Tình hình nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 13

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG HÀ NỘI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
TÌNH HÌNH NỢ XẤU VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ
LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn
: TS. Nguyễn Thị Lan
Sinh viên thực hiện
: Hoàng Huyền Nga
Lớp
: Nhật 1 – TCNH – K45

HÀ NỘI – 2010
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ
NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 4
1.1. Ngân hàng thƣơng mại 4
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại 4
1.1.2. Chức năng của các ngân hàng thƣơng mại 5
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại 8
1.2. Nợ xấu tại các ngân hàng thƣơng mại 13
1.2.1. Khái niệm: 13
1.2.2. Các tiêu chí xác định nợ xấu ngân hàng 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AMC
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản tồn đọng
CBCNVC
Cán bộ công nhân viên chức
CIC
Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng
CPH
Cổ phần hóa
DATC
Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng
DNNN
Doanh nghiệp nhà nƣớc
DPRR
Dự phòng rủi ro
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
NHNN
Ngân hàng nhà nƣớc
NHTM
Ngân hàng thƣơng mại
NHTMCP
Ngân hàng thƣơng mại cổ phần
NHTMNN
Ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc
NHTW
Ngân hàng trung ƣơng

Để đảm bảo đứng vững và phát triển, các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam
cần khắc phục đƣợc những điểm yếu đang tồn tại nhƣ về công nghệ, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, cơ chế quản lí, giám sát. Và trên con đƣờng hội nhập
đó, vấn đề nợ xấu của các ngân hàng thƣơng mại cần phải đƣợc đặc biệt quan
tâm.
Vấn đề nợ xấu hiện nay không chỉ làm đau đầu các chuyên gia kinh tế
Việt Nam mà còn làm tốn không ít giấy mực của các chuyên gia tài chính thế
giới. Ảnh hƣởng của nó là những mất mát to lớn, thậm chí có thể làm phá sản
cả một ngân hàng. Do vậy, nếu công tác phòng ngừa và xử lí nợ xấu đƣợc
thực hiện có hiệu quả thì Ngân hàng sẽ có khả năng phát triển mạnh mẽ hơn
nữa. Đối với hệ thống ngân hàng, việc tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế, xử
lý nợ xấu là một nhiệm vụ hết sức cấp bách của các Ngân hàng hiện nay nhằm
lành mạnh hoá hoạt động ngân hàng và góp phần tích cực vào sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hóa đất nƣớc.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác phòng ngừa rủi ro trong
hoạt động tín dụng ngân hàng, cũng nhƣ đẩy nhanh việc cơ cấu lại hệ thống
các TCTD theo nhƣ đòi hỏi cấp thiết của tiến trình hội nhập, do vậy mà em đã
lựa chọn đề tài: “Tình hình nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam”
2

2. Mục tiêu nghiên cứu
Trình bày những vấn đề về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các
NHTM, nghiên cứu quá trình hình thành và phát sinh nợ xấu
Đánh giá tình hình nợ xấu và các biện pháp hạn chế nợ xấu tại các
NHTM Việt Nam thời gian qua. Phân tích các nguyên nhân phát sinh nợ xấu
và những vấn đề còn tồn tại trong công tác hạn chế nợ xấu tại các NHTM Việt
Nam.
Xem xét tầm quan trọng của việc tăng cƣờng công tác ngăn ngừa, xử lý
nợ xấu, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hạn chế nợ xấu trong tƣơng lại tại

NAM

Em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Lan – Giảng viên khoa Tài
chính – Ngân hàng đã tận tình hƣớng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận này.
4

CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ
NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại
NHTM là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM:
1.1.1.1. Quan điểm của một số nhà kinh tế
Theo Frederic S. Mishkin, “NHTM là một trung gian tài chính mà họ nhận
tiền gửi từ các cá nhân, các tổ chức và đem cho vay. NHTM thu hút vốn trước
hết bằng cách phát hành: Tiền gửi có thể phát séc được (là tiền gửi có thể viết
séc được), tiền gửi tiết kiệm (là các món tiền gửi có thể được thanh toán ngay,
nhưng không cho phép người gửi viết séc), và các tiền gửi có kỳ hạn (là các
tiền gửi có kỳ hạn thanh toán trước). Sau đó họ dùng tiền này để cho vay: cho
vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và để mua: Các chứng
khoán chính phủ, các trái khoán của chính quyền địa phương.”
Theo Peter S. Rose, “NHTM là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.”
1.1.1.2. Khái niệm được áp dụng tại Việt Nam
Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí
quan trọng trong nền kinh tế, đó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh
trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Theo Luật các tổ chức tín dụng số

Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thƣơng mại thực
sự là một cầu nối giữa những ngƣời có tiền muốn cho vay hoặc muốn gửi ở
6

ngân hàng với những ngƣời thiếu vốn cần vay. NHTM đã góp phần tạo lợi ích
công bằng cho cả ba bên trong quan hệ: ngƣời gửi tiền, ngân hàng và ngƣời
vay.
- Đối với người gửi tiền: họ sinh lời đƣợc vốn tạm thời nhàn rỗi của mình bởi
lãi suất tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ hoặc đƣợc ngân hàng tạo ra cho họ
các tiện ích nhƣ sự an toàn hoặc cung cấp cho họ các phƣơng tiện thanh toán.
- Đối với người vay: sẽ thỏa mãn đƣợc nhu cầu kinh doanh hoặc chi tiêu,
thanh toán mà khỏi tốn nhiều công sức, thời gian cho việc tìm kiếm nơi vay
tiền tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
- Đối với NHTM: sẽ tìm kiếm đƣợc lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh
lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận
này chính là cơ sở tồn tại và phát triển của NHTM.
Ngày nay, có thể nói mọi quan hệ kinh tế xã hội của loài ngƣời đều
thông qua quan hệ tiền tệ và chủ yếu thông qua hoạt động của ngân hàng bên
cạnh hoạt động của tổ chức phi ngân hàng.

1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
Cùng với hoạt động của NHTM trong quá trình làm trung gian tín dụng
đã thu hút các nhà doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân
hàng. Trên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, NHTM thực hiện các khoản
thanh toán chi trả cho khách hàng theo các hợp đồng mua bán, giao dịch. Với
vai trò là trung gian thanh toán, Ngân hàng làm theo lệnh của chủ tài khoản
nhƣ tính tiền trên tài khoản của ngƣời mua để chuyển sang tài khoản của
ngƣời bán hoặc phục vụ thanh toán về hàng hóa, dịch vụ cho các khách hàng.
Với các chức năng này, Ngân hàng đóng vai trò là “thủ quỹ” cho các doanh
nghiệp, chỉ thực hiện việc thanh toán thông qua hệ thống tài khoản tiền gửi tại

gian tín dụng.
8 1.1.3. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Hoạt động tạo lập nguồn vốn (nghiệp vụ tài sản nợ)
Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, đƣợc
coi là nghiệp vụ cơ bản. Các nguồn vốn của NHTM gồm có:
(1) Vốn tự có:
- Vốn điều lệ là số vốn ban đầu phải lớn hơn mức tối thiểu do nhà nƣớc quy
định (vốn pháp định) để có thể đƣợc phép kinh doanh. Tùy theo loại hình
ngân hàng mà các chủ thể góp vốn khac nhau: với ngân hàng tƣ nhân thì đó là
vốn riêng của một doanh nghiệp đầu tƣ, với ngân hàng cổ phần thì vốn điều lệ
đƣợc hình thành do phát hành cổ phiếu, nếu ngân hàng quốc doanh thì toàn bộ
do NSNN cấp. Quy định về vốn điều lệ nhiều hay ít tùy thuộc vào quy mô và
phạm vi hoạt động của ngân hàng đó. Vốn này chủ yếu đƣợc dùng để mua
sắm động sản và bất động sản, phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng, hùn
vốn liên doanh, cho vay và mua cổ phần của các TCTD khác. Vốn điều lệ
không đƣợc phép dùng để chia lợi tức, lập quỹ phúc lợi và khen thƣởng.
- Quỹ ngân hàng bao gồm: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (đƣợc trích hàng
năm theo tỷ lệ 5% lợi nhuận sau thuế), quỹ đầu tƣ và phát triển, quỹ dự phòng
tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc…ngoài ra còn có các quỹ không
hình thành từ lợi nhuận ngân hàng nhƣ quỹ khấu hao cơ bản tài sản cố định,
quỹ khấu hao sửa chữa lớn, các quỹ khác theo quy định.
Chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhƣng
vốn tự có đóng vai trò quan trọng vì đó là cơ sở và điều kiện để tiến hành kinh
doanh,quyết định quy mô hoạt động của NHTM và là nhân tố xác định tỷ lệ
an toàn trong kinh doanh của NHTM.

