Các giai đoạn hình thành tư tưởng hồ chí minh - Pdf 13

Các giai đoạn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh? Giai đoạn nào có ý nghĩa vạch đường cho cách
mạng Việt Nam? Chứng minh?Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh được chia thành các
giai đoạn như sau:a. Từ 1890-1911: Thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách
mạng. Bác tiếp thu truyền thống dân tộc, hấp thụ vốn văn hoá Quốc học và Hán học, tiếp xúc với
văn hoá phương Tây, chứng kiến cuộc sống khổ cực của đồng bào. Bác nảy ý định đi tìm đường
cứu nước, sang phương Tây tìm hiểu xem thế giới làm gì rồi trở về giúp đồng bào mình. b. Từ
1911-1920: Thời kỳ tìm tòi con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Năm 1911, Bác sang Pháp,
sau đó sang Anh, Mỹ. Năm 1913, Người từ Mỹ quay lại Anh tham gia công đoàn thuỷ thủ Anh.
Năm 1917, Người từ Anh lại sang Pháp vào lúc nổ ra cách mạng Tháng Mười Nga, Pa-ri sôi
động tìm hiểu cách mạng tháng Mười. Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc ra nhập Đảng xã hội Pháp.
Tháng 8/1919, Bác gửi bản yêu sách của nhân dân An-nam đến hội nghị Véc-xay. Đại hội XVIII
Đảng xã hội Pháp thảo luận vấn đề gia nhập Quốc tế III, ngày 30/12/1920 Hồ Chí Minh biểu
quyết tán thành Đảng cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản. Giai đoạn này đánh dấu sự phát
triển vượt bậc thế giới quan của Hồ Chí Minh từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc đến giác ngộ chủ
nghĩa Mác-Lênin, từ chiến sĩ chống thực dân trở thành chiến sĩ cộng sản Việt Nam. Đây là giai
đoạn quan trọng có ý nghĩa vạch đường cho cach1 mạng Việt Nam. c. Từ 1921-1930: thời kỳ
hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam: vừa khoa học vừa
thực tiễn. Hồ Chí Minh đã hoạt động thực tiễn và lý luận phong phú trên địa bàn Pháp như: tích
cực hoạt động trong ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng xã hội Pháp, xuất bản tờ Le Paria nhằm
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam (từ 1921-1923). Năm 1923-1924, tại Liên-Xô, dự
đại hội Quốc tế Nông dân, dự đại hội V Quốc tế cộng sản. Năm 1924, Bác về Quảng Châu, tổ
chức Việt Nam thanh niên cách mạng, mở lớp huấn luyện cán bộ. Năm 1925, tác phẩm “Bản án
chế độ thực dân Pháp” được xuất bản tại Pa-ri. Năm 1927, Bác xuất bản tác phẩm “Đường Kách
Mệnh”. Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị hợp nhất và thành lập Đảng cộng sản
Việt Nam. Người trực tiếp thảo văn kiện “Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng”.
Ngày 3/2/1930, Hồ Chí Minh trở thành nhà tư tưởng theo đúng nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về
cách mạng Việt Nam được hình thành cơ bản. Có thể tóm tắt nội dung chính của những quan
điểm lớn, độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam như sau:- Cách
mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con đường cách mạng vô sản Cách
mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ mật thiết với nhau Cách mạng
thuộc địa trước hết là một cuộc “dân tộc cách mạng”, đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc

Việt Nam. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải:- Nắm vững nội dung cốt lõi của hệ tư tưởng
Hồ Chí Minh, trang bị thế giới quan cách mạng theo tư tưởng của Hồ Chí Minh. - Học tập nhân
sinh quan cách mạng của Hồ Chí Minh: đạo đức, nhân cách mẫu mực của tinh thần độc lập, tự
chủ, đổi mới và sáng tạo.Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam xây
dựng mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.Đối với thanh niên,
học sinh, sinh viên cần coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng…Đảng cần
chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người vừa “hồng” vừa
“chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc quan trọng và rất cần thiết.
Câu hỏi 8: Vận dụng tư tưởng đạo đức, nhân văn, văn hóa Hồ Chí Minh trong xây dựng nền văn
hóa mới?1. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống.Bồi dưỡng thế giới quan,
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.Nêu cao tinh thần yêu nước,
yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên trong lao động, học tập, bảo vệ Tổ quốc XHCNBiết giữ
gìn đạo đức, nhân phẩm, lương tâm, danh dự.2. Học tập và vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí
MinhXây dựng một xã hội nhân văn theo quan điểm Hồ Chí Minh phải bảo đảm công bằng xã
hội, quan tâm đến lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội. Xét đến cùng là phấn đấu cho độc lập ,tự do,
hạnh phúc, công bằng, dân chủ của con người. Tất cả vì con người và do con người. Bồi dưỡng
tinh thần nhân ái, khoan dung góp phần hoàn thiện nhân cách con người mới.3. Vận dụng và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá: Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới
như sau:- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn
minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương, qui ước của cộng đồng Lao động
chăm chỉ có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao.
Câu 8: Phân tích quan điểm cơ bản của HCM về đại đoàn kết dân tộc. Ý nghĩa của luận điểm
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công
Trả lời

