Bài kiểm tra môn lịch sử kinh tế quốc dân - Pdf 13

Họ tên:
Mã SV: CQ53
Lớp: Lịch sử ktqd-9
BÀI KIỂM TRA 20%
ĐỀ BÀI
Câu 1: Phân tích thực trạng phát triển kinh tế các nước tư bản giai đoạn điều chỉnh
từ 1983 đến nay?
Câu 2: Phân tích thực trạng kinh tế Mỹ từ 1983 đến nay?
Câu 3: Phân tích thực trạng kinh tế Nhật Bản từ 1983 đến nay?
Câu 4: Phân tích thực trạng kinh tế Trung Quốc thời kì cải cách và mở cửa từ 1978
đếnnay?
Câu 5: Phân tích tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi
mới (từ 1986 đến nay)?
BÀI LÀM
Câu 1: Phân tích thực trạng phát triển kinh tế các nước tư bản giai đoạn điều chỉnh
từ 1983 đến nay?
a.Bối cảnh lịch sử
Trong giai đoạn 1974 đến 1982, kinh tế các nước tư bản phát triển chậm và bất
ổn định, nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra. Tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp tăng
cao, giữa các nước tư bản nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đồng thời các nước đang phát
triển cũng đấu tranh mạnh mẽ.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, dựa trên lý thuyết của Keynes, điều chỉnh kinh
tế được coi là hoạt động thường xuyên của Chính phủ các nước. Tuy nhiên, trước
những khó khăn và các điều kiện mới xuất hiện, nên từ đầu thập niên 80 các nước
tư bản mới thực sự bước vào giai đoạn điều chỉnh toàn bộ nền kinh tế trên cơ sở
của lý thuyết điều chỉnh mới.
Hiện nay, các nước tư bản cũng đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ
công ở châu Âu, nền kinh tế thế giới đang trên đà suy thoái. Đây cũng là thời cơ và
thách thức đối với các nước tư bản trong vấn đề khôi phục và phát triển kinh tế.
b. Nội dung chủ yếu của điều chỉnh kinh tế
-Điều chỉnh sự can thiệp của Chính phủ theo hướng làm tăng hiệu quả của cơ

ra cuộc họp thượng đỉnh gồm 7 nước (Mỹ, Nhật, CHLB Đức, Anh, Pháp, Ý,
Canada) gọi là nhóm ‘G7’. Trong quan hệ thương mại quốc tế, Tổ chức thương
mại thế giới WTO đã ra đời khắc phục tình trạng bảo hộ mậu dịch mới xuất hiện
trong giai đoạn trước. Ngoài ra, nhiều tổ chức kinh tế khu vực cũng đã ra đời nhằm
xây dựng khu vực mậu dịch tự do, tăng cường khả năng cạnh tranh với khu vực
khác như: Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Liên minh
Châu Âu (EU), Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Tăng cường đầu tư
ra nước ngoài, điều chỉnh dòng chảy và phương thức đầu tư quốc tế là một nét mới
trong điều chỉnh kinh tế của các nước tư bản. Nếu như giai đoạn 50-60, dòng chảy
FDI thường tập trung vào các nước đang phát triển (khoảng 70% tổng số vốn) thì
từ đầu thập kỷ 90 dòng chảy đã đổi theo chiều ngược lại, vốn đầu tư vào các nước
đang phát triển giảm chỉ còn chiếm 16,8%. Năm 1989, FDI của Nhật tập trung chủ
yếu ở Bắc Mỹ và châu Âu (chiếm khoảng 72,1%). Phần còn lại thì riêng các nước
công nghiệp mới (NICs) đã chiếm tới 65,7%. Năm 1998, Mỹ là nước nhận nhiều
vốn đầu tư nước ngoài nhất (193 tỷ USD) đồng thời cũng là nước đầu tư ra nước
ngoài lớn nhất, đạt tới 133 tỷ. Các nước tư bản tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực
công nghệ hiện đại, là những ngành đem lại lợi nhuận cao nhưng cần nhiều vốn,
một nước không có đủ vốn và không có lợi thế để sản xuất tất cả các mặt hàng để
thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của xã hội.
c.Thực trạng của nền kinh tế
Nhìn chung, những biện pháp điều chỉnh kinh tế trên đây có tác động khác
nhau giữa các nước, nhưng cơ bản đã giúp các nước tư bản phát triển khắc phục
phần nào những mâu thuẫn, và dần ra khỏi tình trạng lạm phát, đình trệ cuối những
năm 70. Từ năm 1983 đến 1990 kinh tế các nước tư bản hồi phục với nhịp độ tăng
trưởng bình quân đạt 3,2%/năm. Trong những năm 90 khủng hoảng tuy vẫn xảy ra
ở một số nước nhưng mức độ suy thoái không trầm trọng như trước và không
trùng pha giữa các nước với nhau.
Kinh tế Mỹ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 3%/năm trong những năm
1980-1990. Sau đó có bị suy thoái nhẹ vào năm 1991 (GDP giảm 1%), nhưng tính
chung trong 10 năm (1990-1999) vẫn đạt tốc độ tăng bình quân 3,4%/năm. Nhật