(2) Vốn tiền gửi của khách hàng:

đây, các ngân hàng thiếu tiền thanh toán sẽ vay của các ngân hàng khác,
10

nghiệp vụ này vừa giúp cho các ngân hàng thiếu tiền có tiền mặt ngay để
thanh toán, vừa giúp cho những ngân hàng còn thừa tiền có thể cho vay để
sinh lời.
- Vốn vay của công ty mẹ

1.1.3.2 Hoạt động sử dụng nguồn vốn (Nghiệp vụ tài sản có)
Là nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng, chúng thuộc bên Có trên bảng tổng
kết tài sản nên còn đƣợc gọi là Nghiệp vụ tài sản Có. Bao gồm:
(1)Nghiệp vụ ngân quỹ:
Thu lợi nhuận là mục đích của NHTM, song cần giữ lại một khoản tiền trong
tổng số huy động đƣợc để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách
hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản. Từ đó tạo lập và giữ vững lòng tin của
khách hàng. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ.
- Tiền mặt tại quỹ: NHTM phải để tại quỹ của mình một số tiền phòng hộ
theo nhất định tùy quy mô của ngân hàng và theo từng thời vụ, để đáp ứng
nhu cầu thanh toán hoặc rút tiền mặt của khách hàng.
- Tiền gửi tại NHTW: theo quy định, NHTM phải mở tài khoản tại NHTW
và gửi vào đó một số tiền nhất định gọi là dự trữ bắt buộc. Mục đích của việc
hình thành khoản dự trữ bắt buộc này là đảm bảo tính thanh khoản cho các
NHTM, đồng thời là công cụ để NHTW thực hiện chính sách tiền tệ bằng
cách thay đổi số nhân tiền tệ. Tuy nhiên hiện nay, các nƣớc đã áp dụng chính
sách bảo hiểm tiền gửi, do vậy, mục đích chính của việc quy định dự trữ bắt
buộc là nhằm thực hiện chính sách tiền tệ.
- Tiền gửi tại các NHTM khác để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền
khác địa phƣơng của khách hàng, số này cao hay thấp tùy theo mức độ quan
hệ với đại lý và số lƣợng đại lý.


12

dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tƣ dƣới các hình
thức nhƣ:
- Đầu tƣ chứng khoán: NHTM dùng vốn của mình để mua cổ phần của các
doanh nghiệp và các TCTD khác.
- Góp vốn, liên doanh: là các biện pháp trực tiếp góp vốn với các doanh
nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới.
- Kinh doanh ngoại tệ và vàng: NHTM có thể đƣợc tiến hành kinh doanh
ngoại tệ và vàng trên thị trƣờng trong nƣớc và ngoài nƣớc nếu đƣợc sự cho
phép của NHNN

(4) Tài sản có khác:
Những khoản mục còn lại của tài sản có, trong đó chủ yếu là tài sản cố định -
cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động ngân hàng.
- Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng.
- Mua sắm trang thiết bị, máy móc dụng cụ làm việc.
- Mua sắm các phƣơng tiện vận chuyển.
- Xây dựng hệ thống kho quỹ.
Ngoài tài sản cố định, còn có các khoản thuộc tài sản có nhƣ các khoản phải
thu, dự phòng rủi ro …