1)Cơ sở hình thành TT HCM về đại đoàn kết Dtộc
a)Tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cố kết cộng đồng Dtộc,đại đoàn kết Dtộc đã hình thành

phạm vi toàn thế giới.
c) Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng
HCM tổng kết,đánh giá các di sản truyền thống về TT tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước
VN tiền bối và các phong trào cách mạng ở nhiều nước trên thế giới,nhất là các phong trào giải
phóng Dtộc thuộc địa,từ đó Người rút ra bài học kinh nghiệm để hình thành và hoàn chỉnh TT về
đại đoàn kết của mình.Các phong trào cách mạng VN thực tế vừa hào hùng,vừa bi tráng đã
chứng tỏ nếu chỉ có yêu nước thôi thì không đủ để đánh thắng giặc.“Sử ta đã dạy cho ta rằng,khi
nào dân ta biết đoàn kết thì khi đó dân ta dành thắng lợi.”
Yêu cầu của thời đại mới là phải có lực lượng lãnh đạo đủ sức qui tụ cả Dtộc vào đấu tranh cách
mạng,đề ra đường lối cách mạng đúng đắn,xây dựng khối đại đoàn kết Dtộc bền vững thì mới
giành thắng lợi.HCM đã thấy hạn chế trong phương pháp tập hợp lực lượng của các nhà yêu
nước tiền bối,Bác đã tìm cách sang Pháp để tìm hiểu và trở về giúp đồng bào mình.
Khi ở nước ngoài,HCM khảo sát tình hình các nước tư bản chủ nghĩa và các nước thuộc địa,Bác
nhìn thấy tiềm ẩn to lớn của họ và cũng thấy hạn chế là các Dtộc thuộc địa chưa có tổ chức,chưa
biết đoàn kết,chưa có sự lãnh đạo đúng đắn.Trong các phong trào cách mạng thuộc địa và phụ
thuộc,HCM đặc biệt chú ý đến cách mạng của Trung quốc và Ấn độ,với TT là đoàn kết các giai
tầng,các đảng phái,các tôn giáo… nhằm thực hiện mục tiêu của từng giai đoạn cách mạng.
Thắng lợi của cách mạng tháng mười Nga,Người đã tìm hiểu thấu đáo con đường cách mạng
tháng Mười,bài học kinh nghiệm quý báu,đặc biệt là bài học huy động lực lượng quần chúng
công – nông giành và giữ chính quyền xô-viết non trẻ.Người cho rằng đây là cuộc cách mạng
đến nơi,đến chốn.
2)Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh đại đoàn kết Dtộc
a) Đại đoàn kết Dtộc là vấn đề cơ bản có ý nghĩa chiến lược,quyết định thành công của cách
mạng.TT HCM về đại đoàn kết Dtộc nhất quán,xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng VN.Đó
là chiến lược tập hợp lực lượng nhằm hình thành sức mạnh to lớn của Dtộc chống kẻ thù của
Dtộc,của giai cấp.
Trong từng thời kỳ của cách mạng,có thể phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực
lượng cho phù hợp với từng đối tượng,nhưng đại đoàn kết Dtộc phải là vấn đề sống còn của cách
mạng.HCM đã nêu:
“Đoàn kết là sức mạnh,đoàn kết là thắng lợi…,đoàn kết là then chốt của thành công”.“Đoàn kết

Đại đoàn kết Dtộc là nền tảng là gốc rễ là nguồn sức mạnh vô địch,quyết định thắng lợi của cách
mạng VN.Trong khi tập hợp khối đại đoàn kết thì “lực lượng chủ yếu của khối đại đoàn kết Dtộc
là liên minh công-nông,cho nên liên minh công-nông là nền tảng của mặt trận Dtộc thống
nhất”.“đại đoàn kết trước hết là đoàn kết đại đa số nhân dân,mà đa số nhân dân ta là công
nhân,nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”.Về sau HCM mở rộng,“liên minh công-
nông và lao động trí óc làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân”.“trong bầu trời không có gì
quý = dân,trong thế giới không có gì mạnh = lực lượng đoàn kết của nhân dân”.
Điều kiện để thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân là: phải kế thừa truyền thống yêu nước-nhân
nghĩa,đoàn kết,phải có tấm lòng khoan dung,độ lượng.Người mà có lầm lạc,mà biết lỗi thì đoàn
kết với họ,tránh khoét sâu cách biệt.“bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình,thống nhất,độc lập
Dtộc thì dù người đó trước đây chống lại chúng ta bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với
họ.” “cần xoá bỏ hết mọi thành kiến,cần thật thà đoàn kết với nhau,giúp nhau cùng tiến bộ để
phục vụ nhân dân”.
d) Đại đoàn kết phải trở thành sức mạnh vật chất,thành lực lượng vật chất có tổ chức thể hiện
khối đại đoàn kết Dtộc là mặt trận Dtộc thống nhất dưới sụ lãnh đạo của Đảng
Khối đại đoàn kết Dtộc phải được giác ngộ về mục tiêu,tổ chức thành khối vững chắc và hoạt
đọng theo 1 đường lối chính trị đúng đắn.Và đưa quần chúng vào tổ chức phù hợp với từng giai
tầng,từng lứa tuổi,giới tính,ngành nghề,tôn giáo,phù hợp với từng bước phát triển của phong trào
cách mạng.Ví dụ có hội hữu ái,hội công,hội nông,hội phụ nữ,…
Mặt trận Dtộc thống nhất là nơi qui tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước.Trong từng thời kỳ mặt
trận có tên gọi khác nhau nhưng đó phải là mặt trận chính trị rộng rãi tập hợp đông đảo các lực
lượng phấn đấu vì hoà bình,vì mục tiêu của Dtộc.
3 Nội dung TT HCM về kết hợp sức mạnh Dtộc với sức mạnh thời đại
a) Nắm bắt chính xác đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại,đặt cách mạng VN trong sự gắn
bó với cách mạng vô sản thế giới.Theo Lênin phải “nhận thức rõ thời đại mà ta đang sống”…
“giai cấp nào đang là giai cấp trung tâm của thời đại”… “xây dựng nội dung căn bản của thời
đại,phương hướng phát triển chính của thời đại,~ đặc điểm chủ yếu của bối cảnh lịch sử thời đại
ấy”.
Thời đại mà HCM hoạt động chính trị đã có nhiều đổi thay nổi bật hai sự kiện qtrọng là:
1 là,CNTBtừ tự do cạnh tranh bước sang độc quyền đã phát triển thành hệ thống và làm xuất