KV
II
KV
III
KV
I
KV
II
KV
III
KV
I
KV
II
KV
III
KV
I
KV
II
KV
III
Mỹ 2.9 31.7 64.7 2 26.4 71.6 1 23 76 0,9 20,6 78,5
Nhật
Bản
8.6 43.0 48.4 3 41 56 2 32 66 1,5 25,2 73,3
CHLB
Đức
3.4 51.6 4 2 37 62 1 30 69 0,9 26,9 69,5
Anh 2.8 42.7 54.5 2 37 62 1 27 72 0,9 23,6 75,5

số này là 41,8 nghìn USD thì đến năm 2010 nó đã tăng lên 47,39 nghìn USD. Có
thể thấy GNI bình quân đầu người của Nhật Bản không ngừng tăng lên và lượng
tăng là khá lớn: tăng từ 30,4 nghìn USD (năm 2005) lên 41,85 nghìn USD (năm
2010).
Bảng 1.2: Thu nhập bình quân đầu người của các nước tư bản
(Đơn vị: nghìn USD)
2005 2007 2008 2009 2010
Mỹ 41,8 46,84 47,84 45,82 47,39
Nhật Bản 30,4 37,76 38 37,52 41,85
Đức 29,7 39,44 42,52 42,4 43,11
Anh 30,9 44,05 45,61 41,08 38,37
Pháp 29,9 39,01 42,06 42,53 42,39
Nguồn: www.worldbank.org
d. Những vấn đề thách thức hiện nay và giải pháp
Điều chỉnh đã có tác dụng đáng kể đối với sự phát triển kinh tế, song các nước
tư bản vẫn chưa giải quyết được nhiều căn bệnh cố hữu của nó. Quá trình quốc tế
hóa và liên kết kinh tế không những không làm giảm mà còn làm cho cạnh tranh
trở nên đa dạng và quyết liệt hơn. Tình trạng thất nghiệp, sự chênh lệch về thu
nhập, bất bình đẳng xã hội vẫn tăng lên, Tình trạng bất ổn định và suy thoái kinh
tế vẫn luôn luôn tiềm ẩn và bắt đầu bộc lộ ngay năm đầu tiên của thế kỷ XXI.
Bảng 1.4: Tỷ lệ thất nghiệp của một số nước tư bản
(Đơn vị: %)
Nguồn: http: www.worldbank.org
Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế các nước tư bản nói riêng và cả thế giới
nói chung đang phải đứng trước những thách thức vô cùng to lớn. Năm 2011, châu
Âu bất đắc dĩ trở thành tâm điểm của cả thế giới khi cuộc khủng hoảng nợ công tại
Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) biến thành cơn “bạo bệnh” đe dọa
xóa sổ mọi thành quả khối này đạt được trong 1 thập kỷ qua. Cuộc khủng hoảng
này vốn bắt nguồn từ năm 2009 và trở nên trầm trọng hơn trong năm 2010 khi các
nước thành viên Eurozone và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thông qua khoản vay khẩn

người lao động nhằm đáp ứng được yêu cầu của sản xuất trong điều kiện mới. Do
vậy, việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động vừa là kết quả
vừa là nguyên nhân của sự phát triển kinh tế trong các nước tư bản. Trong giai
đoạn hiện nay, các nước tư bản cần phải có những chính sách và biện pháp cả ở
phần vĩ mô và vi mô để có thể đương đầu với những thách thức mới.
Câu 2: Phân tích thực trạng kinh tế Mỹ từ 1983 đến nay?
a.Bối cảnh
Kinh tế Mỹ từ năm 1983 có thể chia ra làm 2 giai đoạn lớn: từ 1983 đến trước
11/9/2001 (vụ khủng bố xảy ra tại Mỹ), và từ 2002 đến nay.
Để thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ từ giai đoạn trước, nước Mỹ đã
thực hiện điều chỉnh kinh tế. Và đứng trước những thiệt hại do vụ khủng bố 11/9
gây ra, Mỹ đã có nhiều chính sách nhằm ổn định và phát triển nền kinh tế bậc nhất
thế giới này.
Bắt đầu từ năm 2009, và chính thức sang năm 2010, cuộc khủng hoảng nợ công
ở châu Âu đã tác động to lớn toàn bộ nền kinh tế thế giới chứ không riêng gì nước
Mỹ. Mặc dù trước đó, Mỹ chưa hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng từ cuộc khủng
hoảng tài chính lan rộng thế giới năm 2008. Chính bối cảnh này càng tác động sâu
sắc tới quan điểm và chính sách cũng như các biện pháp để phát triển kinh tế.
b.Những biện pháp chủ yếu điều chỉnh kinh tế Mỹ
- Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng thành tựu của cách mạng khoa học công
nghệ: Chính phủ Mỹ đã tăng khoản chi tiêu của ngân sách cho nghiên cứu và triển
khai công nghệ sản phẩm mới trong những năm 80 gấp 3 lần những năm 70 (từ 60
tỷ USD tăng lên 195 tỷ USD). Đồng thời, Mỹ cũng tăng cường nhập khẩu các sản
phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao.
- Đổi mới tổ chức và quản lý trong công nghiệp: tạo cho các nhà quản lý kinh tế
có tư duy quản lý mới và trình độ tổ chức cao phù hợp với trang thiết bị và công
nghệ tự động hóa. Chú trọng hơn việc nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho
người lao động, Đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý phải có năng lực và trung
thành với công ty.
- Tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và thu hút đầu tư trực tiếp nước

