xu thế quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của vòng cung ca - tbd với tác động của nó tới việc hiệp định chính sách - Pdf 13

mục lục
mục lục 1
Lời Nói Đầu 2
Chơng I 2
Cơ cấu nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay 2
I.1. Chủ thể nền kinh tế thế giới : 3
I.2. Quan hệ kinh tế quốc tế trong nền kinh tế thế giới: 6
Chơng II 8
Những xu hớng vận động cơ bản của nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây 8
II.1.Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển nhanh nh vũ 8
bão tác động vào mọi mặt nền kinh tế thế giới - Thúc đẩy sự thống 8
nhất của nền kinh tế toàn cầu 8
II.2. Quá trình quốc tế hoá (quy mô, tốc độ, mọi lĩnh vực đời sống 9
kinh tế, xu hớng toàn cầu hoá, khu vực hoá) 9
II.3. Nền kinh tế thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ biệt 11
lập sang hợp tác 11
II.4. Châu á - Thái Bình Dơng sự ra đời của một trật tự thế giới mới: 12
Chơng III 14
những Xu hớng vận động của nền kinh tế thế giới ảnh hởng tới việc hoạch định chính
sách thơng mại và đầu t quốc tế của việt nam 14
III.1/ Tác động tới chính sách thơng mại quốc tế 14
III.3/ Một số gợi ý trong việc hoạch định chính sách thơng mại và 19
đầu t quốc tế trong tình hình mới hiện nay 19
III.3.1/ Thuận lợi và khó khăn - cơ hội và thách thức: 19
III.3.2/ Một số gợi ý và giải pháp cho Việt Nam trong việc hoạch định 20
chính sách thơng mại và đầu t quốc tế trong tình hình hiện nay: 20
Kết luận 24
Tài Liệu Tham Khảo 25
1
Lời Nói Đầu
Trái đất mà loài ngời chúng ta đang sinh sống ngày càng trở nên nhỏ hẹp. Hoạt

định chính sách thơng mại và đầu t quốc tế của Việt Nam
Chơng I
Cơ cấu nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay
Nền kinh tế thế giới là một tổng thể các nền kinh tế quốc gia trên trái
đất có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau, không ngừng hoạt
động thông qua sự phân công lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế
quốc tế của chúng. Nền kinh tế thế giới đợc chia làm hai bộ phận đó là chủ thể
nền kinh tế thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế.
2
I.1. Chủ thể nền kinh tế thế giới :
Nền kinh tế thế giới vào cuối thế kỷ 20 là sự phân chia thành 4 khu vực:
Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu á- Thái Bình Dơng và phần còn lại của thế giới.
Lịch sử cận đại đã chứng minh chính các chu kỳ vận động và phát triển của
thế giới đã sinh ra sự chuyển dịch các trung tâm phát triển về kinh tế và chính
trị, về thơng mại và văn hoá. Có lẽ vì thế mà có ý kiến cho rằng Nếu thế kỷ
19 là thế kỷ của Địa Trung Hải, thế kỷ 20 là của Đại Tây Dơng thì thế kỷ
21 sẽ là thế kỷ của Châu á - Thái Bìn
1
h Dơng.
(1)
Nội dung trong phần này đề cập đến các quốc gia, các cờng quốc về
kinh tế hôm nay và triển vọng trong tơng lai không xa có tác động lớn tới nền
kinh tế, thế giới nh : Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc ngoài ra còn đề cập tới
các tổ chức và các liên kết kinh tế quốc tế đó là: EU, APEC, ASEAN, WTO.
Các cờng quốc kinh tế: Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc.
Có thể nói, nền kinh tế của các nớc Mỹ, Nhật Bản đã phát triển nh vũ
bão sau chiến tranh thế giới lần thứ II do áp dụng thành công những thành tựu
khoa học của các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật vào đời sống và cộng
thêm vào đó là phơng thức và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến. Còn Trung
Quốc với chính sách kinh tế thị trờng của mình đã mở cửa với thế giới bên

