PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO MƯỜNG CHÀ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NA SANGBẢN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY
VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương
BẢN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY
VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương.
Chức danh và đơn vị công tác: Giáo viên Trường trung học cơ sở Na Sang.
Thời gian thực hiện: Năm học 2008 - 2009 đến năm học 2009 - 2010.
Nơi thực hiện: Trường trung học cơ sở Na Sang.
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY VĂN THUYẾT MINH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong mấy chục năm qua, khoa học kĩ thuật tiên tiến . Nhiều vấn đề cần
trang bị cho người lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội và nâng cao chất
lượng cuộc sống cá nhân. Có những tri thức không còn thích hợp, thậm chí đã lỗi thời
cần được loại bỏ. Nội dung và phương pháp giáo dục trong nhà trường, trong đó bậc
THCS cần được xem xét, điều chỉnh. Từ năm 1997, những đổi mới đồng bộ về giáo
dục THCS và việc xây dựng lại chương trình, biên soạn lại sách giáo khoa các môn
học theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động của học sinh đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về
đổi mới phương pháp giáo dục. Cùng với các bộ sách giáo khoa của các khối lớp khác,
sách giáo khoa Ngữ văn 8 được biên soạn theo nguyên tắc tích hợp ba phân môn Văn
– Tiếng Việt – Tập làm văn theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của người
học. Sự tuân thủ hai nguyên tắc trên này đã tạo nên những tiền đề thuận lợi cho việc
theo phương pháp đổi mới. Đối với môn Ngữ văn trường trung học cơ sở Na sang
cũng vậy. Như tất cả chúng ta đều biết, để thu hút được sự chú ý của hoïc sinh trong
giờ học Văn đã khó với phân môn Tập Làm Văn lại càng khó hơn. Do vậy muốn thực
hiện được người giáo viên cần phải có nghệ thuật, có sự kết hợp nhiều yếu tố. Nếu
giáo viên không nắm chắc phương pháp, hững hờ thiếu nhiệt tình thì sẽ gây sự nặng
nề, nhàm chán, thụ động cho học sinh. Mặt khác, sự chủ động, tích cực hợp tác của
học sinh cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công của tiết học. Mà trong thực tế
giảng dạy, một số đông các em vẫn còn thờ ơ với tiết học, có thái độ học tập rất thụ
động theo kiểu thầy dạy bao nhiêu biết bấy nhiêu, không tự tìm tòi, học hỏi, quan
sát… tại sao vậy? Phải chăng là do các em không có hứng thú với phần Tập Làm Văn.
Hay còn vì lý do nào khác nữa? đó là câu hỏi khiến tôi trăn trở khá nhiều.
Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Một số phương hướng giảng
dạy văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 8” và xin ghi lại một vài kinh
nghiệm nhỏ bé với hy vọng những ý kiến của tôi sẽ phần nào giúp ích cho quý đồng
nghiệp.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Nghị quyết trung ương II, khóa VIII của Đảng có xác định : “Mục tiêu cơ bản
của giáo dục là nhằm xây dựng những con người mới và thế hệ thiết tha gắn bó với lí
tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây
dựng và bảo vệ Tổ Quốc, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước… làm chủ tri thức
khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác
phong công nghiệp …” Như vậy, mục tiêu của giáo dục nói chung và nhà trường phổ
thông nói riêng là góp phần vào đào tạo nên những con người toàn diện (giỏi cả lý
thuyết lẫn thực hành) để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
đất nước.
Thế nhưng một vài năm trước đây, việc giảng dạy trong nhà trường của chúng ta
bị xã hội phê phán là nặng tính chất kinh điển còn thoát ly đời sống thực tế. Học sinh
giỏi về lý thuyết nhưng lại yếu về thực hành. Không chỉ thế, các em còn hầu như chưa
có khả năng tự trình bày rõ ràng, mạch lạc một phương pháp, một cách làm về sản
phẩm mình làm ra; có em lại chưa biết tự giới thiệu về những đặc trưng tiêu biểu nhất
thông dụng, rèn luyện kĩ năng trình bày các tri thức, nâng cao năng lực tư duy và biểu
đạt cho học sinh , giúp các em làm quen với lối làm văn có tính khoa học, chính xác.