Nguồn: Thời báo kinh tế VN, Kinh tế VN và thế giới
Nhờ tăng trưởng kinh tế tương đối cao liên tục trong nhiều năm, nước Mỹ có
điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ
vẫn cao hơn của Nhật, nhưng thất nghiệp của Mỹ chủ yếu là thất nghiệp cơ cấu và
do số dượng người nhập cư nhiều. Giảm thâm hụt ngân sách và hạn chế lạm phát:
Thâm hụt ngân sách liên bang năm 1980 là 71 tỷ USD, năm 1990 tăng lên 220 tỷ
và lên đến đỉnh cao vào năm 93: 293 tỷ USD, năm 94 thâm hụt ngân sách bắt đầu
giảm xuống còn 203 tỷ. Năm 98 lần đầu tiên sau hơn 3 thập kỷ ngân sách liên
bang Mỹ đạt mức thăng dư 70 tỷ USD, năm 2000 thặng dư ngân sách là 237 tỷ
USD đồng thời lạm phát duy trì ở mức ổn định. Chính điều này đảm bảo cho hoạt
động sản xuất kinh doanh và kinh tế tăng trưởng với những điều kiện thuận lợi.
Để giữ được mức tăng trưởng kinh tế và cạnh tranh vói các trung tâm, Mỹ tăng
cường mở rộng hoạt động đầu tư và xuất khẩu sang khu vực châu Á (chiếm 40%
giá trị thương mại). Kết quả kim ngạch ngoại thương của Mỹ tăng nhanh qua các
năm. Nếu năm 1991 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ đạt 930 tỷ USD, năm
1995 đạt 1355 tỷ, năm 2000 là hơn 2050 tỷ USD.
Nước Mỹ vẫn giữ được vị trí kinh tế hàng đầu thế giới với tiềm lực kinh tế - kỹ
thuật hùng mạnh chiếm khoảng 1/5 tổng sản phẩm quốc dân của toàn thế giới,
chiếm 1/2 số phát minh khoa học lớn và 3/4 ấn phẩm khoa học.
Tuy nhiên, Mỹ cũng gặp không ít khó khăn: thâm hụt cán cân thương mại của
Mỹ liên tục tăng, nợ của chính phủ liên bang lớn, Năm 1989 thâm hụt cán cân
thương mại là 169,9 tỷ USD, năm 1995 tương ứng là 196,2 tỷ, năm 2000 là 379,8
tỷ. Theo số liệu nợ của chính phủ liên bang Mỹ năm 1993 so với GDP là 67,2%,
năm 1999 là 62,6%. Đến năm 2000, nợ của chính phủ liên bang lên tới 3,4 nghìn
tỷ USD. Thế kỷ 21 mở đầu bằng sự kiện Ngày 11 tháng 9 năm 2001, ngày Trung
tâm thương mại thế giới bị lực lượng khủng bố đánh sập đã đưa nước Mỹ vào thời
kỳ khó khăn mới.
II. Kinh tế Mỹ từ 2001 đến nay
-Nền kinh tế Mỹ đã thay đổi không ngừng trong hơn hai thế kỷ qua, nhưng vẫn
duy trì được một số đặc điểm như: là một thị trường cạnh tranh mạnh mẽ, luôn có