ngừng trệ, nền kinh tế Nhật Bản rơi xuống nh diều đứt dây, có dấu hiệu bị tan
vỡ. Mô hình kinh tế Châu á với hình dạng đàn nhạn bay mà Nhật Bản làm
chim đầu đàn bây giờ đang lâm vào khủng hoảng. Khủng hoảng suy thoái
kinh tế ở Nhật Bản đã có tác động một cách tiêu cực tới nền kinh tế EU ( liên
hiệp Châu Âu). Đầu năm 1990, sau một thời kỳ tăng trởng ngắn ngủi, nền kinh
tế EU bị mất đà, tốc độ phát triển chậm lại. Cũng thêm vào đó là hiệp ớc
Mastricht để đa EU đến đồng tiền chung vào năm 1999 đang gặp khó khăn
trong việc thực hiện .
Tuy vậy, cả Mỹ lẫn Nhật Bản vẫn là những trụ cột chính của nền kinh tế
thế giới (Economic Powers)bởi vốn đầu t của họ lớn, cộng thêm vào đó trình
độ khoa học và quản lý cao. Cho nên, sự vận động của nền kinh tế thế giới với
xu hớng toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế đều chịu ảnh hởng lớn của các
nền kinh tế hùng mạnh này.
Về phần mình, Trung Quốc, một thực thể kinh tế hùng mạnh có tác
động lớn tới quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, đặc biệt trong khu vực
Châu á-Thái Bình Dơng.Với chính sách xuyên thế kỷ của mình- định hớng
phát triển theo hớng nền kinh tế thị trờng - tốc độ phát triển kinh tế của Trung
Quốc tăng nh vũ bão, nhiều năm lên tới hai con số. Trung Quốc đang trở thành
một cực thứ 4 của thế giới. Một nớc Đại Trung Hoa bao gồm cả Hoa Lục,
Hồng Kông và tơng lai Ma Cao, nổi lên thành một đối thủ đáng gờm đối với
các cực khác. Nó cũng tham gia chi phối các hoạt động của thế giới. Sự phát
triển năng động của nền kinh tế ở Châu á - Thái Bình Dơng cũng một phần
nhờ vào sự phát triển của Trung Quốc.
Các tổ chức và các liên kết KTQT; EU, APEC, WTO và ASEAN.
Ngoài ba quốc gia, các cờng quốc về kinh tế là Mỹ, Nhật Bản và Trung
Quốc có tác động lớn tới nền kinh tế thế giới, thì chúng ta còn phải đề cập tới
các chủ thể kinh tế quốc tế ở cấp độ vợt ra ngoài phạm vi quốc gia đó là các tổ
chức kinh tế quốc tế và các liên kết KTQT: EU, APEC, WTO và ASEAN.
Liên minh Châu Âu (EU), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình
Dơng (APEC), tổ chức thơng mại quốc tế (WTO), hiệp hội các quốc gia Đông

- Cắt giảm những hàng rào thuế quan và phi thuế quan cản trở việc trao
đổi hàng hoá, dịch vụ và đầu t giữa các thành viên phù hợp với nguyên tắc của
GATT/WTO, ở những lĩnh vực thích hợp và không làm tổn hại tới các nền
kinh tế khác.
Tổ chức thơng mại quốc tế (WTO): Sau chiến tranh thế giới thứ hai
nhằm cứu nền thơng mại thế giới khỏi khủng hoảng, trì trệ nghiêm trọng mà
lịch sử đã chứng kiến ở đầu thập kỷ 30. Ngời ta kịp nhận thấy rằng một trong
những nguyên nhân đẩy đến tình trạng trên chính là chính sách bảo hộ thái
quá mà mỗi quốc gia, vì những lợi ích riêng đã có thi hành bất chấp ảnh hởng
tiêu cực đến thơng mại chung. Những chính sách bảo hộ thái quá này đã làm
cho buôn bán quốc tế phải tiến hành trong môi trờng kém an toàn và việc dự
đoán xu hớng phát triển cũng nh dung lợng trao đổi hàng hoá và dịch vụ rất
khó khăn. Điều này tác động xấu tới nền kinh tế toàn cầu, làm hãm sự phát
triển kinh tế của từng quốc gia. Đây chính là bối cảnh cho ra đời GATT
(General Agreement on Tareffs and Trade) nhng mới đầu GATT chỉ là một
hiệp định đa phơng giữa các quốc gia có nền kinh tế thị trờng để các nớc tham
dựu tạo một quy chế mậu dịch, là diễn đàn quốc tế để các nớc thành viên đàm
phán mở rộng buôn bán thơng mại sau cùng là diễn đàn quốc tế để các bên
5
tham gia giải quyết những bất đồng hoặc tranh chấp trong thơng mại song ph-
ơng hoặc đa phơng. Sau một thời gian phát triển và cuối cùng tại vòng đàm
phán Urugoay kéo dài từ 9/1986 đến 1/1/1995 thì GATT chuyển thành tổ chức
thơng mại thế giới (WTO).
Với mục tiêu cao cả là: tạo một môi trờng thơng mại quốc tế an toàn và
rộng khắp, nhằm đạt đợc sự tăng trởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội
trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay WTO thu hút sự tham gia của 132 thành viên
chiếm hơn 90% tổng giá trị thơng mại thế giới.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN - The Association of
Southeast ASEAN Nations) đợc thành lập 8/8/1967 với sự ra đời của bản tuyên
bố ASEAN do bộ trởng ngoại giao của 6 thành viên đầu tiên ký kết gồm