III. THỰC TRẠNG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
1) Thuận lợi:
Như trên tôi đã trình bày, văn thuyết minh là loại văn bản thông dụng, được sử
dụng rộng rãi, nghành nghề nào cũng cần đến. Nên khi giảng dạy văn thuyết minh tôi
gặp một số thuận lợi nhất định:
- Tài liệu tham khảo tôi có thể xem trên báo chí, trên truyền hình, trên radio,
trong sách giáo khoa của các môn học khác và ngay chính trong thực tế đời sống xung
quanh ta.
- Được sự giúp đỡ tận tình của các đồng nghiệp trong và ngoài trường khi có
vấn đề liên quan đến phân môn thầy, cô giảng dạy.
- Với sự tham gia nhiệt tình, tích cực và sáng tạo của học sinh.
2) Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên, tôi cũng gặp phải một số khó khăn cần khắc
phục:
*) Về giáo viên
- Đôi khi rất khó khăn cho việc tìm tài liệu cho bài giảng của mình, nhất là
phần thuyết minh về địa phương.
- Giáo viên THCS được phân công giảng dạy theo từng phân môn. Giáo viên
nào được phân công dạy môn nào thì chỉ chuyên tâm tìm hiểu, học hỏi và trau dồi kiến
thức chuyên môn, ít tìm hiểu, quan tâm đến các môn, các lĩnh vực khác. Mỗi phần văn
thuyết minh lại có mối quan hệ chặt chẽ với các môn khác trong nhà trường và các
lĩnh vực trong đời sống.
*) Về học sinh
- Học sinh ở đây đa số là con nhà nông , nên ngoài thời gian học ở trường các
em về nhà phải phụ giúp gia đình rất nhiều công việc. Đến ngày mùa, làm nương rẫy
có em phải xin nghỉ 1 đến 2 buổi để phụ gia đình … Có khi, các em đi làm về chỉ kịp
tắm rửa, thay bộ quần áo là tới trường. Các em tới lớp với một cơ thể mệt mỏi như vậy
rất khó tiếp thu kiến thức mới. Và cũng chính vì lí do đó nên các em không có đủ thời
3. Qúa trình thực hiện giải pháp mới.
Phần văn thuyết minh cần được giảng dạy, truyền thụ kiến thức một cách nhẹ
nhàng nhưng khắc sâu kiến thức cho học sinh. Liên hệ chặt chẽ với các môn học khác
và một số lĩnh vực trong đời sống. Giúp giáo viên Ngữ Văn giảng dạy tốt và đạt kết
quả cao. Đồng thời, phải luôn luôn tìm tòi nghiên cứu, trau dồi thêm kiến thức thực tế.
Kích thích sự hứng thú, chủ động, sáng tạo, quan sát và tìm tòi thêm các kiến thức
trong các tiết văn thuyết minh nói riêng và các tiết Tập Làm Văn nói chung. Đồng
thời, giúp học sinh nhận ra rằng môn Ngữ Văn trong THCS là cầu nối các môn học
khác và có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp các em trở thành con người của
xã hội mới năng động và sáng tạo.
Vậy muốn giảng dạy thành công văn thuyết minh trong chương trình Ngữ Văn
8, trước hết cần phải nắm được một số vấn đề sau :
a. Khái niệm văn thuyết minh.
- Văn bản thyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống
nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) và đặc điểm, tính chất, nguyên nhân … của các
hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải
thích
- Tri thức trong văn thuyết minh đòi hỏi khách quan xác thực, hữu ích cho con
người.
- Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp
dẫn.
b. Tại sao lại đưa văn bản thuyết minh vào chương trình Ngữ Văn 8.