2009 -3.5 9.3
2010 3
Nguồn: www.worldbank.org
Mặc dù vậy, nền kinh tế Mỹ vẫn đứng đầu thế giới và tỷ lệ thu nhập trên đầu
người vẫn là cao nhất trong các nền kinh tế lơn của G-20: tính theo tổng sản phẩm
quốc nội thực tế (GDP), năm 2009 đạt 14,3 tỷ USD. Có sự sụt giảm 2,4% so với
năm 2008, GDP của Mỹ vẫn lớn hơn Trung Quốc, nền kinh tế lớn nhất sau mình,
tới 30% (tính theo sức mua của đồng tiền 2 nước, không phải bằng tỷ giá hối đoái
chính thức).
-Theo thành phần kinh tế, có sự dịch chuyển: giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp,
tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ. Tỷ trọng nông nghiệp của nền kinh tế Mỹ liên tục
giảm trong nhiều thế kỷ. Nông dân và công nhân trang trại chiếm khoảng 72% lực
lượng lao động vào năm 1810, thì lại chỉ chiếm chưa đầy 2% vào năm 2010. Dù
vậy, Mỹ vẫn là nước sản xuất ra nhiều cây trồng và vật nuôi thứ hai thế giới, chỉ
đứng sau Trung Quốc. Các mặt hàng nông nghiệp hàng đầu của Mỹ năm 2009 là
gia súc (43,8 tỷ USD), đậu nành (31 tỷ USD), sản phẩm sữa (24,3 tỷ USD) và gà
thịt (21,8 tỷ USD). Tỷ trọng ngành công nghiệp cũng có xu hướng giảm. Tuy vậy,
Mỹ vẫn là nước sản xuất hàng hóa công nghiệp đứng đầu thế giới (tính theo giá trị
gia tăng) vào năm 2009, trước Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc vượt trội về sản
xuất các hàng hóa tiêu dùng tương đối thấp về mặt công nghệ như may mặc, dệt và
các thiết bị gia dụng thì Mỹ lại chuyên về các sản phẩm công nghệ cao như máy
bay, máy công cụ, thiết bị y tế và các thiết bị truyền thông điện tử. Từ thập niên 50,
lĩnh vực dịch vụ đã thống trị nền kinh tế Mỹ. Ngay cả sau cuộc khủng hoảng tài
chính năm 2009, bảo hiểm, tài chính và bất động sản vẫn chiếm hơn 21%GDP.
Năm 2009, trong toàn bộ lực lượng lao động toàn và bán thời giam của Mỹ là 137
triệu người thì riêng các ngành sản xuất hàng hóa của tư nhân đã sử dụng tới 15%
việc làm; các ngành dịch vụ tư nhân chiếm 67%, và 18% còn lại là của chính
quyền liên bang, tiểu bang và địa phương.
-Sự tham gia của công nghệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự phát triển dần
dần của một thị trường lao động 2 tầng, trong đó tầng dưới gồm những người ít

khoảng 250.000 việc làm/tháng mới có thể đưa tỷ lệ thất nghiệp quay trở lại mức
trước suy thoái kinh tế là 6%/năm. Đội quân thất nghiệp lâu dài không kiếm được
việc làm tại Mỹ trong năm qua vẫn duy trì ở mức 315.000 người.
d.Những thách thức hiện nay và biện pháp khắc phục
* Thách thức
-Nợ công tại Mỹ tiếp tục tăng cao. Năm 2011, ngân sách Liên bang Mỹ đã
thâm hụt gần 1,3 nghìn tỷ USD, đánh dấu năm thứ 3 liên tục (kể từ 2009) có mức
thâm hụt trên 1 nghìn tỷ USD.
-Việc tín dụng Mỹ bị hạ tín dụng từ mức AAA xuống AA+ là cú sốc lớn
giáng vào hệ thống ngân hàng, tài chính cũng như nền kinh tế Mỹ. Việc này đã làm
xói mòn hơn niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế vào nền kinh tế số 1 thế giới này.
-Khu vực châu Âu đang đắm chìm trong cuộc khủng hoảng được coi là tồi
tệ nhất kể từ khi đồng tiền chung châu Âu ra đời cũng đã đang và sẽ tiếp tục ảnh
hưởng tiêu cực tới nền kinh tế Mỹ cũng như của toàn thế giới.
-Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các nền kinh tế mới nổi BRICS, đặc
biệt là Trung Quốc.
*Những giải pháp
- Một số chuyên gia phân tích dự đoán, Mỹ có thể áp dụng biện pháp
giảm lãi suất Quỹ dự phòng hoặc sử dụng gói kích cầu mới (mang tên biện pháp
nới lỏng định lượng QE3) vào nửa đầu năm 2012.
- Tổng thống Mỹ Barak Obama đã từng phát biểu “Vấn đề này có tầm
quan trọng lớn đối với nền kinh tế của chúng ta. Nếu kinh tế châu Âu suy thoái
hoặc gặp khó khăn, chúng ta sẽ còn gặp khó khăn hơn trong việc tạo công ăn việc
làm ở trong nước”. Vì thế, Mỹ vẫn phải “chung tay” giải cứu khu vực châu Âu ra
khỏi cuộc khủng hoảng nợ công.
-Tiếp tục xây dựng và thực hiện kế hoạch giải quyết nạn thất nghiệp, làm
giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm đáp ứng nhu cầu của xã hội,
-Khôi phục và vực dậy thị trường nhà đất-bất động sản,.
-Giảm chi tiêu ngân sách, giảm mức thuế thu nhập cá nhân và tăng đầu tư
vào xây dựng cơ sở hạ tầng.