thế giới.Các đảng cộng sản phải giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản cho
nhân dân lao động nước mình,làm cho tinh thần yêu nước là 1 bộ phận của tinh thần quốc
tế.Nguyễn Ái Quốc kêu gọi “vì nền hoà bình thế giới,vì tự do và ấm no,~ người bị bóc lột thuộc
mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”.
Sau cách mạng giải phóng Dtộc giành độc lập,các Dtộc thuộc địa tất yếu đi theo cách mạng XH
chủ nghĩa.HCM viết: “trong thời đại ngày nay,cách mạng giải phóng Dtộc là bộ phận khăng khít
của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng Dtộc phải phát triển
thành cách mạng XH chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn.” Phải biến chủ nghĩa
yêu nước truyền thống thành chủ nghĩa nghĩa yêu nước XH chủ nghĩa,yêu Tổ quốc gắn liền với
yêu chủ nghĩa XH,nhờ đó chủ nghĩa yêu nước có thêm sức mạnh và phát triển thành chủ nghĩa
anh hùng cách mạng trong thời đại mới.
Hệ thống XH chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh,lực lượng hoà bình hơn hẳn lực lượng chiến tranh
thì chủ nghĩa XH là nhân tố quyết định đời sống XH loài người.Các Đảng Cộng sản dù lớn hay
nhỏ đều bình đẳng và độc lập.
c) Giữ vững độc lập tự chủ,dựa vào sức mình là chính,tranh thủ sự giúp đỡ của các nước
XHCN,sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ,đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.
HCM nêu cao tinh thần “tự lực cánh sinh,dựa vào sức mình là chính”,“muốn người ta giúp
cho,thì trước hết phải tự giúp mình đã”,“1 Dtộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ Dtộc
khác giúp đỡ thì không xứng đáng được hưởng độc lập”.Với TT này khi Người gửi lời kêu gọi
tới anh em ở thuộc địa có viết; “Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công
thức của Mác,chúng tôi xin nói với anh em rằng,công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực
hiện được = sự nỗ lực của bản thân anh em”.Người còn nói “đem sức ta mà giải phóng cho ta,…
họ còn giúp đỡ ~ người anh em mình ở phương Tây trong sự nghiệp giải phóng hoàn toàn”
Muốn tranh thủ sức mạnh thời đại cần phải có 1 đường lối độc lập tự chủ đúng đắn.Kết hợp chặt
chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập Dtộc mình với bốn mục tiêu của thời đại: hoà bình,độc lập
Dtộc,dân chủ,chủ nghĩa XH.(liên hệ thực tiễn của VN.)
Kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế,tranh thủ sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ,nhân
dân ta không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả.Bác thường nói: “phải coi cuộc đấu tranh của bạn như
cuộc đấu tranh của ta”.
d) Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị,hợp tác,sẵn sàng “làm bạn với tất cả các nước dân chủ”.

thấy thành tự của nhân dân xô-viết trên co đường xây dựng xh mới.
* Tthcm về CNXH
1-Cơ sở hình thành tthcm về CNXH ở VN
+ HCM tiếp cận tư tưởng CNXH từ quan điểm hình thái KT-XH của Mác. Luận điểm cơ bản của
Mác-ăngghen về 1 xh mới với những đặc trưng bản chất là xóa bỏ chế độ người bóc lột người
dựa trên tư hữu về tư liệu sx, xóa bỏ tình trạng bị áp bức về chính trị, nô dịch về tinh thần. Lênin
đã phát triển luận điểm về CNXH ở điều kiện CNTB đã chuyển sang giai đoạn độc quyền, tức
giai đoạn ĐQCN. CMT10 Nga năm 1917 đã làm cho lý luận trở thành hiện thực: CNXH với tư
cách là 1 xh mới, một bước phát triển cao và tốt đẹp hơn so với CNTB. HCM khẳng định vai trò
quyết định của sức sx đối với phát triển của xh cũng như đối với sự chuyển biến từ xh nọ sang xh
kia. Bác cũng khẳng định, trong ls loài người có 5 hình thức quan hệ sx chính, và nhấn mạnh
"không phải quốc gia dt nào cũng đều trải qua các bước phát triển tuần tự như vậy". Bác sớm đến
với tư tưởng quá độ tiến thẳng lên CNXH không trải qua giai đoạn TBCN.
+ HCM đã tiếp cận CNXH từ quan điểm duy vật ls khoa học, từ sự giác ngộ về sứ mệnh ls của
GCCN-giai cấp trung tâm của thời đại. NAQ trực tiếp tham gia phong trào công nhân, khi trở
thành người cộng sản Người đã tìm hiểu và viết nhiều bài về GCCN (ấn, nhật, trung, thổ nhĩ
kỳ ). Tuy hoạt động ở nước ngoài người vẫn theo dõi phong trào công nhân ở VN. Năm 1922,
lần đầu công nhân ở chợ lớn bãi công, NAQ coi đó là "dấu hiệu chứng tỏ GCCN đã bắt đầu giác
ngộ về lực lượng và giá trị của mình" "chúng ta phải ghi lấy dấu hiệu của thời đại". "GCCN ở
chính quốc không phải chỉ tỏ tình đoàn kết với những người anh em ở đấy bằng lời nói mà thôi,
mà còn phải giác ngộ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và pp tổ chức".
+ HCM tiếp cận CNXH từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dt.
- Từ đặc điểm ls dt: nước ta không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ mang đậm dấu ấn phong kiến
phương đông, mâu thuận giai cấp không gay gắt, quyết liệt, kéo dài, như ở phương tây, do đó
hình thành quốc gia dt từ sớm; ngày từ buổi đầu dựng nước, chúng ta liên tục phải đấu tranh
chống ngoại xâm, hình thành chủ nghĩa yêu nước truyền thống; Là nước nông nghiệp, lấy đất và
nước làm nền tảng với chế độ công điền hình thành cộng đồng thêm bền chặt. Tất cả điều này là
giá trị cơ bản của tinh thần và tư tưởng XHCN ở VN: tinh thần yêu nước, yêu thường đùm bọc
trong họan nạn đấu tranh, cố kết cộng động quốc gia dt.
- Từ truyền thống văn hóa lâu đời, bản sắc riêng: đó là nền văn hóa lấy nhân nghĩa làm gốc, trừ