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản lần đầu tiên được đưa vào chương trình
Tập Làm Văn THCS Việt Nam. Đây là loại văn bản thông dụng, có phạm vi sử dụng
rất phổ biến trong đời sống, từ lâu nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật
Bản,…đã đưa vào chương trình học cho học sinh. Chính vì vậy, có thể nói đây là kiểu
văn bản hoàn toàn mới, chưa có trong chương trình và sách giáo khoa Tập Làm Văn
trước đây. Nhưng nói mới là so với chương trình và sách giáo khoa thôi, chứ không
mới so với yêu cầu thực tế của đời sống.
1) Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh
2) Phương pháp thuyết minh
3) Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh
4) Thuyết minh về một thứ đồ dùng (luyện nói)
5) Thuyết minh về một thể loại văn học
6) Viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh
7) Thuyết minh về một phương pháp (cách làm)
8) Thuyết minh một danh lam thắng cảnh
9) Ôn tập về văn thuyết minh
10) Chương trình địa phương (phần tập làm văn)
Nắm được những nội dung trên sẽ giúp tôi có kế hoạch và phương pháp truyền
thụ kiến thức phù hợp, không quá ôm đồm nói quá nhiều vấn đề trong một bài giảng
để dẫn đến hết giờ mà kiến thức chính chưa truyền thụ được. Hơn nữa, nắm được điều
này còn giúp tôi có khả năng giúp học sinh tích hợp và cuûng cố các văn bản đã học
và đó cũng là một ví dụ chân thực nhất cho bài học.
Ví dụ: Như khi giảng bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh ta có thể tích hợp,
liên kết tới văn bản “Động Phong Nha”(ngữ văn 6), “Ca Huế trên sông Hương” (ngữ
văn 7) hay “Cầu Long biên_chứng nhân lịch sử” (ngữ văn 6)…
d. Một số lưu ý khi giảng dạy văn bản thuyết minh.
*) Đặc điểm:
Đặc điểm quan trong nhất để phân biệt kiểu văn bản thuyết minh với các kiểu
văn bản khác đó chính là trình bày kiến thức khách quan về đối tượng. Đối tượng này
có thể là nguời là cơ quan là đồ vật, là loài vật hay động vật, là di tích văn hóa, là một
cuốn sách, hay một phương pháp làm việc nào đó… mà nhiệm vụ của văn thuyết minh
là phải cung cấp tri thức khách quan về đối tượng, giúp con người có được sự hiểu biết
một cách đúng đắn và đầy đủ về đối tượng đó. Vì là kiến thức khách quan nên người
làm không thể hư cấu, bịa đặt tưởng tượng hay suy luận. Nghĩa là tri thức phải phù
hợp với thực tế và không đòi hỏi người làm phải bộc lộ cảm xúc cá nhân của mình.
Người viết phải tôn trọng sự thật, không vì lòng yêu ghét của mình mà thêm thắt cho
đối tượng. Vì thế nó đòi hỏi học sinh phải quan sát, điều tra, phải tích lũy, hệ thống
được ảnh hưởng to lớn của thuốc lá đến sức khỏe con người cũng như đến môi trường
xung quanh.
*) Đề văn thuyết minh
Đề tập làm văn thường có hai dạng: một là đề văn có mệnh đề, xác định nhu
cầu, phạm vi bài văn (như thuyết minh về chiếc quạt máy, thuyết minh về chiếc áo dài
Việt Nam…). Hai là đề văn chỉ nêu đề mục, không có mệnh lệnh cụ thể. Loại đề thứ
hai này thường chỉ nêu đối tượng thuyết minh, đòi hỏi học sinh phải cụ thể hóa, lựa
chọn đối tượng cụ thể cho bài viết của mình. Và ngữ văn 8 dùng cả hai loại đề này
nhưng nhiều trương hợp nghiêng về kiểu thứ hai để phát huy vai trò chủ động của học
sinh.