Chính sách vay mượn kỹ thuật của nước ngoài của Nhật Bản trong thời kỳ trước
đã không còn phù hợp với tình hình mới. Do vậy, từ cuối những năm 1970, đầu
1980, Nhật Bản đã thực hiện một chiến lược phát triển khoa học – kỹ thuật trên cơ
sở những ưu tiên sau:
- Chuyển từ vay mượn thành tựu nước ngoài sang tự đảm bảo những kỹ thuật và
công nghệ tiên tiến; mở rộng hợp tác khoa học – kỹ thuật trên nền khoa học cơ bản
của Nhật Bản.
- Nhật Bản tập trung nghiên cứu và ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất
các mặt hàng có hàm lượng khoa học cao, có sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới: ứng dụng công nghệ rộng rãi máy vi tính để điều hành các hoạt động của nền
kinh tế quốc dân, áp dụng tự động hóa vào quá trình sản xuất, áp dụng công nghệ
vật liệu mới, công nghệ sinh học…
- Tích cực nghiên cứu và áp dụng các thiết bị và quy trình công nghệ tiết kiệm
năng lượng, nguyên liệu trong tất cả các ngành nghề. Đa dạng hóa các nguồn năng
lượng: năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, thủy triều, nhiên liệu hóa
thạch…
Điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế.
Do tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và nhu cầu thực tế của nền
kinh tế vào đầu những năm 1980, ở Nhật Bản có xu hướng điều chỉnh cơ cấu
ngành theo hướng:
- Giảm tỷ trọng các ngành công nghiệp truyền thống, tăng tỷ trọng các ngành
công nghiệp chế biến và dịch vụ. Đặc biệt tăng nhanh các ngành công nghiệp mới,
ngành có hàm lượng khoa học cao như sản xuất máy tính điện tử, người máy công
nghiệp, mạch tổ hợp, dịch vụ thu nhập, xử lý chuyển giao thông tin…
- Phát triển lĩnh vực dịch vụ: đây là đặc điểm quan trọng của quá trình cải tổ cơ
cấu kinh tế của Nhật Bản trong những năm 1970 và 1980. Các ngành dịch vụ mới
như dịch vụ thiết kế, tư vấn kỹ thuật, tín dụng trả tiền, thuê thiết bị, cung cấp lao
động, các loại dịch vụ tiêu dùng… đã tăng mạnh làm thay đổi tính chất của quá
trình sản xuất, thay đổi động thái tổng cầu trong nền kinh tế Nhật Bản và trực tiếp
làm tăng nhanh tổng giá trị sản phẩm trong nước. Nếu trong thời gian từ 1955 đến

trên thị trường thế giới và do sự đòi hỏi của công cuộc tái triển khai công nghiệp
trong nước. Do vậy, từ đầu những năm 1980, đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản
tăng lên nhanh chóng, từ 7,7 tỷ USD năm 1982 tới 47 tỷ USD năm 1988, 67,54 tỷ
USD năm 1989;56,9 tỷ USD năm 1990. Trung bình tăng 54% một năm trong thời
kỳ 1985-1989 so với 14% trong thời kỳ 1981-1985. Nhật Bản tăng cường đầu tư ở
đây chủ yếu là dịch vụ, thương mại, ngân hàng và các ngành chế tạo. Mục đích của
việc đầu tư vào các nước này là chọc thủng hàng rào bảo hộ của các nước này đối
với hàng Nhật, cạnh tranh trên chính mảnh đất của họ. Mặt khác, Nhật Bản còn
đầu tư sang các nước đang phát triển, đặc biệt là khu vực Đông và Đông Nam Á
(chiếm trên 50% đầu tư của Nhật Bản vào các nước đang phát triển )
Năm 1997, Thủ tướng Hashimoto đã tuyên bố trước Quốc hội về những biện
pháp chính sách sẽ thực hiện để cải cách kinh tế:
- Cải cách hệ thống tài chính là chương trình quan trọng nhất của cải cách lần
này. Mục tiêu cơ bản của cải cách hệ thống tài chính là làm cho thị trường tài
chính Nhật Bản năng động, linh hoạt, tự do, công bằng và minh bạch hơn để nâng
cao các chuẩn mực, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các tổ chức tài chính
Nhật Bản.
- Cải cách chế độ bảo hiểm xã hội, xem xét lại hệ thống bảo hiểm hiện nay, nhất là
bảo hiểm y tế để lập ra một hệ thống bảo hiểm xã hội đáp ứng được các nhu cầu
của xã hội đang già hóa ở Nhật Bản.
- Cải cách cơ chế kinh tế mà nông dân chủ yếu là giảm sự quản lý của Nhà nước
đối với giới kinh doanh, đồng thời chú ý kích thích tiêu dùng.
- Cải cách hệ thống tiền tệ chuẩn bị cho việc mở rộng thị trường của ngân hàng
Nhật Bản đối với các nước khác, tăng vị thế của đồng yên.
- Cải cách giáo dục: Thay hệ thống giáo dục truyền thống, nhấn mạnh việc học
một cách máy móc, ghi nhớ, bằng một hệ thống mới giáo dục mới nhấn mạnh tư
duy độc lập, sáng tạo của con người Nhật Bản.
c. Thực trạng phát triển
I. Giai đoạn từ năm 1974 đến năm 1991
- Cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1974 chấm dứt thời kỳ phát triển nhanh và