+ CNXH là không có người bóc lột người, ai cũng phải lao động, có quyền lao động, thực hiện
công bằng, bình đẳng.
+ CNXH phải gắn với phát triển khoa học kỹ thuật và văn hóa của nhân dân.
+ CNXH là do quần chúng nhân dân tự xây dựng nên dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Có thể khái quát bản chất của CNXH theo tthcm: Chế độ do nhân dân làm chủ; có nền kt phát
triển cao, dựa trên lực lượng sx hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sx; một xh phát triển cao
về văn hóa, đạo đức; một xh công bằng, hợp lý; là công trình tập thể của nhân dân do nhân dân
xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Quan niệm của HCM về mục tiêu và động lực của CNXH
Mục tiêu của CNXH:
+ Về chế độ chính trị: nhân dân làm chủ, quyền lực thuộc về dân, chính phủ là đầy tớ của dân;
dân có quyền và có nghĩa vụ làm chủ. "Nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền
tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo".
+ Về kt: Xây dựng kt XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên
tiến; hình thành sở hữu nhà nước-nó phải lãnh đạo kt quốc dân. CNXH chỉ thắng CNTB khi nào
có năng suất lao động cao hơn hẳn. Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là quy luật tất yếu có thể thực
hiện bằng nhiều cách khác nhau. "Làm trái với LX cũng là Mác-xít".
+ Về văn hóa: có văn hóa phát triển cao (vừa mang tính chất XHCN, vừa mang tính chất dt-tức
là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dt). Đó là nền văn hóa lấy hạnh phúc của đồng bào, dt
làm cơ sở để phát triển, văn hóa "phải sửa đổi được thói tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ".
"Phải làm cho ai cũng có lý tưởng, tự chủ, độc lập, tự do".
+ Về mối quan hệ xh: thực hiện công bằng, dân chủ; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người
với người; quan tâm thực hiện chính sách xh.
+ Về con người XHCN, phải có phẩm chất cơ bản sau:
Con người có tinh thần và năng lực làm chủ; có đạo đức XHCN: cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư; có kiến thức khoa học kỹ thuật; có tinh thần sáng tạo, nhạy bén với cái mới. Đó cũng là
động lực quan trọng nhất để xây dựng thành công CNXH.
Phải quan tâm đến phụ nữ (1 nửa của xh), phải giải phóng phụ nữ, xây dựng bình đẳng nam-nữ.
Về động lực của CNXH
+ Phát huy các nguồn động lực cho việc xây dựng CNXH: vốn, khoa học công nghệ, con người