Ví dụ: Đề chỉ cần nêu “Chiếc nón lá Việt Nam” là học sinh đề đề yêu cầu viết
bài thuyết minh, giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam. Hay đề nêu “Giới thiệu về một
món ăn dân tộc (bánh chưng, bánh giày, phở, cốm…)” thì học sinh có thể lựa chọn
một đối tượng cụ thể mà mình hiểu biết để thuyết minh, không nhất thiết bắt buộc phải
thuyết minh về một đối tượng mình ít hiểu biết. Ở những đề kiểu này giáo viên có thể
cho học sinh tự chọn đối tượng mà mình hiểu biết, yêu thích như vậy bài làm của các
em sẽ đạt kết quả cao hơn.
*) Ngôn ngữ
Bên cạnh những chú ý ở thêm thì ta cũng cần hết sức chú ý đến ngôn ngữ của
bài văn thuyết minh. Chính ví bài văn thuyết minh luôn luôn đòi hỏi phải khách quan,
khoa học. Nên ngôn ngữ của bài văn thuyết minh cũng yêu cầu chính xác, gọn, sáng
rõ. Tránh dài dòng và mập mờ không rõ nghĩa. Nhưng trong các trường hợp thuyết
minh mang tính nghệ thuật, Ví Dụ như con kiến tự kể về loài kiến thì có thể tưởng
tượng người kể đóng vai con kiến, nhưng tri thức về loài kiến phải tuyệt đối chính xác.
*) Phân biệt văn thuyết minh với các kiểu văn khác
Khác với văn bản nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hành chính công vụ, văn
bản thưyết minh chủ yếu trình bày tri thức một cách khách quan, giúp con nguời hiểu
biết đuợc đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng và biến cách sử dụng chúng vào
mục đích có lợi. Còn nó khác với tư sự vì nó không đòi hỏi miêu tả cụ thể cho người
đọc cảm thấy đuợc, hình dung ra đuợc, mà cốt làm cho người ta hiểu. Khác với văn
vừa là chủ thể của hoạt động học. Cho nên, họ tích cực, năng động tự mình dựa vào sự
hướng dẫn của giáo viên để có thể phát triển toàn diện, thực chất về óc thẩm mĩ, khả
năng quan sát, kĩ năng tạo lập văn bản…Từ đó, giáo viên phải có những phương pháp
đúng đắn để có thể phát huy hết tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Hiểu được những điều trên khi giảng dạy tôi đã chú ý để có thể kết hợp nhiều
phương pháp vào giảng dạy văn thuyết minh như các thể loại văn khác trên cơ sở xác
định phương pháp chính gắn với tính chuyên biệt của môn học.
Nhìn khái quát có thể nói việc dạy học làm văn bao gồm hai việc chính : dạy lí
thuyết và dạy thực hành. Khi giảng dạy, giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp
khác nhau: phương pháp phân tích mẫu, luyện tập theo mẫu ; phương pháp dạy thực
hành ; phương pháp giao tiếp có thể xem là phương pháp cơ bản, phổ biến trong khoa
học – kĩ thuật dạy học hiện đại….
Có thể kết hợp cả phương pháp truyền thống và các phương pháp mới để giảng
dạy tuỳ vào từng bài, từng đối tượng học sinh cho phù hợp.
Một số phương pháp sau:
- Phương pháp thuyết trình kết hợp với minh hoạ giảng giải .
- Phương pháp đàm thoại kết hợp với phân tích, chứng minh.
- Phương pháp nêu vấn đề (kích thích tư duy sáng tạo của học sinh).
- Phương pháp thảo luận nhóm .
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thống kê số liệu, nghiên cứu tài liệu (sưu tầm).
- Phương pháp viết đoạn văn ngắn.
Riêng các phương pháp thảo luận nhóm, quan sát thống kê số liệu, nghiên cứu
tài liệu (sưu tầm) không nhất thiết phải thực hiện trong tiết học. Tuỳ vào từng bài mà
giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện như: Giáo viên có thể giao bài cho từng nhóm
làm trước hoặc sau tiết học. Sau đó cử học sinh đại diện lên trình bày phần đã chuẩn
bị.