Ngoài ra còn có các tổ chức phi chính phủ - NGO( Non Government
Organization), các công ty đa quốc gia với hình dạng muôn màu muôn vẻ
ngày càng thâm nhập một cách sâu sắc vào nền kinh tế thế giới.
Có thể nói xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang đợc thúc đẩy bởi
một cuộc cách mạng kinh tế - công nghệ hiện đại và diễn ra nh vũ bão trên thế
giới. Khi sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc, tính phụ thuộc lẫn
nhau và sự hợp tác phát triển giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế, và trên
toàn cầu ngày càng tăng. Với xu thế này, sự hợp tác cạnh tranh về kinh tế giữa
các quốc gia ở từng khu vực và trên thế giới diễn ra ngày càng sôi động trong
những năm còn lại của thập kỉ 90, góp phần đa nền kinh tế thế giới phát triển
nhanh hơn trong thiên niên kỉ XXI.
7
Chơng II
Những xu hớng vận động cơ bản của nền kinh tế thế giới
trong những năm gần đây
Nền kinh tế thế giới ngày nay chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố
khác nhau bởi vậy sự vận động của nền kinh tế thế giới cũng diễn ra với nhiều
xu hớng khác nhau. ở đây xin đề cập đến những xu hớng cơ bản chi phối
chính sách kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia nhng chỉ phân tích sâu hai xu h-
ớng có tác động mạnh đến việc hoạch định chính sách thơng mại quốc tế và
chính sách đầu t quốc tế, đó là: Xu hớng quốc tế hoá của nền kinh tế thế
giới và sự phát triển của vòng cung Châu á - Thái Bình Dơng.
II.1.Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển nhanh nh vũ
bão tác động vào mọi mặt nền kinh tế thế giới - Thúc đẩy sự thống
nhất của nền kinh tế toàn cầu.
Trong tiến trình lịch sử, nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công
nghiệp. Nội dung cơ bản của các cuộc cách mạng đó là sự thay thế các công
cụ sản xuất thô sơ, thủ công cũng nh thay thế các quá trình sản xuất lạc hậu
đơn điệu bằng việc áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất,
tiến dần lên cơ khí hoá đến tự động hoá, sản xuất theo kiểu dây truyền hiện

sống Kinh tế - Chính trị - Văn hoá, của các cá thể sống trong đó.
Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế Thế giới ngày nay
diễn ra rất nhanh, mạnh và trở thành phổ biến. Tác động của nó ảnh hởng đến
hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế và đã gây ra những phản ứng thuận,
nghịch khác nhau đối với từng khu vực, từng quốc gia. Một câu hỏi của d luận
quốc tế đặt ra là: Tại sao lại xuất hiện xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá
nền kinh tế trên thế giới ? và điều đặc biệt là ngoài quan hệ chặt chẽ về kinh
tế trớc đây giữa Bắc - Bắc (các nớc phơng Tây giàu có) ngày nay có quan hệ
giữa Bắc - Nam (các nớc giàu và các nớc nghèo) lại trở nên sôi động mạnh mẽ
đến nh vậy. Để trả lời những câu hỏi này ta phải xét đến một phần của một xu
thế mới - Xu thế dung hoà lợi ích. Ngày nay, mỗi nớc đều phải tự bảo vệ lợi
ích quốc gia và dân tộc mình. Muốn có một nền an ninh tốt và vững mạnh để
bảo vệ lợi ích của mình thì cần phải có một nền kinh tế phát triển, mà muốn có
điều kiện để phát triển và gìn giữ một nền kinh tế hùng mạnh thì tất yếu cần
có một nền an ninh ổn định cả trên khu vực lẫn trên thế giới. Do vậy, mối quan
hệ biện chứng này liên quan chặt chẽ, bổ xung lẫn nhau. Vào thế kỷ XX này,
chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh đã làm hao tổn lớn đến nền kinh tế toàn
cầu, nó đã làm chậm tiến trình phát triển nền kinh tế thế giới và tàn d của nó
vẫn còn là hiểm họa cho nhân loại hiện nay và trong tơng lai. Ngày nay, nhắc
đến chiến tranh xung đột, đổ máu thì không một quốc gia nào là không ngao
ngán mặc dù vẫn còn tiềm ẩn một vài điểm nóng cục bộ tại một số khu vực.
Xu thế mới của thời đại ngày nay là loại trừ chiến tranh nóng nhng lại
nổi lên một cuộc chiến tranh mới - Chiến tranh kinh tế - với sự cạnh tranh và
hợp tác mạnh mẽ mang tính liên quốc gia, tính liên khu vực và tính toàn cầu.
Cạnh tranh quốc tế càng gay gắt càng đòi hỏi các quốc gia phải tự bảo
vệ mình. Nhng mặt khác, loài ngời cũng có nhiều lợi ích chung vợt trên tầm
quốc gia nh vấn đề môi trờng, và hơn thế nữa, lợi ích của một nớc phải
thông qua sự phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau giữa nhiều nớc mới có thể đạt đợc.
Bởi vậy, phối hợp thế nào giữa lợi ích một nớc với lợi ích của nớc khác và lợi
ích toàn cầu đã trở thành một vấn đề lớn của cộng đồng quốc tế. Trong quá