VN.
- Cần nhận thức rõ tính quy luật chung và đặc điểm ls cụ thể của mỗi nước khi bước vào thời kỳ
quá độ: "tùy hoàn cảnh, mà các dt phát triển theo con đường khác nhau Có nước thì đi thẳng
tiến đến CNXH, có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên CNXH".
- HCM xây dựng quan niệm quá độ gián tiếp căn cứ vào thực tiễn của VN:
HCM chỉ ra đặc điểm và mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN: "Đặc điểm to lớn nhất
của nước ta trong thời kỳ quá độ từ 1 nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không kinh
qua giai đoạn phát triển TBCN". Đây là vấn đề mới cần nhận thức và tìm giải pháp đúng đắn để
có hình thức, bước đi phù hợp với VN.
"Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ" là mâu thuẫn giữa 1 bên là yêu cầu phải tiến lên xây
dựng 1 chế độ xh mới có "công, nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến" với 1 bên là
tình trạng lạc hậu phải đối phó với bao thế lực cản trở, phá hoại mục tiêu của chúng ta."
Về độ dài của thời kỳ quá độ: lúc đầu dựa theo kinh nghiệm của LX và TQ, HCM dự đoán "chắc
đôi ba, bốn kế hoạch dài hạn " sau đó quan niệm được điều chỉnh: "xây dựng CNXH là 1 cuộc
đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài".
- Về nhiệm vụ ls của thời kỳ quá độ, Người nêu: phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của
CNXH , vừa cải tạo kt cũ vừa xây dựng kt mới, mà xây dựng là chủ yếu và lâu dài. HCM chỉ ra
nhiệm vụ cụ thể về chính trị, kt, văn hóa, xã hội.
Chính trị, cuộc đấu tranh gay go giữa cái cũ đang suy tàn và cái mới đang nảy nở cho nên sự
nghiệp xây dựng CNXH khó khăn và phức tạp.
Kinh tế, tạo lập những yếu tố, những lực lượng đạt được ở thời kỳ tư bản nhưng sao cho không
đi chệch sang CNTB; sử dụng hình thức và phương tiện của CNTB để xây dựng CNXH. Kẻ thù
muốn đè bẹp ta về kt thay bằng quân sự, vì vậy ta phải phát triển kt.
Tư tưởng, văn hóa, xh: bác nêu phải khắc phục sự yếu kém về kiến thức, sự bấp bênh về chính
trị, sự trì trệ về kt, lạc hậu về văn hóa tất cả sẽ dẫn đến những biểu hiện xấu xa, thoái hóa cán
bộ, đảng viên là khe hở CNTB dễ dàng lợi dụng. HCM nhấn mạnh "muốn cải tạo XHCN thì
phải cải tạo chính mình, nếu không có tư tưởng XHCN thì không làm việc XHCN được".

- Về nhân tố đảm bảo được thực hiện thắng lợi CNXH ở VN: phải giữ vững và tăng cường vai
trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước; phát huy tính tích cực, chủ động

Câu 4: Phân tích những luận điểm cơ bản của HCM về CM giải phóng dân tộc
Trả lời:
Từ 1911-1920, HCM đã khảo sát các cuộc cách mạng lớn trên TG. Năm 1920, lần đầu tiên NAQ
đọc được "Sơ thảo luận cương về các vấn đề dt và thuộc địa" của Lênin, NAQ đã sáng tỏ, tin
tưởng và cảm động đến phát khóc "khi ấy ngồi 1 mình trong " Với việc gia nhập quốc tế cộng
sản III, NAQ đã từ CN yêu nước đến với CNMLN, từ giác ngộ dt đến giác ngộ giai cấp, từ người
yêu nước trở thành người cộng sản. NAQ đã hoạt động lý luận và thực tiễn trong ĐCS Pháp và
quốc tế cộng sản.
Năm 1924, NAQ đến Quảng Châu, sáng lập Hội VN thanh niên CM, xuất bản báo Thanh niên,
mở lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ, đưa họ về nước hoạt động. NAQ xuất bản tác phẩm
"Bản án chế độ thực dân Pháp" 1925, "Đường Kách Mệnh" 1927. Tháng 2/1930, HCM soạn thảo
Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt. Tất cả điều đó hình thành cơ bản tthcm
về con đường cách mạng gpdt của VN.
1- CM gpdt muốn thắng lợi phải đi theo con đường CMVS.
Sở dĩ các phong trào yêu nước VN cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thất bại là do chưa có đường lối
và phương pháp đấu tranh đúng đắn. Khi CNĐQ đã thành một hệ thống TG, 1 mặt, chúng đấu
tranh với nhau để giành giật thuộc địa, mặt khác, chúng thống nhất với nhau để đàn áp phong
trào đấu tranh của các dt thuộc địa. Vì vậy trong cuộc đấu tranh chống CNĐQ, giai cấp vô sản
chính quốc và nhân dân các dt thuộc địa có chúng 1 kẻ thù. CNĐQ như con đỉa hai vòi, 1 vòi
bám vào chính quốc, 1 vòi bám vào thuộc địa. Muốn đánh thắng CNĐQ, phải đồng thời cắt cả
hai vòi của nó đi. Vì vậy, CMVS ở chính quốc phải kết hợp với CM gpdt ở thuộc địa. "CM gpdt
muốn thắng lợi phải đi theo con đường CMVS, tức là phải theo đường lối M-L".
2- CM gpdt muốn thắng lợi phải do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
NAQ khẳng định, muốn gpdt thằng công "trước hết phải có đảng cách mệnh đảng có vững cách
mệnh mới thành công đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt Bây giờ chủ nghĩa nhiều,
học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa
Lênin".
CM gpdt phải có đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo theo nguyên tắc đảng kiểu mới của
Lênin. Chỉ có cuộc cách mạng do chính đảng giai cấp vô sản lãnh đạo mới thực hiện được sự
thống nhất giữa gpdt, gpgc, giải phóng con người (Bác phê phán các lãnh tụ yêu nước tiền bối