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Những vấn đề và phương hướng nêu trên được áp dụng trong việc soạn giảng
phần văn thuyết minh Ngữ Văn 8, tại trường trung học cơ sở Na Sang cụ thể :
Nếu hiểu cấu tạo của sự vật thì phải trình bày sự vật theo các thành phần cấu tạo của
nó. Nếu hiểu sự vật theo quá trình hình thành của nó thì phải trình bày theo quá trình
đó từ trước đến sau. Nếu sự vật có nhiều phương diện và bộ phận thì lần lượt thì trình
bày từng phương diện, bộ phận một cho đến hết. Như thế là trình bày theo trình tự đặc
trưng của bản thân sự vật.
Có rất nhiều phương pháp thuyết minh được giới thiệu trong bài. Và như ở trên
tôi đã trình bày văn thuyết minh có mối quan hệ mật thiết với các môn học khác trong
trường THCS Na Sang cũng như tích hợp với văn bản nhật dụng rất nhiều. Cụ thể như
một số phương pháp sau:
- Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích: với phương pháp này ta có thể bắt gặp
ở trong tất cả các môn học trong nhà trường hay bất kì một các hiện tượng nào trong
cuộc sống hàng ngày.
Ví dụ:
Như môn Giáo Dục Công Dân: Đạo đức là gì ? Đạo đức là những qui định,
những chuẩn mực ứng xử của con người với người khác, với thiên nhiên và môi
trường sống, được nhiều người ủng hộ và tự giác thực hiện.
Ở môn Âm Nhạc: nhịp là nhịp như thế nào? Nhịp là trong một ô nhịp có 2
phách, 1 phách mạnh và1 phách nhẹ.
Ở môn Sinh học : Hô hấp là gì? Hô hấp là quá trình không ngừng cung cấp O
2
cho các tế bào của cơ thể và loại CO
2
do các tế bào thải ra khỏi cơ thể. Và đây cũng là
phương pháp mà học sinh sẽ phải luyện tập nhiều để tránh những lỗi thường gặp như
định nghĩa quá rộng, quá hẹp hay trùng lặp, không làm cho người đọc nhận thức được
sự vật.
Hay trong cuộc sống hàng ngày cũng phải sử dụng phương pháp này rất nhiều.
Ví dụ: Mưa là gì? Bão là gì? Tại sao có mưa, có bão? Để làm được điều này đòi hỏi
học sinh phải có khả năng diễn đạt lưu loát mạch lạc, rõ ràng. Và đồng thời phần lớn
quân Tưởng, Miền Nam trên 15 vạn quân Pháp lăm le xâm lược nước ta”.
- Phương pháp phân loại, phân tích: đối với sự vật đa dạng, nhiều cá thể thì nên
phân loại để trình bày cho rõ ràng. Một đối tượng có nhiều bộ phận, nhiều mặt thì
phân ra từng bộ phận, từng mặt mà trình bày lần lượt. Ví dụ trong văn bản “ Ca Huế
trên sông Hương” tác giả đã tách ra để thuyết minh : thuyết minh về các làn điệu dân
ca; các loại nhạc công, ca công; … Hay trong môn Sinh học muốn giới thiệu về một
cây thì ta chia ra hai bộ phận: rễ, thân, cành, lá,… Muốn giới thiệu về đặc điểm cấu
tạo của các cơ quan hô hấp ở người thì ta chia thành các cơ quan ở đường dẫn khí và
hai lá phổi, Trong đó, đường dẫn khí bao gồm mũi, họng, thanh quản, khí quản, phế
quản. Còn hai lá phổi thì có lá phổi phải có 3 thuỳ và lá phổi trái có 2 thuỳ.
d) Ngoài những cách làm trên tôi còn cho học sinh tự viết một đoạn văn có sử
dụng một trong các phương pháp thuyết minh. Tất nhiên, để thực hiện thêm yêu cầu
thì không thể đủ thời gian nên tôi cho học sinh về nhà làm tiết sau đứng lên đọc trước
lớp. Làm như vậy vừa giúp các em hiểu rõ hơn các phương pháp thuyết minh, vừa
giúp các em củng cố kĩ năng viết đoạn văn vốn còn yếu, lại vừa giúp các em phát huy
được tính sáng tạo, tích cực của mình.