quốc gia. Để tránh mọi rủi do trong khi mở cửa nền kinh tế của mình ra bên
ngoài, các nớc cũng tăng cờng các biện pháp tự bảo vệ mình và càng tích cực
thiết lập, phát triển các tập đoàn kinh tế khu vực theo quan hệ địa lý. Vai trò
của cơ chế tập đoàn hoá kinh tế này là điều tiết quan hệ nội bộ tập đoàn, u đãi
lẫn nhau và cùng có lợi, hai là cùng đối phó với cuộc cạnh tranh bên ngoài để
thực hiện bảo hộ khu vực. Ví dụ : EEC (cộng đồng kinh tế Châu âu) đã trở
thành một tập đoàn khu vực hùng mạnh, rộng 2,36 triệu Km
2
, với tổng số dân
346 triệu, giá trị tổng sản phẩm quốc dân khoảng 7.000 tỷ USD. Khu vực mậu
dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA- Nouth American Free Trade Area) do Mỹ -
Canada - Mêhicô đóng vai trò chính cũng bắt đầu vận hành từ năm 1994. Khu
vực Châu á - Thái Bình Dơng vơn lên nhanh tuy khó thực hiện nhất thể hoá
kinh tế toàn khu vực nhng hợp tác khu vực nhỏ đã phát triển nhanh nh việc
thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Namá - ASEAN (Association of
Southeast Asian Nations), Diễn đàn kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng-
APEC (Asia Pacific Economic Conference) đã thúc đẩy kinh tế phát triển trao
đổi, hợp tác và cạnh tranh trong toàn khu vực.
Trong xu hớng quốc tế hoá ngày nay, kinh tế - thơng mại trở thành lĩnh
vực quan trọng nhất, tiêu điểm tập chung vào hiệp định chung thuế quan và th-
10
ơng mại (GATT) và bây giờ đợc thay thế bằng WTO (Tổ chức thơng mại thế
giới). Ngoài ra, còn có tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF (International
Moneytary Funds) và Ngân hàng thế giới - WB - (World Bank). Đây là 3 trụ
cột lớn điều hoà quan hệ kinh tế - thơng mại quốc tế.
Có thể nói, xu hớng quốc tế hoá toàn cầu đã trở thành phổ biến. Mọi
quốc gia, mọi tổ chức quốc tế, mọi khu vực kinh tế đều có xu hớng mở cửa để
giao lu, hợp tác trong cạnh tranh để cùng nhau phát triển. Nh vậy, các quốc
gia vì có cùng mục đích chung là phát triển kinh tế cho nên mới có sự song
trùng lợi ích lẫn nhau, tiến tới xu thế toàn cầu và khu vực hoá.

Nam, Bắc - Bắc đan xen chặt chẽ với nhau tạo thành tổng thể của nền kinh tế
thế giới. Mọi tranh chấp về lợi ích đều đợc hoá giải bằng thơng lợng kinh
tế.
2
2
Lịch sử ngoại giao 1979 đến nay - Học viện QHQT - Liên minh tứ cờng - Sách đã dẫn
11
Liên hợp quốc (UN) cùng với các tổ chức kinh tế, tài chính khác nh
IMF, WB, G8 (Câu lạc bộ những nớc công nghiệp phát triển), London club,
Paris club, đã đứng ra làm ngời giúp đỡ trực tiếp hay gián tiếp tác động
đến mọi nền kinh tế của các nớc để hớng các quốc gia này về một kiểu kinh tế
thị trờng toàn cầu nhằm phục vụ lợi ích cho tất cả các quốc gia, đặc biệt là các
quốc gia đang phát triển.
Các quan hệ kinh tế nổi cộm lên vẫn là quan hệ giữa các nớc phát triển
và đang phát triển. Các nớc phát triển vốn có công nghệ và kinh nghiệm quản
lý còn các nớc đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào, trẻ, có khả năng
tiếp thu nhanh, Quan hệ này bổ xung cho nhau tạo nên một môi trờng kinh
tế thế giới mới.
II.4. Châu á - Thái Bình D ơng sự ra đời của một trật tự thế giới mới:

Vòng cung Châu á - Thái Bình Dơng vào cuối thế kỷ XX này đợc
nhắc đến rất nhiều không phải vì cái tên mang tính địa lý học, mà là do trong
bản thân nó (khu vực này ) bao bọc nhiều nền kinh tế đang phát triển với tốc
độ cao, năng động. Chính vòng cung này đã tạo ra một trật tự kinh tế thế
giới mới, ngoài những nguyên nhân chủ quan trong nội tại đó là:
- Sức mạnh kinh tế tiềm ẩn.
- Sự sụp đổ Chủ Nghĩa Xã hội ở Liên Xô và Đông Âu.
- Cuộc cách mạng trong lĩnh vực truyền thông.
Đây chính là ba điểm quan trọng tạo nên một trật tự thế giới mới đặc
biệt là về kinh tế.