Dựa vào quan điểm của Mác, "sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của
bản thân giai cấp công nhân". NAQ đi đến kết luận: "công cuộc giải phóng anh, em chỉ có thể
thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em."
NAQ nhận thức thuộc địa là khâu yếu của CNĐQ và nhờ đánh giá đúng sức mạnh của chủ nghĩa
yyn và tinh thần dt, ngày từ năm 1924, Người đã nói: CM thuộc địa không những không phục
thuộc vào CMVS ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước" "họ có thể giúp đỡ những
người anh em mình ở Phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn". Đây là cống hiến sáng
tạo của HCM vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa M-L. CMVN đã chứng minh luận điểm của
HCM là đúng.
5-CM gpdt phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị của quần
chúng với lực lượng vũ trang trong nhân dân.
- Cuộc khởi nghĩa của quần chúng phải có t/chất 1 cuộc khởi nghĩa vũ trang chứ không phải là
nổi loạn. Do đó phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra ở thành phố, theo kiểu cách mạng
châu âu. Phải được nước Nga ủng hộ, phải trùng hợp với cách mạng vô sản pháp, phải gắn mật
thiết với sự nghiệp CMVS thế giới. Tháng 5/1941, Hội nghị TW8 khóa 1 nhận định: cuộc cách
mạng Đông Dương kết thúc bằng 1 cuộc khởi nghĩa vũ trang, mở đầu có thể là cuộc khởi nghĩa
từng phần, từng địa phương mở đường cho cuộc khởi nghĩa lớn.
Để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, HCM chỉ đạo: Phải xây dựng căn cứ địa cách mạng, đào tạo,
huấn luyện cán bộ, xây dựng tổ chức chính trị của quần chúng, lập đội du kích vũ trang, đón thời
cơ, phát động cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 và giành thắng lợi chỉ trong vòng có hơn 10 ngày.
*Vận dụng tthcm về vấn đề dt trong công cuộc đổi mới hiện nay
1-Khởi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dt, nguồn động lực mạnh mẽ xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
Hội nghị TW 6(khóa 7) đã xác định rõ nguồn lực và phát huy nguồn lực để xây dựng và phát
triển đất nước. Trong đó nguồn lực con người cả về thể chất và tinh thần là quan trọng nhất. Cần
khơi dậy truyền thống yêu nước của con người VN biến thành động lực để chiến thắng kẻ thù,
hôm nay xây dựng và phát triển kt.
2-Quán triệt tthcm nhận thức và giải quyết vấn đề dt trên quan điểm giai cấp.
Khẳng định rõ vai trờ, sứ mệnh ls của gcvs, của ĐCS, kết hợp vấn đề dt và giai cấp đưa CMVN
từ gpdt lên CNXH. Đại đoàn kết dt rộng rãi trên nền tảng liên minh công-nông và tầng lớp trí

gia dt độc lập.
+ Với việc tăng cường và phát triển các mối quan hệ giữa các dt sẽ dẫn tới việc phá hủy hàng rào
ngăn cách giữa các dt, thiết lập sự thống nhất quốc tế của CNTB, của đời sống KT-CT-XH . . .
2. Vấn đề dt theo tthcm và vấn đề dt thuộc địa.
- Khi các nước đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường, chúng thực hiện sự áp
bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa đối với các nước bị xâm chiếm-thỡ vấn đề
dt trở thành vấn đề dt thuộc địa.
- Vấn đề dt thuộc địa thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng dt thuộc địa nhằm thủ tiêu sự
thống trị của nước ngoài, giành độc lập dt, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền
dt tự quyết, thành lập nhà nước dt độc lập.
Vấn đề dt theo tthcm trong thời đại cách mạng vô sản thế kỷ 20 có mấy luận điểm cơ bản sau:
a) Độc lập, tự do là quyền bất khả xâm phạm của các dt.
Tất cả các dt trên TG phải được độc lập hoàn toàn và thật sự. Độc lập trên tất cả các mặt kinh tế,
chính trị, quân sự, ngoại giao, toàn vẹn lónh thổ. Mọi vấn đề của chủ quyền quốc gia do dt đó tự
quyết định. Theo HCM độc lập tự do triệt để theo nguyên tắc: Nước VN là của người VN, do dt
VN quyết định, nhân dân VN không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài. Trong nền
độc lập đó mọi người dân đều ấm no, tự do, hạnh phúc, nếu không độc lập chẳng có nghĩa gỡ.
HCM núi: "chỳng ta đó hy sinh, đó giành được độc lập, dân chỉ thấy giá trị của độc lập khi ăn đủ
no, mặc đủ ấm". Tư tưởng này thể hiện tính nhân văn cao cả và triệt để cách mạng của HCM.
Độc lập tự do là quyền tự nhiên của dt, thiêng liêng và vô cùng quý giá. HCM đó tiếp xỳc với
Tuyờn ngụn độc lập của Mỹ 1776 và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của pháp 1791, người
đó khỏi quỏt chõn lý: "tất cả cỏc dt trờn thế giới sinh ra đều có quyền bỡnh đẳng, dt nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc". Trong hành trỡnh
tỡm đường cứu nước cho dt khi cũn ở phỏp NAQ đấu tranh để đũi độc lập dt cho nhân dân An
Nam:
- Một là, đũi quyền bỡnh đẳng về chế độ pháp lý cho người bản xứ Đông Dương như đối với
châu âu, xóa bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh, thay thế bằng chế độ đạo luật.
- Hai là, đũi quyền tự do dõn chủ tối thiểu cho nhõn dõn, tự do ngụn luận, tự do bỏo chớ, hội
họp Ngày 18/6/1919, NAQ thay mặt những người VN yêu nước tại Pháp gửi đến hội nghị Véc-
xây bản yêu sách của nhân dân An-Nam đũi quyền bỡnh đẳng cho dt VN. Bản yêu sách không

