điện tử và khóa học
điện tử
Công nghệ multimedia là tất cả các loại thiết bị công nghệ có chức năng
truyền phát thông tin theo hướng chuyển đổi thông tin thành kiến thức thông qua
sự kích thích nhậ
n thức của người học và có tác dụng làm đòn bẩy cho năng lực
học tập ở các giác quan của con người. Công nghệ multimedia bao gồm hai
thành phần chính là: Thiết bị công nghệ (gồm tất cả các thiết bị công nghệ ví dụ
như bo mạch chủ, màn hình, đầu máy vi deo, các thiết bị thu phát âm thanh, các
phần cứng, phần mềm, các giải pháp công nghệ, các thuật toán mã hoá, truyền
thông tin và giải mã…) và các nội dung multimedia (đó là thông tin và sự
chuyển đổi thông tin thành kiến thức nhờ thiết bị công nghệ multimedia). Thông
tin chỉ là những dữ liệu đơn giản còn kiến thức là thông tin đã được trau chuốt tỉ
mỉ nhằm đạt được mục tiêu. Ví dụ các hình ảnh về tim khi được trình chiếu liên
tục chỉ là thông tin về tim trong khi vẫn là những hình ảnh này được bố trí theo
một trình tự, có thuyết minh dẫn dắt theo một kịch bản sư phạ
m lại trở thành
kiến thức. Như vậy nội dung gồm có hai phần: phần chuẩn bị nội dung nhằm
cung cấp thông tin và phần trình bày nội dung theo một kịch bản sư phạm đã
được thiết kế từ trước để biến nội dung thành kiến thức.
Trong giáo dục, công nghệ multimedia được ứng dụng hỗ trợ cho cả bên
trong và bên ngoài cơ sở đào tạo mà thực chất chính s
ự tương tác giữa phần học
liệu và e-learning. Sức mạnh của các công cụ nằm ở khả năng tương tác và làm
việc cộng tác để tạo ra kiến thức một cách hiệu quả vì kiến thức là một cấu trúc
xã hội[63, 64].
- Mô phỏng các đối tượng cần nghiên cứu: Nói chung các cấu trúc cũng như
hoạt độ
ng chức năng xảy ra bên trong cơ thể đều khó mô tả bằng lời mà người
học có thể hiểu được. Điều đó gây khó khăn cho việc nghiên cứu tìm ra những
mối liên quan, tương tác giữa hình thái với chức năng và những qui luật điều
hòa hoạt động của chúng. Nhờ các công cụ multimedia về trình chiếu, đồ họa
hay thiết kế … ta có thể mô phỏng, minh hoạ các hiện tượng, quá trình sinh lý,
bệ
nh lý một cách trực quan và chính xác hơn thông qua các dấu hiệu, mối quan
hệ có tính bản chất nhất và qua đó tìm ra các kiến thức mới (mối quan hệ, quy
luật mới…) để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nhận thức của học viên. Mô
phỏng sẽ hiển thị các hiện tượng, các quá trình trên màn hình, làm cho quá trình
đó có thể thay đổi bởi tương tác giữa người và máy giúp việc dạy-học trở nên dễ
20
dàng. Tuy nhiên, việc mô phỏng chính xác đến đâu còn phụ thuộc vào hai yếu tố
là mức độ nhận thức của giảng viên về bản chất các hiện tượng, quá trình trong
các môn học và khả năng của người lập trình, sử dụng ngôn ngữ máy tính để
phản ánh lại quá trình đó.
- Công nghệ multimedia có thể hỗ trợ trong việc xây dựng các mô hình các cơ
quan, bộ phận thậm chí là cả cơ thể ở các mức chi tiế
t khác nhau tạo điều kiện
cho việc nhận thức đối tượng đó thuận lợi hơn ở trạng thái tĩnh , động, cũng như
ở các góc độ khác nhau, trong không gian 1,2 hay 3 chiều, với màu sắc đúng
như thực tế.
- Hỗ trợ các thí nghiệm hình thái, chức năng: Bộ PowerLab của hãng AD-
instruments là một ví dụ của sản phẩm ứng dụng multimedia trong dạy-học các
môn học hình thái, chức năng. Không chỉ
dừng ở mức quan sát hiện tượng,
người học có thể đo đạc, thu thập số liệu để rồi suy nghĩ trên các số liệu đó,
2.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo nói chung và
đào tạo chuyên ngành Y nói riêng
2.3.1. Ngoài nước
Công nghệ thông tin thể hiện rõ nét vai trò quan trọng trong kiến tạo mô
hình đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến của các trường Đại học mở. Lúc đầu chỉ là
nhữ
ng thông báo về chương trình đào tạo, sau đó là đăng ký trên mạng và cho
đến hiện nay, học viên có thể học và thi Toefl, GRE hay bất kỳ một chứng chỉ
tiếng Anh có giá trị Quốc tế nào mà không cần phải sang Hoa kì hay đến các Đại
diện uỷ quyền. Nhiều chương trình hợp tác đào tạo đã thực hiện hầu hết các thủ
tục trên mạng. Đây chính là vai trò toàn cầu hoá giáo dục mà CNTT mang lại.