1.1.3.3 Các hoạt động khác (Nghiệp vụ trung gian)
Nghiệp vụ trung gian là nghiệp vụ mà NHTM căn cứ theo yêu cầu của
khách hàng, thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán, thực hiện các ủy thác
khác để thu thủ tục phí. Việc phát triển những dịch vụ này vừa cho phép hỗ
trợ cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tƣ, vừa tạo
ra thu nhập cho ngân hàng các thông qua khoản tiền hoa hồng, lệ phí. NHTM
cung cấp các dịch vụ nhƣ:
13

tính thời hạn, và tính hoàn trả đầy đủ, sau nữa, nó gây nên sự mất lòng tin của
ngƣời cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng.
Tuy việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi, là vấn đề mà tất
cả các NHTM trên thế giới phải đối mặt, nhƣng, nếu tỷ nợ xấu quá cao, hoạt
động ngân hàng sẽ bị tê liệt vì các ngân hàng không có vốn để thanh toán cho
ngƣời gửi tiền khi đến hạn. Ở mức độ trầm trọng sẽ dẫn tới sự phá sản ngân
hàng. Do đó vấn đề quản lý rủi ro tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế và xử lý nợ
xấu là một công tác hết sức quan trọng tại các NHTM.

1.2.2. Các tiêu chí xác định nợ xấu ngân hàng
Việc xác định nợ xấu ngân hàng trƣớc hết phải thông qua việc phân loại nợ.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF và ngân hàng thế giới WB, thì khoản vay nợ
đƣợc chia làm 5 nhóm.
Khoản vay
Đặc thù và thời hạn
1. Đạt tiêu
chuẩn
- Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ
- Tài sản đƣợc đảm bảo bằng tiền hoặc tƣơng đƣơng
- Quá hạn dƣới 90 ngày
2. Cần theo
dõi
- Những điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hƣởng đến khả năng trả
nợ
- Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn
- Quá hạn dƣới 90 ngày
3. Dƣới
tiêu chuẩn
- Các nhƣợc điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hƣởng tới khả
năng trả nợ

luận chính xác là việc làm không thể thiếu để có thể giải quyết nợ xấu. Có
phân tích thấu đáo các nguyên nhân gây ra nợ xấu thì mới có thể đƣa ra đƣợc
các biện pháp xử lý thích hợp. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra đƣợc rất nhiều
nguyên nhân đa dạng và phong phú. Song nhìn chung, chúng có thể đƣợc sắp
xếp và gói gọn vào các nhóm nguyên nhân sau:
16

1.2.3.1. Nguyên nhân từ phía khách hàng
Bởi vì khách hàng là ngƣời đƣợc cấp tín dụng, là ngƣời trực tiếp sử dụng
khoản vay, nên nguyên nhân từ phía khách hàng là nguyên nhân chính gây
nên rủi ro tín dụng – rủi ro lớn nhất của NHTM. Lí do mà khách hàng gây nên
khoản nợ xấu cho ngân hàng đó là:
(1) Rủi ro đạo đức từ phía khách hàng
- Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích xin vay đã nêu trong phƣơng án vay
vốn và trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ngân hàng và khách hàng.
Nguồn tiền vay không đƣợc sử dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh mà
dành cho những mục tiêu chứa đựng nhiều rủi ro hơn, gây thất thoát tiền vốn,
dẫn đến giảm hoặc mất khả năng trả nợ vay. Nhiều khách hàng dùng tiền
ngân hàng quay vốn không đúng đối tƣợng kinh doanh hoặc xử lý vốn vay
ngắn hạn để đầu tƣ vào tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản nên đã
không trả nợ đƣợc đúng hạn.
- Khách hàng cố tình lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng. Một số khách
hàng lợi dụng khe hở của pháp luật để tính toán lừa đảo chiếm dụng vốn, vay
không có ý định trả ngay từ khi bắt đầu lập bộ hồ sơ vay vốn. Một số khách
hàng cố tình chây ì không thực hiện những cam kết trong hợp đồng tín dụng.

(2) Khó khăn về dòng tiền hoặc khả năng thanh toán
Do trình độ, năng lực quản lý kinh doanh của doanh nghiệp còn yếu kém làm
giảm hiệu quả kinh doanh, thậm chí còn gây thua lỗ, dẫn đến việc gặp khó
khăn về dòng tiền, làm giảm khả năng thanh toán nợ vay. Nhiều doanh nghiệp

Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải đƣợc quản lý một cách chủ
động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách
nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói
chung. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng có thói quen tập trung nhiều công sức cho
việc thẩm định trƣớc khi cho vay mà không quan tâm thích đáng đến khâu
18

kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Điều này một phần do yếu tố
tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của một số cán bộ ngân hàng, một
phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp
không cung cấp đƣợc kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu.