sự cho dt mỡnh và cho dt khỏc. Tuy nhiờn Mỏc và ăngghen không đi sâu nghiên cứu vấn đề dt
vỡ ở Tõy Ây vấn đề dt đó được giải quyết trong cách mạng tư sản, đối với Mác, vấn đề dt chỉ là
thứ yếu so với vấn đề giai cấp.
- Thời đại Lênin, khi CNĐQ đó trở thành 1 hệ thống TG, cỏch mạng gpdt trở thành bộ phận của
CMVS, Lờnin mới phỏt triển vấn đề dt thành học thuyết về cách mạng thuộc địa. Lênin cho
rằng, CMVS ở chính quốc không thể giành thắng lợi nếu không liên minh với cuộc đấu tranh của
các dt bị áp bức ở thuộc địa. Khẩu hiệu Mác được bổ sung:"Vô sản toàn TG và các dt bị áp bức,
đoàn kết lại". Lênin đó thực sự "đặt tiền đề cho 1 thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước
thuộc địa".
- HCM, tư CN yêu nước đến với CNMLN, đó nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa dt và
giai cấp trong cách mạng gpdt theo con đường CMVS. "Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật
thiết với sự nghiệp của VS toàn TG, mỗi khi CNCS giành được chút ít thắng lợi trong 1 nước
nào đó thỡ đó càng là thắng lợi cả cho người An-nam".
- HCM nêu, các nước thuộc địa phương đông không phải làm ngay CMVS, mà trước hết giành
độc lập dt. Có độc lập dt rồi mới bàn đến cách mạng XHCN. Từ thực tiễn của đấu tranh cách
mạng, NAQ đó phờ phỏn quan điểm của các ĐCS Tây âu không đánh giá đúng vai trũ, vị trớ,
tương lai của cách mạng thuộc địa, và NAQ đi đến luận điểm: các dt thuộc địa phải dựa và sức
mỡnh là chớnh, đồng thời biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao
động TG để đấu trành giành độc lập cho dt, từ cách mạng gpdt tiến lên làm cách mạng XHCN.
Tư tưởng HCM về kết hợp dt với giai cấp, dt với quốc tế, độc lập dt với CNXH thể hiện một số
điểm sau:
+ Độc lập dt gắn liền với CNXH. HCM thấy rừ mối quan hệ giữa sự nghiệp gpdt với sự nghiệp
giải phúng giai cấp của giai cấp vụ sản. "Cả hai cuộc giải phúng này chỉ cú thể là sự nghiệp của
CNCS và của cỏch mạng thế giới".
Năm 1930, trong chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, HCM xác định con đường của cách
mạng VN phải trải qua hai giai đoạn: CM dt, dân chủ (tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng); cách mạng XHCN.
Năm 1960, HCM xác định "chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các dt bị áp bức và
những người lao động trên thế giứoi khỏi ách nô lệ". Tư tưởng HCM về sự gắn bó giữa độc lập
dt và CNXH vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dt trong CMVS vừa

chớnh nghĩa dự phải vượt qua muôn ngàn khó khăn, gian khổ.
+Truyền thống cần cự, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, ham học hỏi, mở rộng cửa đón nhận tinh
hoa văn hóa bên ngoài làm giàu cho văn hóa vn. Chính nhờ tiếp thu truyền thống của dân tộc mà
HCM đó tỡm thấy con đường đi cho dân tộc. "Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa
phải chủ nghĩa cộng sản đó giỳp Tụi tin theo Lenin và đi theo quốc tế 3".
b) Tinh hoa văn hóa nhân loại: Trước khi ra đi tỡm đường cứu nước, HCM đó được trang bị và
hấp thụ nền Quốc học và Hán học khá vững vàng, chắc chắn. Trên hành trỡnh cứu nước, Người
đó tiếp thu tinh hoa v/hóa nhân loại, vốn sống, vốn kinh nghiệm để làm giàu tri thức của mỡnh
và phục vụ cho cmvn.
+ Văn hóa phương Đông: Người đó tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo;, và tư tưởng tiến
bộ của văn hóa phương đông.
+ Nho giáo nói chung và Khổng giáo nói riêng là khoa học về đạo đức và phép ứng xử, tư tưởng
triết lý hành động, lý tưởng về 1 xh bỡnh trị. Đặc biệt nho giáo đè cao văn hóa, lễ giáo và tạo ra
truyền thống hiếu học trong dân. Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại là
ngu dân để trị. Tuy nhiên HCM cũng phê phán Nho giáo có tư tưởng tiêu cực như bảo vệ chế độ
Phong kiến, phân chia đẳng cấp-quân tử và tiểu nhân, chỉ đề cao nghề đọc sách. HCM đó chịu
ảnh hưởng của nho giáo rất nhiều và bác dùng nho giáo như là phương tiện để chuyền tải chủ
nghĩa M-L vào vn.
+ Phật giáo vào vn từ sớm và có ảnh hưởng rất mạnh đối với vn. Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ
bi, bác ái, phật giáo có tư tưởng bỡnh đẳng, dân chủ hơn so với nho giáo. Phật giáo cũng đề cảo
nếp sống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động. Phật giáo vào vn kết hợp
với chủ nghĩa yêu nước sống gắn bó với dõn, hũa vào cộng đồng chống kẻ thù chung của dân tộc
là chủ nghĩa thực dân.
+ Tư tưởng dân chủ tiến bộ như chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn có ảnh hưởng đến tư
tưởng HCM. HCM là nhà mác-xít tỉnh táo và sáng suốt, biết khai thác những yếu tố tích cực của
tư tưởng văn hóa phương đống để phục vụ cho sự nghiệp của CMVN.
-Văn hóa tây phương:
+ HCM chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương tây. Trong
những năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài. Người đó tỡm hiểu cuộc Đại cách mạng Pháp
1791, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776. Trước khi ra nước ngoài, Bác đó nghe thấy ba từ Phỏp:

