khóa luận tốt nghiệp hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp điện ở việt nam - thực trạng và giải pháp - Pdf 13



Trường đại học ngoại thương
Khoa quản trị kinh doanh
Chuyên ngành kinh doanh quốc tế

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC
CÔNG NGHIỆP ĐIỆN Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên thực hiện : Trần Thành Nghĩa
Lớp : Anh 3 - K44A - QTKD
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng
2.2. Nhà máy thủy điện 24
2.3. Nhà máy điện nguyên tử 25
2.4. Nhà máy điện dùng sức gió 26
2.5. Nhà máy điện từ thủy động 26
2.6. Nhà máy điện tuabin khí 27
3. Ngành công nghiệp điện 27
4. Đặc điểm của đầu tư vào ngành công nghiệp điện 29
CHƢƠNG II: THỰC TIỄN THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI VÀO
NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN Ở VIỆT NAM 32
I. Khái quát về ngành công nghiệp điện Việt Nam 32
1. Điểm qua về tình hình phát triển ngành công nghiệp điện Việt Nam trong
những năm gần đây 32
2. Đặc điểm của ngành công nghiệp điện Việt Nam 34
3. Khả năng phát triển các nguồn năng lượng ở Việt Nam 38
4. Những khó khăn đối với ngành công nghiệp điện Việt Nam 40
II. Thực trạng thu hút và sử dụng FDI vào ngành công nghiệp điện ở
Việt Nam 42
1. Sơ lược về tình hình thu hút và sử dụng FDI vào Việt Nam trong 20 năm 42
1.1. Tình hình thu hút vốn FDI trong giai đoạn 1988 – 2008 42
1.1.1. Tình hình thu hút vốn FDI trong giai đoạn 1988 – 2005 43
1.1.2. Tình hình thu hút vốn FDI trong giai đoạn 2005 – 2008 45
1.2. Tình hình triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án đầu tư
nước ngoài trong giai đoạn 1988 – 2008 46
1.2.1. Vốn giải ngân đầu tư nước ngoài 46
1.2.2. Triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án đầu tư nước
ngoài 47
2. Tình hình thu hút và sử dụng FDI trong ngành công nghiệp điện 48
2.1. Tình hình thu hút đầu tư vào lĩnh vực điện năng nói chung 49
2.1.1. Đầu tư của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) 50
2.1.2. Đầu tư của nhà đầu tư ngoài EVN 51

II. Chiến lƣợc phát triển ngành công nghiệp điện ở Việt Nam từ nay
đến năm 2020 84
1. Một số định hướng của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển ngành
công nghiệp điện đến năm 2020 84
2. Chiến lược phát triển của ngành công nghiệp điện 85
III. Giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút và sử dụng FDI vào ngành
điện 86
1. Giải pháp đối với Nhà nước 87
1.1. Xây dựng mô hình thị trường điện lực Việt Nam 87
1.2. Cải cách thủ tục hành chính 89
1.3. Ban hành các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư 90
1.4. Điều chỉnh Hợp đồng BOT (hoặc BOO) với chủ đầu tư 92
1.5. Lựa chọn chủ đầu tư dự án IPP thông qua đấu thầu cạnh tranh 92
1.6. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nguồn điện 93
1.7. Đảm bảo về mặt tài chính của dự án IPP 93
1.8. Quản lý và phân bổ hợp lý các rủi ro giữa các bên 94
2. Giải pháp đối với EVN 94
3. Các giải pháp khác 95
3.1. Chủ đầu tư dự án cần thực hiện tốt các thủ tục đầu tư 95
3.2. Đảm bảo chất lượng về yếu tố con người 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tổng công suất phát điện cả nước qua các năm 2003 – 2008 33
Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư (1988 – 2008) 43
Bảng 3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư (1988 – 2005) 44
Bảng 4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư (2005 – 2008) 45