1.2.3.3. Nguyên nhân từ môi trường kinh tế chính trị
(1) Diễn biến kinh tế xã hội trong nƣớc:
Dù ít hay nhiều, các hoạt động sản xuất kinh doanh luôn phải chịu tác
động trực tiếp hay gián tiếp của môi trƣờng kinh tế xã hội, nhƣ sự thay đổi về
lãi suất, tỷ giá, các cuộc khủng hoàng kinh tế thế giới và khu vực.
Trong một nền kinh tế tăng trƣởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và
tiêu dùng của xã hội lớn thì hoạt động sản xuất kinh doanh có điều kiện tốt để
phát triển. Nhƣng trong một nền kinh tế bị khủng hoảng, đang đà xuống dốc,
tỷ lệ lạm phát cao, sản xuất bị đình trệ, đầu tƣ giảm sút, thu nhập của mọi
thành viên trong xã hội đều giảm thì khả năng phát triển sản xuất kinh doanh
là rất kém, ảnh hƣởng mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Tác
động xấu của tình hình kinh tế xã hội nhƣ vậy sẽ làm ảnh hƣởng tới khả năng
trả nợ của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, gây tác động xấu đến khả
năng thu hồi vốn tín dụng của Ngân hàng.
(2) Sự thay đổi chính sách của Nhà nƣớc:
Đó là sự thay đổi về chính trị, điều chỉnh chính sách, chế độ, luật pháp
của Nhà nƣớc. Những thay đổi và điều chỉnh đó là rất cần thiết trong quá trình
phát triển của đất nƣớc, nhƣng tuỳ nơi, tuỳ lúc sẽ tác động mạnh đến hoạt

(1) Giảm hiệu quả sử dụng vốn
Nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với việc một phần vốn kinh doanh của ngân
hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ này. Việc tồn đọng này làm cho ngân
hàng mất đi cơ hội làm ăn khác mà có thể đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
20

Nó làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng. Nói cách khác nợ xấu phát sinh
đã làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng từ đó làm giảm hiệu quả sử
dụng vốn.
(2) Giảm lợi nhuận
Thu nhập của ngân hàng chủ yếu phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân
hàng. Đồng thời nguồn vốn của ngân hàng cũng chủ yếu từ nguồn huy động
phải trả chi phí, thậm chí có nguồn vốn huy động phải trả chi phí cao. Do vậy,
khoản vay không thu hồi đƣợc dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị
đóng băng làm giảm thu nhập mà vẫn phải trả chi phí huy động vốn. Kết quả
là làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
(3) Giảm khả năng thanh toán
Các khoản nợ xấu phát sinh làm thay đổi kế hoạch cũng nhƣ nguồn thanh
toán các khoản tiền vay đến hạn của ngân hàng. Hơn nữa, tỷ lệ Nợ xấu/ Tổng
dƣ nợ cao sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng. Nếu
khách hàng nắm bắt đƣợc dấu hiệu này sẽ ồ ạt đến rút tiền, càng làm cho
NHTM rơi vào tình trạng giảm khả năng thanh toán trầm trọng.
(4) Giảm uy tín của ngân hàng
Một ngân hàng mà có tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng càng cao tức là chất lƣợng
tín dụng của ngân hàng càng thấp. Điều này có ảnh hƣởng đến khả năng thanh
toán của ngân hàng, từ đó làm cho khách hàng không còn tin tƣởng vào hiệu
quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nữa, dẫn đến việc làm giảm đáng kể
các quan hệ giao dịch của ngân hàng.
(5) Nguy cơ phá sản
Đây là ảnh hƣởng nghiêm trọng nhất của nợ xấu đối với hoạt động ngân hàng.

Có thể nói, ngân hàng là tổ chức cung ứng vốn rẻ nhất của các doanh nghiệp.
Nếu một doanh nghiệp có khoản nợ xấu ở một ngân hàng nào đó, doanh
nghiệp sẽ khó vay vốn đƣợc ở một ngân hàng khác. Vì nhu cầu vốn kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status