là một nền văn minh xa rực rỡ của nhân loại, Châu á - Thái Bình Dơng rất
xứng đáng là trung tâm kinh tế thế giới trong giai đoạn tới.
Theo tính toán của các nhà kinh tế học John Naisbitt thì: Tổng sản
phẩm của Châu á cộng với Nhật Bản vợt Bắc Mỹ năm 1996 và nếu không kể
Nhật Bản thì Châu á sẽ vợt Bắc Mỹ vào năm 2018 và EEC (Cộng đồng kinh
tế Âu Châu) vào năm 2022. Thêm vào đó, Châu á (trừ Nhật) sẽ chiếm 57% nền
kinh tế thế giới vào năm 2050; 24 nớc OECD (Tổ chức kinh tế các nớc phát
triển) gồm có cả Mỹ, Nhật và hầu hết các nớc Châu Âu, sẽ chỉ chiếm 15%. So
sánh với năm 1990 các nớc OECD chiếm 75% kinh tế thế giới trong khi các n-
ớc Châu á chỉ chiếm 9%.
3
Liệu trong vòng 60 năm (Từ 1990 đến 2050) các nớc Châu á có thể
khẳng định đợc vị trí và vai trò nền kinh tế của mình nh trên đề cập hay
không ?
Trên khía cạnh kinh tế, Châu á đã nhận biết đợc vai trò mới lớn hơn và
quan trọng hơn của mình trong nền kinh tế thế giới. Các nớc còn lại cũng đã
nhận biết đợc vai trò tiềm ẩn của Châu á. Nhng có một tiềm năng rất lớn, một
cơ hôi rất lớn cho Châu á tham gia vào trật tự thế giới mới, giành quyền lãnh
đạo kinh tế. Từ Chilê đến Trung Quốc, giới quan sát đều chăm chú theo dõi sự
phát triển của Châu á - Thái Bình Dơng và Châu Mỹ.
3
Nguồn tạp chí tài chính số 10 (396) - 1997 Bài nghịch lý toàn cầu Châu Âu còn phải đi những bớc dài
John Naisbitt.
13
Chơng III
những Xu hớng vận động của nền kinh tế thế giới ảnh h-
ởng tới việc hoạch định chính sách thơng mại và đầu t quốc tế
của việt nam
Cục diện thế giới đang thay đổi nhanh chóng và sâu sắc trên nhiều mặt.
Một trật tự thế giới mới đang từng bớc đợc hình thành theo hớng tạo nên sự

14
Dụng cụ điện trong gia đình 30%
Xi măng 5%
Nhựa, giấy, cao su 30%
Sắt thép 10%

Tuy hệ thống thuế đã đợc đơn giản hoá và mức thuế trần đối với các mặt
hàng nhập khẩu chính đã giảm từ 200% xuống còn 60%. Số mặt hàng chịu
thuế 0 - 5% chiếm 53,1% tổng số mặt hàng nhập khẩu. Và chỉ có 0,78% số
mặt hàng chịu thuế xuất trên 60%. Tuy nhiên cần lu ý là xét về giá trị nhập
khẩu thì phần lớn là các hàng hoá chịu thuế xuất cao. Mức thuế bình quân gia
quyền của 9 mặt hàng chủ yếu nh nêu ở trên là 33,5%, Mặc dù đã có những
cải cách đáng kể trong thời gian qua, hệ thống thuế quan Việt Nam còn khá
phức tạp và hoàn toàn cha phù hợp với các thông lệ quốc tế. Thứ nhất là thuế
xuất dàn trải quá rộng và có quá nhiều mức thuế (150 mức), Vì vậy, hệ thống
thuế quan Việt Nam cần tiếp tục sửa đổi theo hớng đơn giản hơn, rõ ràng hơn.
Hai là: Trong xu hớng quốc tế hoá sản xuất diễn ra ngày một nhanh
chóng nh hiện nay đã tác động tới chính sách sản phẩm đòi hỏi phải có những
nhìn nhận mới. Chúng ta phải có những sửa đổi bổ sung để tạo ra đợc những
chính sách sản phẩm phải vừa tận dụng đợc những kẽ hở của thị trờng khu
vực và thị trờng thế giới vừa phải nhằm vào lĩnh vực có khả năng cạnh tranh
lớn nhất. Kinh nghiệm của các nớc NICs và các nền kinh tế phát triển năng
động nh Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Thailand, là ví dụ sinh động cho
nhận định này.
Ba là: Trong những năm của thập kỷ 80, Liên Xô cũ và Đông Âu vẫn là
bạn hàng chính của Việt Nam chiếm phần lớn trong tổng kim nghạch xuất -
nhập khẩu, nhng đến 1991, thị trờng Châu á chiếm 80% tổng kim nghạch
xuất khẩu của Việt Nam, thì năm 1994 còn 75,8% và năm 1997 chỉ còn chiếm
67,7%. Riêng thị trờng Đông Bắc á chiếm 50% tổng kim nghạch vào năm
1995, và năm 1997 giảm xuống còn 44,0%.