DANH MỤC HÌNH
1
LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp điện đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã
hội. Ngày nay, công nghiệp hóa đang từng bước phát triển trên cả nước. Vì vậy,
ngành công nghiệp điện cũng như điện năng ở Việt Nam đã và đang đi trước trong
việc xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện, thủy điện và chuẩn bị xây dựng nhà máy
điện nguyên tử nhằm cung cấp điện năng phục vụ sản xuất của các khu công nghiệp
(KCN), khu chế xuất (KCX) và sinh hoạt dân dụng,… Điều này góp phần hỗ trợ
cho sự tăng trưởng kinh tế và củng cố vị thế cạnh tranh của Việt Nam trên trường
quốc tế. Đồng thời, công nghiệp điện cũng mang lại những sản phẩm, dịch vụ tốt
hơn và thông qua đó giúp nâng cao mức sống của xã hội. Vì vậy, Việt Nam rất cần
thiết phải đầu tư phát triển ngành công nghiệp điện.
Tuy nhiên, nền kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới muốn tiếp tục tăng
trưởng một cách ấn tượng đòi hỏi nhu cầu điện phải tăng rất nhanh. Ngày
18/7/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg phê duyệt
Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 – 2015 có xét đến năm 2025
(gọi tắt là Quy hoạch điện VI). Với tốc độ tăng trưởng phụ tải điện được dự báo
trong Quy hoạch điện VI thì phương án cơ sở tăng 17%/năm, nhưng phương án điều
hành có thể tăng tới 20%, thậm chí 22%/năm thì mỗi năm ngành điện phải đầu tư
khoảng 2.000 – 3.000 MW công suất điện. Đến năm 2010, tổng công suất điện trên
toàn hệ thống sẽ tăng gấp đôi so với công suất đặt hiện nay (11.200 MW)
1
. Với tốc
độ tăng trưởng như vậy, một mình ngành điện không thể lo xuể. Nhà đầu tư trong
và ngoài nước đầu tư theo hình thức phát triển các nhà máy điện độc lập (IPP –
Independent Power Plant) thông qua các hình thức Xây dựng – Khai thác – Chuyển

phối
3
. Nhiều dự án IPP ngành điện bị chậm tiến độ là do rất nhiều nguyên nhân
khác nhau như thiếu nhân lực, thiếu thiết bị thi công, giá vật liệu tăng cao và sự
xung đột về lợi ích đầu tư và hành lang pháp lý còn nhiều bất cập,… gây ảnh hưởng
xấu tới sự phát triển kinh tế xã hội. Nhìn nhận tổng thể, giải pháp thu hút đầu tư trực
tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự án nguồn điện vừa cần thiết vừa đáp
ứng yêu cầu mở cửa hội nhập và không thể không khơi thông nguồn vốn quan trọng
này. Xuất phát từ nhu cầu đó, tác giả đã chọn đề tài “Hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp điện ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp”
làm Khóa luận tốt nghiệp.
2
Tư vấn của ADB về PPP tại các nước Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS), Anand Chiplunkar, 2006, tr.5.
3
Đầu tư vào ngành điện không phải dễ,

3
2. Mục tiêu nghiên cứu
Cho đến nay, số lượng các dự án IPP ngành công nghiệp điện Việt Nam chưa
nhiều và thời gian thực hiện các dự án này chưa lâu do các hình thức này hiện chưa
hấp dẫn được các nhà đầu tư. Vì thế, đề tài Khóa luận này còn khá mới mẻ, chưa
được nghiên cứu toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn. Khóa luận sẽ đề cập đến
các nội dung sau:
 Những vấn đề lý luận về Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và ngành công
nghiệp điện.
 Phản ánh thực tiễn thu hút và sử dụng vốn FDI vào ngành công nghiệp điện
ở Việt Nam.

Trong phần này, tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan về Đầu tư trực tiếp nước
ngoài và ngành công nghiệp điện để làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở Chương II.
Chƣơng II: Thực tiễn thu hút và sử dụng FDI vào ngành công nghiệp
điện ở Việt Nam
Trong phần này, tác giả đề cập đến khái quát về ngành công nghiệp điện ở
Việt Nam và thực trạng thu hút và sử dụng FDI vào ngành này dưới các hình thức
như BOT, BOO và các hình thức đầu tư khác.
Chƣơng III: Giải pháp nhằm thu hút và sử dụng FDI vào ngành công
nghiệp điện ở Việt Nam
Tác giả xin bày tỏ lòng cám ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Ths.
Nguyễn Thị Thu Hằng, giảng viên trường Đại học Ngoại Thương, cùng sự giúp đỡ
tận tình của các cô chú ở Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã
nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành Khóa luận tốt
nghiệp này.
Tuy nhiên, do trình độ hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian
nghiên cứu không nhiều nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất
mong được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo của thầy cô, bạn bè để Khóa luận được
hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện

Trần Thành Nghĩa

5
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN

I. Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

5
.
Luật Đầu tư 2005 ở Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005 đưa ra khái niệm:
“Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản
lý hoạt động đầu tư”
6
. Và “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa
vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động
đầu tư”
7
. Từ đó, ta có thể hiểu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân
nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào
được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để tiến hành tham gia quản lý hoạt động đầu
tư tại Việt Nam.
Như vậy, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau về FDI, song chúng ta có
thể đưa ra một khái niệm tổng quát như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình
thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần
đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia
điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại”
8
.
Nói một cách khác, FDI là một loại di chuyển vốn quốc tế dài hạn, trong đó chủ vốn
đầu tư cũng đồng thời là người tham gia trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sử
dụng đồng vốn của mình nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh
tế – xã hội nhất định. Về bản chất, đây là hình thức xuất khẩu tư bản – một hình
thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa.
2. Đặc điểm của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Tác động cơ bản nhất của các hình thức chu chuyển vốn là tăng tổng mức
đầu tư của toàn xã hội, chúng đem đến cho các quốc gia tiếp nhận phương tiện để
phát huy tỷ suất lợi nhuận về vốn cao hơn do sự khan hiếm tương đối về vốn trong

doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên
doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu
tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực
nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài
nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ. Trong khi
đó, Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức
100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp
định của dự án.
- Nguồn vốn đầu tư FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu
tư dưới hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả
vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ
nguồn lợi nhuận thu được.
- Nguồn vốn FDI có thể tham gia trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề. Trong
khi các nhà đầu tư gián tiếp chỉ quyết định mua cổ phiếu tại những doanh nghiệp
làm ăn có lãi hoặc có triển vọng trong tương lai, hay với hình thức hỗ trợ phát triển
chính thức (Official Development Aid – ODA), các nước chủ nhà tuy có quyền 9
Phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào phát triển công
nghiệp Việt Nam, Nguyễn Thị Hường, Luận án Thạc sỹ năm 1995, tr.23.

8
quản lý sử dụng vốn nhưng thông thường danh mục các dự án phải có sự thỏa thuận
với các nhà tài trợ thì ở các dự án FDI, ngoài danh mục một số ngành nghề Chính
phủ nước chủ nhà không cho phép, nhà đầu tư có thể bỏ vốn kinh doanh vào bất cứ
lĩnh vực nào mà mình ưa thích.
- Nguồn vốn FDI có tính ổn định cao. Đối với đầu tư gián tiếp, hình thức đầu
tư chủ yếu của nó là mua các tài sản tài chính, tiền lãi từ việc mua các trái khoán
còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như tỷ giá, lãi suất ngân hàng, giá cổ phiếu.

đầu tư vào Việt Nam dưới 7 hình thức theo Luật đầu tư 2005 ban hành ngày
29/11/2005:
 Hình thức đầu tư liên doanh với nước ngoài.
 Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài.
 Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
 Hình thức đầu tư theo Hợp đồng Xây dựng – Khai thác – Chuyển giao
(BOT), Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Hợp đồng
Xây dựng – Chuyển giao (BT).
 Mua cổ phần hoặc góp vốn.
 Hình thức đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con.
 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài khác.
3.1. Hình thức đầu tư liên doanh với nước ngoài
Hình thức đầu tư liên doanh với nước ngoài là hình thức đầu tư mà nhà đầu
tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để thành lập công ty
TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của
Luật Việt Nam và pháp luật có liên quan.
Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài (gọi tắt là liên doanh – Joint
Venture), là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên thế giới từ trước đến nay. Nó là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước
ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác. Khái niệm
liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế, hình thành từ
những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính, luật pháp
và bản sắc văn hóa; hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên về vốn, quản lý
lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra; hoạt