Thông thường để làm được 1 bài thuyết minh hay thì người viết phải kết hợp
nhiều phương pháp nhưng lựa chọn một phương pháp chính.
2. Bài thuyết minh về phương pháp (cách làm)
a) Giảng dạy tốt bài này là ta đã được bước đầu thực hiện nguyên tắc đưa các
em đến với cuộc sống, hoà nhập với cuốc sống thường nhật nên tôi có thể tích hợp với
kiến thức các môn khác, với bô môn Ngữ Văn, tôi vưà có thể từ cái trước mắt có tính
cập nhật và thời sự, chỉ ra ý nghĩa, phương pháp, cách làm một việc có ý nghĩa lâu dài.
Do chức năng đề tài, tính chất của văn thuyết minh nên chúng ta có quyền và cần cho
học sinh liên hệ tới một phạm vi rộng rãi mà không quá gò bó trong khuôn khổ của
quan niệm văn chương hẹp về “chất văn” tức không quá gò bó theo tiêu chuẩn của văn
chương như thơ, tiểu thuyết, bút ký … Hoàn toàn có thể cho học sinh liên hệ trực tiếp
về vấn đề đang học với địa phương mình, với gia đình và bản thân.
b) Và để giảng dạy bài này đạt kết quả tốt, trước khi học bài tôi giao cho học
sinh về nhà thuyết minh trước về cách nấu một món ăn – đây là việc làm quá quen
(1) Dụng cụ gồm có:
- Một đèn cồn
- Một ống nghiệm
- Một cục sáp
- Một ít nước
(2)_Tiến hành thí nghiệm.
Đầu tiên, ta bỏ cục sáp vào ống nghiệm rồi đổ nước vào trong ống nghiệm đó.
Tiếp theo, ta từ từ đưa miệng ống nghiệm vào ngọn lửa của đèn cồn. Sau khoảng hai
phút, nước ở phần trên của ống nghiệm bắt đầu sôi lúc này quan sát dưới đáy của ống
nghiệm, ta thấy sáp vẫn không bị tan chảy. Điều đó chứng tỏ nhiệt ở miệng ống không
truyền xuống đáy của ống nghiệm.
(3) Kết luận: Chất lỏng dẫn nhiệt kém.
Sau khi học xong bài này tôi dặn dò các em về nhà tự mình làm một đồ chơi
đơn giản (ông già Noel, quả còn, một cây sáo ) để các em càng khắc sâu hơn kiến
thức. Và nếu được thì các em tự trình bày vào các tiết sau.
3. Bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh.
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh có bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường sơn sớm chiều (……)
Hay “ Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”
(Hồ Chí Minh)
Việt Nam một lãnh thổ giàu đẹp, có núi và đồng bằng kết hợp theo một tỷ lệ hợp
lý; có nguồn nhiệt ẩm phong phú, có sông ngòi rậm rạp và nhiều nước; có biển liền kề
bao quanh thông ra đại dương, dưới đáy biển giàu khoáng sản, nhiều tôm cá, lại phủ
một lớp sinh vật nhiều tầng nhiều lớp. Hơn nữa, lại được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng
cho biết bao danh lam thắng cảnh tuyệt mĩ. Hầu như, đi bất kì đâu trên lãnh thổ Việt
Nam ta đều được ngắm, chiêm ngưỡng vẻ đẹp kì vĩ đó. Nhưng làm thế nào để ta có
thể giới thiệu với bạn bè, người thân nhất là những du khách trong và ngoài nước (nếu
có) về vẻ đẹp đó. Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu trình tự thuyết minh đó.