4
3,70 3,80
+ Mỹ Latinh 0,17 0,93 0,52 0,68
+ Hoa Kỳ 3,10 3,43 3,21
Tổng cộng 100.0
0
100.00 100.0
0
100.0
0
100.00
Đặc điểm và xu hớng chuyển dịch cơ cấu khu vực thị trờng xuất khẩu
của Việt Nam từ năm 1991 đến nay cho thấy: một mặt quan hệ buôn bán và
phạm vi không gian thị trờng xuất khẩu không ngừng mở rộng;mặt khác Việt
Nam không chỉ phát triển thị trờng gần mà đã vơn nhanh đến các thị trờng xa
(Tây Bắc Âu, Bắc Mỹ, Châu Đại Dơng). Việt Nam đã chuyển dần cơ cấu thị tr-
ờng từ các nớc Châu á - Thái Bình Dơng là chủ yếu sang các khu vực thị tr-
ờng khác phù hợp với xuất khẩu của Việt Nam. Nếu năm 1991, châu Mỹ mới
chỉ chiếm tỷ trọng 0,16% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam,
thì năm 1994 tăng lên 2,76% và năm 1997 chiếm tới 4,48%. Thị trờng xuất
khẩu của Việt Nam cũng đang đợc mở rộng đáng kể sang châu úc hay Châu
Đại Dơng - mà đặc biệt là Ôxtrâylia. Năm 1991, thị trờng này mới chiếm tỷ
trọng 0,96% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhng đến năm
1997 đã tăng lên 2,7%(xem biểu 2).
Chủ trơng đa phơng hóa, đa dạng hóa kinh tế đối ngoại. Trong đó đáng
chú ý là đã củng cố và mở rộng thị trờng Liên minh châu Âu (EU), bắt đầu đi
vào thị trờng Bắc Mỹ, Trung cận Đông và Châu Phi. Mặt khác, Việt Nam
không chỉ phát triển và mở rộng thị trờng sang các nớc đang phát triển mà còn
mở rộng thị trờng xuất khẩu tới toàn bộ các nớc công nghiệp phát triển, các thị
trờng đợc coi là khó tính, khó len chân và có mật độ cạnh trạnh cao. Thị trờng

tơng lai không xa là của WTO, sẽ đặt các ngành sản xuất nội địa trớc sức ép
ghê gớm của luồng hàng nhập khẩu:
Ví dụ: Nếu thị trờng Việt Nam mở cửa ồ ạt cho hàng Trung Quốc vào
thì chắc chắn sẽ gây phơng hại cho nền công nghiệp trong nớc,
Chính vì vậy, đòi hỏi phải có những biện pháp bảo hộ sản xuất trong n-
ớc hợp lý. ở đây, sự bảo hộ sẽ phải đợc quan niệm nh là sự bảo hộ tích cực
trong điều kiện tự do hoá thơng mại. Nó khác hoàn toàn với sự bảo hộ mậu
dịch trong nền kinh tế hớng nội khép kín.
III.2/ Tác động tới chính sách đầu t quốc tế của Việt Nam:
Trớc ngỡng cửa của thế kỷ mới, toàn nhân loại đang chứng kiến xu h-
ớng Quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày một diễn ra sâu sắc và nhanh chóng
hơn. Không những thế, chúng ta còn chứng kiến sự vơn lên của nền kinh tế
các nớc, sự lớn mạnh không ngừng của các tổ chức và các liên kết kinh tế
quốc tế. Đặc biệt là sự phát triển của vòng cung Châu á - Thái Bình Dơng.
Trong bối cảnh này, chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam nói
chung và chính sách thu hút đầu t nớc ngoài nói riêng đã chịu những tác động
không nhỏ:
17
Một là: Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao chính thức với 156
nớc; quan hệ buôn bán với hơn 100 nớc, vùng lãnh thổ; có hơn 700 công ty
của hơn 50 nớc, vùng lãnh thổ đầu t vào Việt Nam
Vị thế của Việt Nam trên thơng trờng quốc tế đang đợc củng cố, phát
triển và ngày càng có thêm nhiều quốc gia hiểu biết, muốn làm ăn với Việt
Nam. Hơn nữa, khu vực Châu á - Thái Bình Dơng đang là khu vực phát triển
năng động nhất - nơi đợc coi là trung tâm kinh tế thế giới vào đầu thế kỷ XXI
- cũng đã có diễn đàn hợp tác phát triển APEC. Các nớc Đông Nam á đang cố
gắng mở rộng phạm vi hoạt động và vai trò kinh tế của tổ chức ASEAN. Năm
1996, tại Băng Cốc đã diễn ra cuộc gặp gỡ thợng đỉnh của 15 nớc EU với 10
nớc Châu á nhằm đẩy mạnh hợp tác á- Âu, Những điều kiện trên đây đã đa
khu vực Châu á trở thành nơi có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu t nớc