ngân hàng của Nhật Bản đứng đầu trong số các ngân hàng lớn nhất thế giới. Năm
1988, các tổ chức tài chính Nhật Bản chiếm 36% tài sản ở nước ngoài trên thế giới,
Mỹ chỉ có 14%. Người Nhật cũng được đánh giá là thành công trong lĩnh vực
ngoại thương và đầu tư quốc tế. Bằng nhiều biện pháp khác nhau, Nhật Bản đã
chiếm lĩnh được thị trường cạnh tranh với Mỹ và Tây Âu về nhiều loại sản phẩm
công nghiệp và dịch vụ ở các khu vực trên thế giới, ngay cả trên chính thị trường
của Mỹ và các nước Tây Âu.
II. Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2008
Từ năm 1992 đến nay, nhiều năm kinh tế phát triển dưới 1% và cho dù Nhật
Bản đã nhiều lần đưa ra đối sách song chưa có năm nào kinh tế phát triển đạt 3%.
Có thể nói đây la thời kỳ suy thoái tồi tệ nhất mà Nhật Bản gặp phải kể từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai: phục hồi chậm và tăng trưởng mức thấp. Đến năm
1998, do tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính châu Á, mức tăng trưởng là
số âm (-2,5%). Tỷ lệ thâm hụt ngân sách ở mức cao nhất trong nhóm G7 (5,4%
GDP). Tính đến 6-1998, số người thất nghiệp lên đến gần 3 triệu người, tỷ lệ thất
nghiệp lên đến 4,1%, mức cao nhất trong 40 năm qua.
Hình 3: Tốc độ tăng trưởng GDP trong những năm 1991-2007 (%)
Nguồn: Ngân hàng Thế giới 1991-2008
Nguyên nhân của vấn đề trên là do hiện tượng “nền kinh tế bong bóng” và hậu
quả của nó. Đó là vấn đề bất động sản tăng giá đột biến vào cuối thập kỷ 80 và
cũng giảm giá đột ngột vào đầu thập kỷ 90. Xét về nguyên nhân dài hạn, các nhà
kinh tế cho rằng đây là kết quả ảnh hưởng của nhân tố kinh tế có tính chu kỳ. Do
đầu tư cho thiết bị giai đoạn 1987-1990 rất cao, gây mất cân đối trong nền kinh tế
có sự mất cân đối. Ngoài ra, sự không thích nghi của thể chế tài chính đã bộc lộ
bằng bội chi ngân sách quá lớn. Năm 1996, bội chi tài chính của Chính phủ Nhật
trên danh nghĩa chiếm 7,4% tổng thu nhập quốc dân. Trong bối cảnh của cuộc cách
mạng khoa học - kỹ thuật mới, việc coi nhẹ nghiên cứu cơ bản, chú ý nhiều đến
nghiên cứu ứng dụng đã dẫn đến hậu quả là Nhật mất dần ưu thế trong lĩnh vực kỹ
thuật cao cấp mũi nhọn.
Tuy nhiên, nhờ vào cải cách kinh tế từ đầu năm 1997 mà nền kinh tế Nhật Bản