10
động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch
vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Hình thức doanh nghiệp liên doanh với
nước ngoài giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hóa sản phẩm, đổi

quản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tùy thuộc vào các điều kiện về
môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh tế, luật
pháp, văn hóa, mức độ cạnh tranh,… Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư
cách pháp nhân là một thực thể pháp lý độc lập, hoạt động theo luật pháp nước sở
tại và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư
nước ngoài giúp Nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù doanh
nghiệp bị lỗ; giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư; tập
trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích
xuất khẩu; tiếp cận được thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, hình thức này khiến cho
nước tiếp nhận khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để nâng
cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở các doanh nghiệp trong nước.
- Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Hình thức này giúp chủ động trong quản lý
điều hành doanh nghiệp thực hiện được chiến lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai
nhanh dự án đầu tư; được quyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu phát triển chung của tập đoàn. Tuy nhiên, chủ đầu tư phải chịu
toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị
trường mới; không xâm nhập được vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị
trường trong nước lớn, khó quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước nước sở tại.
3.3. Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Hợp
đồng BCC) là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và phân chia kết
quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành lập
pháp nhân mới.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa đại diện có thẩm
quyền của các bên tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ việc thực
hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên. Đặc điểm là các bên ký kết Hợp
đồng hợp tác kinh doanh, trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh có thể

12


10
Cơ sở lý luận và thực tiễn tài trợ trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng của Việt Nam dưới hình thức
BOT, Nguyễn Thị Thu Hằng, Lê Tuyển Cử, Nguyễn Thị Thu Trà, Vũ Cường, 2004, tr.20.

13
được sự mâu thuẫn giữa nhu cầu thiết yếu về cơ sở hạ tầng với sự thiếu vốn trầm
trọng ở những quốc gia đang phát triển
11
.
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới về hình thức BOT thì “Hình thức
đầu tư BOT là hình thức nhà đầu tư tiến hành đầu tư xây dựng công trình, sau
khi hoàn thành sẽ tiến hành kinh doanh khai thác trong một thời gian nhất định
đảm bảo thu hồi được vốn và có lợi nhuận hợp lý sau đó chuyển giao không bồi
hoàn cho Nhà nước”
12
.
Như vậy, lợi ích của nhà đầu tư nói chung là khoản lợi nhuận họ có thể nhận
được từ việc khai thác dự án. Họ có thể nhận được một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp.
Hiện nay ở Việt Nam, ngoài hình thức BOT chính thống còn tồn tại các dạng
biến thể khác như:
 Hợp đồng BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh): là Văn bản được
ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với nhà đầu tư
nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong,
nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam,
Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh khai
thác công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi
nhuận hợp lý.
 Hợp đồng BT (Xây dựng – Chuyển giao): là Văn bản được ký kết giữa cơ

khả năng kiểm soát. Nhưng việc đàm phán và thực thi Hợp đồng BOT thường gặp
nhiều khó khăn tốn kém nhiều thời gian và công sức.
3.5. Mua cổ phần hoặc góp vốn
Hình thức mua cổ phần hoặc góp vốn là hình thức đầu tư trong đó nhà đầu tư
được quyền góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam, hình
thành nên công ty cổ phần.
Công ty cổ phần (Joint Stock Company) là doanh nghiệp trong đó vốn điều
lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách
nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã
góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng tối đa không
hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tối thiểu. Đặc trưng của công ty
cổ phần là nó có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông có
quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. Cơ cấu tổ chức:
công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng quản trị và giám đốc. Thông
thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số
cổ phiếu thường có quyền tham gia giám sát quản lý hoạt động của công ty cổ phần.
Đại hội cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết là cơ quan quyết định cao