Y học là một ngành khoa học xã h
ội mà thành tựu trong những năm gần
đây luôn gắn liền với thành tựu của CNTT trong chăm sóc và nâng cao sức khoẻ
con người. Cùng với sự phát triển chung của khoa học kỹ thuật, CNTT đã được
ứng dụng trong các trang thiết bị y tế hiện đại với những phần mềm do nhà sản
xuất cài đặt sẵn trong máy như máy siêu âm, nội soi kỹ thuật số, máy CT-
Scanner… Việc ứng dụng CNTT trong mọi công việc liên quan
đến chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân (e-Health) được phát triển rất mạnh mẽ tại nhiều nước
trên Thế giới đặc biệt ở những nước có nền kinh tế phát triển như: Hoa kì, Nhật,
khối các nước EU, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan… Tại các nước này cùng
với một hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin Y học hiện đại, các Hệ thống Thông
tin bệnh viện và Bệnh án đi
ện tử đều được tiêu chuẩn hóa … Kết quả là người
bệnh, các bệnh viện, các trung tâm sức khỏe, các trung tâm nghiên cứu, các
22
trường Y có thể chia sẻ thông tin cần thiết, góp phần đáng kể trong việc nâng
cao chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
ếng Anh. Sinh viên có thể mua hoặc trả tiền để học trên các trang web có tính
năng đào tạo như http://www.ecureme.com/atlas/version2001/atlas.asp
(Hình
3D y khoa tổng hợp); http://www.nebraskamed.com/atlas/index.cfm
( Atlas 3D
23
động); http://medicoguia.com/user/Pagina_de_Atlas/ (Sưu tầm Atlas);
http://www.endoatlas.com/
(Atlas Nội soi hệ tiêu hóa);
http://health.discovery.com/tools/blausen/blausen.html
( Hình ảnh động y khoa
tổng hợp); http://www.mic.ki.se/MEDIMAGES.html
( Sưu tầm Atlas);
http://www.cdfound.to.it/HTML/atlas.htm
( Atlas ký sinh trùng)
http://www.kumc.edu/instruction/medicine/anatomy/histoweb/
( Atlas mô học)
www.histology.anatomy.wisc.edu/
Medical Library (Atlas giải phẫu đơn giản)
http://www.med.umich.edu/lrc/coursepages/M1/anatomy/html/atlas/atlas_index.
html ( Atlas giải phẫu); http://www.bigeye.com/medical.htm ( Sưu tầm Atlas)
http://icarus.med.utoronto.ca/carr/atlas/atlasoutline.htm
( Atlas cho sinh viên -
hình chụp); http://info.med.yale.edu/intmed/cardio/echo_atlas/contents/
(Atlas
siêu âm tim mạch)
http://www.meddean.luc.edu/lumen/MedEd/medicine/dermatology/title.htm
( Atlas da liễu); http://www.med.harvard.edu/AANLIB/home.html
cũng bắt đầu ứng dụng công nghệ multimedia dạy – học bằng ngôn ngữ bản địa.
Các phần mềm này chủ yếu lưu hành nội bộ do sử dụng ngôn ngữ riêng nên
không thấy xuất hiện trên các trang thông tin về
sản phẩm giáo dục.
2.3.2. Trong nước
Ở nước ta, việc sử dụng phần mềm trong giảng dạy bắt đầu xuất hiện ở
dạng thử nghiệm. Các phần mềm này thường mô phỏng một bài tập vật lý
nhỏ[17], một bài toán Trong vài năm trở lại đây, một vài phần mềm dạy học
ngoại ngữ, toán, lý, hoá cấp độ phổ thông và cho trẻ em đã xuất hiện[3, 7]. Tuy
không được sử dụng m
ột cách chính thức nhưng cũng đón nhận được sự ủng hộ
nhiệt tình của đông đảo học viên, sinh viên và các giảng viên. Một số trang web
có thông báo đào tạo trực tuyến nhưng khi kích hoạt vào những trang web này
cũng chỉ thấy một vài địa chỉ liên lạc, sự tương tác giữa học viên và thầy giáo rất
khó khăn[15].
Cũng như mọi trường Y trên thế giới, Giải phẫu, Sinh lý, Mô học, Gi
ải
phẫu bệnh, Hóa sinh, Chẩn đoán hình ảnh… là những môn học y học cơ sở quan
trọng và khó học. Cả người dạy và người học đều cho rằng không đủ thời gian
để truyền tải hay hấp thu với quỹ thời gian eo hẹp và điều kiện học trên giảng
đường 200 sinh viên như hiện nay.
Tại Trường Đại học Y Hà Nội, khái niệm về dạy-học tích cực đã xu
ất hiện
vào năm 1992 cùng với sự thành lập đơn vị Đào tạo giảng viên. Giảng viên của
các trường Y được tập huấn từ 1 đến 2 tuần về phương pháp dạy-học tích cực
trong Y học. Tuy nhiên, hiện tại, sinh viên vẫn phản ánh có một số bài các thầy
không cho biết mục tiêu học tập ngay từ đầu giờ, việc tích cực hoá sinh viên còn
gặp nhiều bất cập do số lượng sinh viên d
ự học quá đông, các trang thiết bị đơn
giản như overhead, micro còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Ngay cả sách