trong khi nhu cầu trong nước tiếp tục ở mức không cao. Ngân hàng phát triển châu
Á (ADB) dự báo kinh tế Nhật Bản sẽ giảm 0,5% trong năm 2012.
Ở Nhật, sự phát triển kinh tế luôn gắn liền với việc cải thiện và nâng cao đời
sống người dân. Phát huy tối đa nhân tố con người trong phát triển kinh tế Nhật
Bản đã coi trọng cả hai mặt, vừa làm giàu nguồn lực, vừa tổ chức khai thác có hiệu
quả nguồn lực này. Giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định trong việc làm tăng
chất lượng con người, một yếu tố tạo nên sự tăng trưởng nhanh.
Những thành tựu kinh tế mà Nhật Bản đã đạt được từ năm 1974 là do nhiều
nhân tố quyết định, không thể không nhắc tới vai trò của của con người lao động
Nhật, Nhà nước với những chiến lược định hướng quan trọng, việc sử dụng nguồn
vốn có hiệu quả, chiến lược khoa học-kỹ thuật đúng đắn, Tuy nhiên, sự phát triển
kinh tế đó cũng có nhiều mặt trái đáng báo động. Đó là tình trạng nợ công lớn,
vấn nạn ô nhiễm môi trường, đặc biệt sau thảm họa từ nhà máy điện hạt nhân gây
ra cho môi trường sinh thái ở Nhật. Cái giá quá đắt nếu môi trường bị hủy hoại.
Cùng với tình hình chung của thế giới, Nhật cũng đang chịu ảnh hưởng từ cuộc
khủng hoảng nợ công ở châu Âu nên rất có thể kinh tế sẽ lại rơi vào vòng xoáy
khủng hoảng mới. Một thách thức nữa đặt ra là việc Trung Quốc đã vượt qua
Nhật, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Trong tình hình với nhiều thách thức
và khó khăn như vậy, liệu Nhật Bản có vượt qua được hay không và vượt qua bằng
cách nào đang là một dấu hỏi lớn, liệu Chính phủ Nhật sẽ có những biện pháp gì,
nền kinh tế Nhật sẽ phục hồi và phát triển ra sao,
Câu 4: Phân tích thực trạng kinh tế Trung Quốc (TQ) thời kì cải cách và mở cửa từ
1978 đến nay?
a.Bối cảnh
Sau 20 năm (1958-1978) thực hiện các đường lối kinh tế tả khuynh đã rơi vào
tình trạng trì trệ, kém phát triển. Trong nông nghiệp, 700 triệu nông dân với lao
động thủ công là phổ biến. Công nghiệp thì nhiều ngành sản xuất còn lạc hậu mấy
chục năm, thậm chí có ngành lạc hậu hàng trăm năm so với công nghiệp ở các
nước phương Tây. Trình độ sản xuất rất thấp kém, kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên
còn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong ngành kinh tế. Tình trạng đóng cửa lâu

nghĩa, tăng cường pháp chế, nhận định chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng
thực hiện của Nhà nước, tinh giản bộ máy quản lý.
c. Thực trạng phát triển
Kinh tế tăng trưởng nhanh
Từ sau cải cách và mở cửa, kinh tế TQ liên tục tăng trưởng cao, tiềm lực của
nền kinh tế đất nước không ngừng được tăng cường. Từ 1979 đến 2005, tốc độ
tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 9,5%. Năm 2006, GDP của Trung Quốc đạt
10,5%. Từ năm 2005 đến năm 2010, kinh tế Trung Quốc duy trì mức tăng trưởng
mạnh, GDP trung bình mỗi năm đạt tới hơn 10%, trong khi GDP đầu người cũng
vượt 4.000 USD. GDP trong năm 2010 đạt tới hơn 38.000 tỷ nhân dân tệ (tương
đương gần 5800 tỷ USD), gấp đôi năm 2005; vươn lên trở thành nền kinh tế đứng
thứ 2 trên thế giới sau Mỹ.
Bảng 4.1: Tốc độ tăng trưởng của Mỹ giai đoạn 1978 đến 2011(%)
Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa
Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế có xu hướng giảm tuy giá trị tuyệt
đối vẫn tăng, đồng thời tỷ trọng của công nghiệp dịch vụ tăng lên. Trong quá trình
chuyển sang kinh tế thị trường, vai trò của kinh tế dịch vụ ngày càng có ý nghĩa
quan trọng với sự phát triển kinh tế của đất nước. Các loại hình kinh tế dịch vụ về
tài chính, tiền tệ, thương mại, chuyển giao công nghệ, du lịch, Những năm qua thị
trường vốn cũng có những chuyển biến tích cực. Các ngân hàng chuyên doanh, các
tổ chức kinh doanh bảo hiểm, ủy thác và chứng khoán có sự tham gia của nước
ngoài đã được hình thành. Về dịch vụ xuất khẩu lao động cũng đóng góp phần
quan trọng vào thu nhập quốc dân của TQ.
Bảng 4.1: GDP phân theo khu vực kinh tế (%)
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Trung Quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Sự chuyển dịch ấy diễn ra đúng hướng, nó phù hợp với các quốc gia có nền kinh
tế ở điểm xuất phát thấp đang vươn lên trong quá trình công nghiệp hóa. Đó chính
là kết quả của quá trình điều chỉnh kinh tế và những định hướng đúng đắn về thực
hiện chiến lược công nghiệp hóa theo hướng đúng đắn về thực hiện chiến lược