15
nhất của công ty cổ phần. Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu
tư nước ngoài được thành lập theo cách thành lập mới, cổ phần hóa doanh nghiệp
FDI (doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt
động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hóa.
3.6. Hình thức đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con
Hình thức đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company)
là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa nhận rộng rãi ở hầu hết các
nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Holding company là một công ty sở hữu
vốn trong một công ty khác ở mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành
công ty đó thông qua việc gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hội đồng quản
trị. Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn

thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được
thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ Việt Nam về doanh nghiệp chế
xuất.
Khi hoạt động trong khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất được hưởng những
ưu đãi nhất định, ví dụ được miễn thuế xuất nhập khẩu đối với việc xuất nhập khẩu
hàng hóa với khách hàng nước ngoài.
Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong thị trường Việt Nam
với các doanh nghiệp chế xuất được coi là quan hệ xuất nhập khẩu và phải tuân theo
các quy định của pháp luật xuất nhập khẩu.
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, do Chính phủ Việt Nam thành lập hoặc cho phép
thành lập.
Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
trong khu công nghiệp. Đó có thể là doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư Việt Nam.
4. Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Luồng vốn FDI trên thế giới gia tăng trong những năm vừa qua đã có những
tác động ngày càng rõ nét lên nền kinh tế toàn cầu. Tác động đó, trước hết từ những
lợi ích mà các nhà đầu tư thu được khi mang vốn ra nước ngoài và sau đó là những
lợi ích đối với quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư. Lý thuyết về lợi ích của đầu tư nước

17
ngoài của Mac Dougall đã chỉ ra: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vừa tạo ra thu nhập
cho nhà đầu tư trong nước và ngoài nước”
13
. Khi đó, sản lượng của cả hai nước sẽ
tăng lên làm cho tổng sản lượng của toàn thế giới cũng tăng lên. Chúng ta sẽ tiến
hành xem xét những tác động tích cực của FDI đối với nền kinh tế của các nước
xuất khẩu FDI và các quốc gia tiếp nhận vốn.
4.1. Tác động đối với các nước xuất khẩu FDI

tư, chẳng hạn thăm dò khai thác dầu khí, khoáng sản, tài nguyên biển, rừng, sản
phẩm cây công nghiệp,… Nguồn tài nguyên của các nước đang phát triển có nhiều
nhưng không có điều kiện khai thác, chế biến do thiếu vốn, công nghệ. Do đó, đầu
tư vào các lĩnh vực này sẽ thu được nguyên liệu thô với giá rẻ và qua chế biến sẽ
thu được lợi nhuận cao.
- FDI giúp các chủ đầu tư nước ngoài đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công
nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh: Đổi mới thường xuyên công nghệ là điều
kiện sống còn trong cạnh tranh; do đó các nhà đầu tư nước ngoài thường chuyển
những máy móc, công nghệ đã lạc hậu so với trình độ chung của thế giới để đầu tư
sang các nước khác. Điều đó, một mặt giúp các chủ đầu tư thực chất bán được máy
móc cũ để thu hồi vốn nhằm đổi mới thiết bị công nghệ; kéo dài được chu kỳ sống
của sản phẩm của hãng ở các thị trường mới; di chuyển máy móc gây ô nhiễm môi
trường ra nước ngoài và trong nhiều trường hợp còn thu được đặc lợi do chuyển
giao công nghệ đã lạc hậu đối với các chủ đầu tư nước ngoài.
4.2. Tác động đối với nước tiếp nhận vốn FDI
4.2.1. Tác động đối với những nƣớc công nghiệp phát triển
Theo đánh giá của IMF và Ngân hàng Thế giới (WB), trong thời gian tới, các
nước phát triển tiếp tục vừa là nguồn đầu tư chủ yếu ra nước ngoài vừa là những địa
chỉ thu hút đại bộ phận đầu tư quốc tế. Đây là những nước xuất khẩu vốn FDI nhiều
nhất, nhưng cũng là những nước tiếp nhận vốn FDI nhiều nhất hiện nay, tạo nên
luồng đầu tư hai chiều giữa các quốc gia, trong đó các tập đoàn xuyên quốc gia
(TNCs) đóng vai trò chủ chốt. Theo Báo cáo của Hãng thông tấn Reuters về những
quốc gia dẫn đầu thế giới về khả năng thu hút FDI năm 2008, Mỹ vẫn là nước tiếp
nhận FDI nhiều nhất, tiếp đến là Anh, Pháp, Canada, Hà Lan và các nước phát triển
khác.
Nguồn vốn FDI có tác động quan trọng đến sự phát triển kinh tế của các
nước này và chiến lược phát triển của các TNCs, đặc biệt là tăng cường cơ sở vật
chất kỹ thuật của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất và tăng cường kinh tế, mở rộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status