18
huy những thuận lợi và khắc phục những khó khăn đối với các nhà đầu t.
Chẳng hạn nh khi đánh giá môi trờng đầu t của Việt Nam, các nhà đầu t có
nhận xét sau:
- So với các nớc trong khu vực, thuế lợi tức và giá nhân công của Việt
Nam thấp đồng thời cờng độ lao động và kỹ năng lao động của công nhân Việt
Nam cũng thấp, giá thuê dịch vụ văn phòng và chi phí đền bù giải toả mặt
bằng lớn.
- Còn có quá nhiều lệ phí (Theo thống kê cha đầy đủ, hiện có khoảng
200 loại lệ phí đang đợc thực hiện ở Việt Nam) gây ra cho các nhà đầu t có
cảm tởng phải đóng quá nhiều thuế.
- Thủ tục triển khai dự án phức tạp, kéo dài, nhất là khâu cấp đất, giải
phóng mặt bằng, xét duyệt và sửa chữa thiết kế, thủ tục hải quan,
- Chính sách hai giá trong dịch vụ khách sạn, cớc phí điện thoại, giá
điện nớc, đối với ngời nớc ngoài và ngời Việt Nam khiến cho các nhà đầu t
nớc ngoài cảm thấy bị đối xử không công bằng
Hơn thế nữa, các nớc trong khu vực đều đang tìm cách khắc phục khủng
hoảng kinh tế vừa qua cho nên họ rất cần vốn đầu t, vốn hỗ trợ từ bên ngoài để
nhằm khắc phục nền kinh tế của nớc mình. Chính vì vậy, những quốc gia này
sẽ có những điều chỉnh nhằm tạo cho môi trờng đầu t của nớc mình có sức hấp
dẫn cao. Hơn nữa, chúng ta đều biết dòng vốn đầu t nớc ngoài rất nhạy cảm
với các chính sách cũng nh môi trờng đầu t của mọi quốc gia nó sẽ chảy vào
khu vực có nhiều lợi nhất.
III.3/ Một số gợi ý trong việc hoạch định chính sách th ơng mại và
đầu t quốc tế trong tình hình mới hiện nay.
ở mỗi giai đoạn phát triển, đất nớc lại đứng trớc một bối cảnh trong nớc
và quốc tế khác nhau, nhng có thể nói cha bao giờ chúng ta có đợc thời cơ
quốc tế thuận lợi nh bây giờ. Vấn đề chỉ còn phụ thuộc vào chính chúng ta,
phải chớp lấy thời cơ và tranh thủ nguồn lực to lớn bên ngoài để thực hiện
những mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội nói chung, phát triển quan hệ thơng

trong khi các đối thủ cạnh tranh quốc tế có đầy đủ các thế mạnh về kỹ thuật,
công nghệ, tài chính, quản lý, kinh nghiệm kinh doanh - tiếp thị, Bên cạnh
đó, ta lại bắt đầu tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế sau nhiều nớc trong
khu vực và thế giới (GATT, WTO: đã hoạt động trên 1/2 thế kỷ; ASEAN trên
30 năm, APEC từ năm 1989), do đó ta đang phải cố gắng hết mình để theo kịp
tiến độ chung trong quá trình tự do hoá với quy mô rộng hơn và mức độ sâu
hơn.
- Các cơ chế mang tính chất kinh tế thị trờng của ta còn trong giai đoạn
đang đợc hình thành, nói cách khác là còn sơ khai, cha đồng bộ, hệ thống
pháp luật cha hoàn chỉnh. Còn nhiều luật lệ (Đặc biệt trong chính sách thu hút
đầu t nớc ngoài) và chính sách, biện pháp mở cửa còn thiếu hoặc cha phù hợp
với thông lệ và tập quán quốc tế, còn mang nặng tính bảo hộ, phân biệt đối xử.
-Hiểu biết về xu hớng quốc tế hoá và khu vực hoá còn nhiều hạn chế,
công tác chuẩn bị còn coi nhẹ, nhận thức về tầm quan trọng cũng nh những
yêu cầu, nội dung của quá trình tham gia còn cha đồng đều giữa các bộ,
ngành, cơ quan. Đặc biệt giới kinh doanh hầu nh còn đứng ngoài cuộc, cha
sẵn sàng tham gia trong khi đó các tổ chức đều xác định khu vực doanh
nghiệp chính là đối tợng, động lực của quá trình tham gia xu hớng quốc tế
hoá, khu vực hoá. Đội ngũ làm công tác này còn thiếu về số lợng, yếu về trình
độ, nghiệp vụ, khả năng xây dựng chính sách cũng nh trình độ ngoại ngữ, đặc
biệt cha có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng đàm phán trong các hoạt động đa
phơng.
III.3.2/ Một số gợi ý và giải pháp cho Việt Nam trong việc hoạch định
chính sách thơng mại và đầu t quốc tế trong tình hình hiện nay:
20
Chính sách thơng mại và đầu t quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với mọi quốc gia nói chung cũng nh Việt Nam nói riêng. Thực tế của thế giơí
cho thấy xu hớng tự do hoá thơng mại và đầu t là một xu hớng tất yếu mà mọi
quốc gia phải tính tới trong quá trình hoạch định chính sách của mình. Việt
Nam cũng đã nhận thức đợc xu hớng phát triển khách quan đó. Vấn đề là làm