có công nghiệp nguyên liệu truyền thống (thép, xi măng) tăng trưởng gấp đôi mà
công nghiệp vật liệu mới (sợi hóa học,cao su tổng hợp) đã phát triển…Công
nghiệp chế tạo máy có sự thay đổi rất lớn. Sản lượng máy công cụ, máy tính, điện
tử thiết bị thong tin và các loại thiếu bị loại nặng không ngừng tăng lên, cung cấp
trang bị kỹ thuật tiên tiến cho các ngành kinh tế quốc dân phát triển. Phát triển
công nghiệp hàng tiêu dùng cũng có ý nghĩa quan trọng với một nước có hơn 1 tỷ
dân. Trong hơn 20 năm qua, công nghiệp hàng tiêu dùng Trung Quốc đã phát triển
với quy mô lớn ngoài các ngành công nghiệp truyền thống như công nghiệp thực
phẩm, công nghiệp hàng dệt, may, da, đồ điện gia đình, cũng đã phát triển mạnh,
có đóng góp rất lớn, làm cho thị trường phồn vinh và mở rộng xuất khẩu.
Cơ cấu ngành công nghiệp cũng có sự điều chỉnh nhất định: đẩy mạnh phát triển
công nghiệp nhẹ, tuy vậy tốc độ tăng trưởng công nghiệp nặng vẫn nhanh hơn
công nghiệp nhẹ. Công nghiệp năng lượng là công nghiệp hạ tầng quan trọng trong
những năm 1990 đã được tăng cường mạnh mẽ. Tổng lượng sản xuất năng lượng
một lần năm 1978 là 627,7 triệu tấn than, năm 1993 tăng lên 1076,3 triệu tấn, trong
đó than đá là quan trọng nhất. Song song với việc tăng nguồn năng lượng thứ nhất,
Trung Quốc đã nêu rõ phải gây dựng năng lượng lấy điện lực làm trung tâm.
- Kinh tế đối ngoại
+ Ngoại thương: thu hẹp những chỉ tiêu có tính chất mệnh lệnh, chỉ giữ lại
những chỉ tiêu đối với những mặt hàng xuất khẩu trọng điểm. Nhà nước xóa bỏ
chế độ độc quyền quản lý ngoại thương, xóa bỏ tình trạng bao cấp trong kinh
doanh xuất nhập khẩu. Cơ chế định giá xuất nhập khẩu được áp dụng linh hoạt,
thích ứng với sự thay đổi của quan hệ cung cầu và hệ thống giá cả trên thị trường
quốc tế. Từ năm 1994, TQ áp dụng tỷ giá hối đoái thống nhất dựa theo tỷ giá giao
dịch trên thị trường liên ngân hàng. Cũng trong năm này, Luật Ngoại thương được
thông qua. Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và cơ cấu thị trường có nhiều thay đổi rõ
rệt: tăng nhanh xuất khẩu các hàng thành phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao hơn. Về
nhập khẩu, TQ đã thay đổi chính sách nhập khẩu: chỉ nhập khẩu có chọn lọc thiết
bị toàn bộ cho những công trình lớn. TQ cũng tích cực và chủ động tham gia vào
các tổ chức thương mại quốc tế. Năm 1991, TQ tham gia APEC. Bình thường hóa

2002 2003 200
4
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Mỹ 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
Nhật 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3
Đức 3 3 3 3 3 3 3 4 4 4 4
Anh 4 4 4 4 4 4 5 5 6 6 6
Pháp 5 5 5 5 5 6 6 6 5 5 5
TQ 6 6 6 6 6 5 4 3 3 3 2
Nguồn:www.imf.org
d. Những vấn đề thách thức hiện nay và giải pháp
* Những vấn đề thách thức
Từ quý II năm 2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản, vươn lên hàng thứ hai thế
giới về phương diện kinh tế, chỉ đứng sau Mỹ. Tuy nhiên có một thực tế là sự phát
triển của TQ vẫn chưa bền vững và đồng đều, chất lượng tăng trưởng kinh tế
Trung Quốc còn rất kém. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu và
đầu tư. Nếu tính GDP một cách chung chung thì không phản ánh sự thật của xã

Trích đoạn Tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ về y tế và phát triển con ngườ Tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status