CNMLN là cơ sở chủ yếu nhất hỡnh thành tthcm.
d) Nhõn tố chủ quan thuộc về phẩm chất cỏ nhõn của NAQ.
+ Tư duy độc lập và sáng tạo, có óc phê phán tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tỡm
hiểu cuộc cỏch mạng tư sản hiện đại.
+ Không ngừng học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức, vốn kinh nghiệm đấu tranh của các phong
trào gpdt.
+ bác có tâm hồn của 1 người yêu nước vĩ đại, 1 chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng; một
trái tim yêu thương dâ, thương người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh cao đẹp vỡ độc lập
của tổ quốc, vỡ hạnh phỳc của nhõn dõn. Bỏc hồ từ 1 người tỡm đường cứu nước đó trở thành
người dẫn đường cho cả dt đi theo.
2-Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển tthcm.
- Từ 1890-1911: giai đoạn hỡnh thành tư tưởng yêu nước và trí hướng cách mạng. Bác tiếp thu
truyền thống dt, hấp thụ vốn văn hóa quốc học và hán học, tiếp xúc với văn hóa tây phương,
chứng kiến cuộc sống khổ cực của đồng bào. Bác nảy ý định đi tỡm đường cứu nước.
- Từ 1991-1920: giai đoạn tỡm tũi, khảo nghiệm. Năm 1911, bác sáng pháp, sau đó sang anh,
mỹ.Năm 1913, người từ Mỹ qua lại anh tham gia công đoàn thủy thủ anh. Năm 1919, Người từ
Anh lại sang Pháp vào lúc nổ ra CMT10 Nga, Pari sôi động tỡm hiểu CMT10. Năm 1919, NAQ
ra nhập Đảng xh Pháp. Tháng 8/1920, bác gửi bản yêu sách của nhân dân An-nam đến hội nghị
Véc-xay. Đại hội 18 đảng xh pháp thảo luận vấn đề gia nhập quốc tế III, ngày 30/12/1920 HCM
biểu quyết tán thành DCS pháp, trở thành người cộng sản.
-Từ 1921-1930: giai đoạn cơ bản hỡnh thành tthcm về con đường CMVN. HCM hoạt động tích
cực trong ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng xh pháp, xuất bản tờ Le parie nhằm truyền bá
CNMLN vào vn. Năm 1923, bác sang Nga dự đại hội V quốc tế cộng sản. Năm 1924, bác về
quảng châu tổ chức vn thanh niên cách mạng, mở lớp huấn luyện cán bộ. Năm 1927, bác xuất
bản tác phẩm "Đường Kách Mệnh". Tháng 2/1930, NAQ chủ trỡ hội nghị hợp nhất và thành lập
ĐCSVN. Người trực tiếp thảo văn kiện "Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng".
Ngày 3/2/1930, HCM trở thành nhà tư tưởng theo đúng nghĩa. Lênin viết:"Một người chỉ xứng
danh là nhà tư tưởng khi nào họ đi trước phong trào tự phát của quần chúng, chỉ đường cho nó.
Họ biết giải quyết trước những vấn đề lý luận, chớnh trị, sỏch lược và tổ chức mà phong trào
quần chúng húc vào 1 cách tự phát. Nhà tư tưởng là nhà lónh đạo tự giác, biết nâng thành phong

khổ khó khăn, có gan chịu đựng, có gan chống lại những vinh hoa, phú quý. Nếu cần, thì có gan
hi sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ quốc, không rụt rè , nhút nhát.
Liêm: không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng , không ham người tâng
bốc mình. Vì vậy, mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.
Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.
Những người làm cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không
thể lãnh đạo nhân dân.
Đạo đức cách mạng được hiểu là :
- Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ
chốt nhất.
- Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỉ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của
Đảng.
- Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân
mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu
trong mọi việc.
- Ra sức học tập chủ nghĩa Mác Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình để nâng cao tư tưởng và cải
tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
THỨ NĂM, 15 THÁNG 4 2010 08:46
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng
để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc
biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức.
Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự
nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái
gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền
tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông

yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người
viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn
độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học
hành".

Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay
miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người
Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.

Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm
lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi con người đều có thiện và ác ở
trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và
phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật
xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm
cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời".

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi
cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người.

Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. - Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù,
siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh
sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng
liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".

Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của
bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa
xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu
bù.

Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu,

và việc rèn luyện của mỗi người.

+ Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.

Cán bộ đảng viên phải đầu tầu gương mẫu “miệng nói tay làm”, phải nêu tấm gương đạo đức
cách mạng trước quần chúng; cán bộ, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Sống theo phương
châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Cổ vũ “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiêu
biểu.

+ Xây đi đôi với chống.

Xây dựng nền đạo đức cách mạng, giáo dục chuẩn mực đạo đức mới, khơi dậy ý thức tự giác,
đạo đức lành mạnh ở mọi người, hướng mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch, lành
mạnh về đạo đức. Nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân -
nguồn gốc của mọi thứ tệ nạn, thứ giặc “nội xâm” phá từ trong ra.

+ Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Người cũng khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người mà đạo đức là do con
người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện
trong môi trường sống và trong cuộc đấu tranh cách mạng. Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu:
"Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày
mà phát triển, củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".

Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên tắc xây dựng đạo đức mà
Người đã nêu ra.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức luôn luôn gắn liền với kinh tế. Trung với nước, hiếu với dân, suốt
đời hy sinh cho cách mạng để giành lấy độc lập và tự do là nhằm xoá bỏ áp bức, bóc lột, phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status