trong tơng lai và chậm nhất đối với mặt hàng có tiềm năng cạnh tranh kém.
*Phải phối hợp nhịp nhàng giữa biện pháp thuế quan và phi thuế quan.
Về nguyên tắc vừa giảm thuế quan vừa cắt giảm các biện pháp phi thuế quan
song trong một số trờng hợp nếu thấy vẫn cần bảo hộ có mức độ trong thời
gian nhất định trong khi buộc phải giảm thuế sớm thì có thể duy trì các biện
pháp phi thuế quan thích hợp trong thời gian nhất định.
21
*Đồng thời với các biện pháp trên phải u tiên đầu t tiền vốn, kỹ thuật để
tạo và củng cố thế mạnh của các ngành hàng. Có kế hoạch đâù t ngay từ đầu,
không chờ đến khi bỏ bảo hộ mới đầu t.
*Việc phân chia nhóm ngành hàng, mặt hàng đòi hỏi phải tập trung sức
lực và trí tuệ cao của các nhà làm chính sách để phân tích thông tin, đánh giá
chính xác lợi thế cạnh tranh tiềm năng, tầm quan trọng trong từng ngành hàng
trong thế tĩnh và động. Ngoài ra cần phải thờng xuyên tham vấn các doanh
nghiệp, các tổ chức, hiệp hội ngành hàng về các chơng trình dự kiến để nhận
những kiến nghị cần thiết.
*Cần nhanh chóng hình thành cục xúc tiến thơng mại và các trung tâm
xúc tiến thơng mại ở các trung tâm kinh tế lớn và có thể cả ở nớc ngoài khi
điều kiện cho phép nhằm công tác tổ chức thị trờng và xúc tiến thơng mại có
nh vậy mới đắc lực hỗ trợ các doanh nghiệp nhanh chóng vơn ra đợc thị trờng
nớc ngoài.
b/ Đối với chính sách thu hút đầu t quốc tế:
Về phía mình, với t cách là bên nhận đầu t, Việt Nam phải đủ các điều
kiện cần thiết để thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài, tạo thuận lợi cho các
nhà đầu t nớc ngoài. Trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục làm tốt các công
việc sau đây:
*Giữa vững sự ổn định Chính trị - Xã hội, xây dựng bộ máy quản lý
Nhà nớc trong sạch, vững vàng, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nớc và đảm
bảo lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà n-
ớc. Đảm bảo trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn và sử lý thật nghiêm minh mọi

tục hành chính theo hớng nhanh gọn, hiệu quả, đơn giản hoá các thủ tục tiếp
nhận đầu t trực tiếp nớc ngoài.
*Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng. Đây là công việc
không dễ thực hiện ngay đợc trong điều kiện tiềm lực kinh tế của Việt Nam
còn nhỏ bé, nhất là nguồn vốn ngân sách Nhà nớc còn hạn chế. Vì vậy, một
mặt chúng ta cần huy động tối đa khả năng của mình, mặt khác cần tranh thủ
sự ủng hộ của các tổ chức và chính phủ các nớc. khi cha đủ điều kiện phát
triển đồng bộ hệ thóng cơ sở hạ tầng của nền kinh tế thì nên tập trung xây
dựng rứt điểm những công trình then chốt của nền kinh tế.
*Phát triển mạnh nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc với sự
tham gia của các thành phần kinh tế, trong đó một mặt phải củng cố kinh tế
quốc doanh theo hớng hiệu quả, đồng thời phát triển mạnh kinh tế t nhân dới
nhiều hình thức.
*Dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của phân
công lao động quốc tế. Một cơ cấu kinh tế mới chỉ nên tập trung ohát triển
mạnh những ngành và lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế.
*Mở cửa về thông tin trong và ngoài nớc, nhất là thông tin kinh tế, thị
trờng, văn hoá, xã hội, khoa học công nghệ dới mọi hình thức. Thiết lập một
thị trờng thông tin công bằng đối với mọi thành viên trong xã hội, đảm bảo
quyền đợc thông tin của mọi ngời dân và các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

23
Kết luận
Quốc tế hoá đời sống kinh tế là một xu hớng khách quan, là sự phát triển
tất yếu của nền sản xuất xã hội, trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng
sản xuất. Xu hớng này đã tác động tới nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên
thế giới nói chung và tác động tới chính sách kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia
nói riêng. Chính vì vậy mà đòi hỏi mỗi một quốc gia - trong đó có Việt Nam phải
có chính sách kinh tế đối ngoại thích hợp nhằm đa đất nớc hội nhập vào nền kinh
tế thế giới.

John Naibitt - Nxb Chính trị Quốc gia.
6. Thời đại Châu á trỗi dậy - JIMROH WER - Nxb Thống kê.
7. Chính sách thơng mại và đầu t (chủ biên viện sĩ Vô Đại Lợc -
VKTTG) - 1997.
B - Tài liệu tham khảo
1. Thế giới 1992 và 1993 (số 1 và 2) - TTXVN
2. Các xu thế của thế giới (tháng 7/1994) - TTXVN.
3. Kinh nghiệm kinh tế CA - TBD (Số 6/1992) - TTXVN.
4. TLTK chủ nhất 18/5/1997 - Quan hệ KTĐN xuyên thế kỷ của TQ -
TTXVN
C - Tạp chí
1. Lịch sử QHQT 1919 đến nay - Học viện QHQT - Hà Nội 1995.
2. Tài chính số 2 (388) số 10 (396) số 11 (397) - 1997 số 7 năm 1998.
3. Kinh tế 97 - 98 Việt Nam và Thế giới - Thời báo KTVN.
4. Quốc tế số 21 (310) - 1998, số 22 (311) - 1998.
5. Kinh tế Đầu t số 93 (392), số 98 (397), số 103 (402) - 1998
6. Một số tạp chí khác.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status