Biện pháp nâng cao quy động vốn của Ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 33

LỜI NÓI ĐẦU
Để thực hiện mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, cần
phải có số vốn rất lớn. Nguồn vốn đó có thể khai thác được bao gồm nguồn
trong nước và nguồn từ bên ngoài. Muốn đi lên bằng chính sức mình, phải coi
nguồn vốn tích luỹ từ bản thân nền kinh tế trong nước là chủ yếu. Tuy nhiên,
do điểm xuất phát từ nền kinh tế còn thấp, cần có sự hỗ trợ từ nguồn vốn bên
ngoài. Tạo dựng được vốn cho yêu cầu phát triển này, đòi hỏi toàn bộ hệ
thống Tài chính Quốc gia phải nỗ lực vượt bậc. Hệ thống ngân hàng với
những ngân hàng ngày một lớn mạnh, là lực lượng chủ yếu trong việc thu hút
nguồn vốn. Cách đây gần một thế kỷ, V.I.Lê Nin đã đưa ra một luận điểm vĩ
đại, đánh giá vai trò của ngân hàng như :
“...Không có những ngân hàng lớn thì sẽ không thể thực hiện được Chủ
nghĩa xã hội “. Và người đã ví hệ thống ngân hàng “...Đó là cái gì giống bộ
xương của xã hội Xã hội chủ nghĩa “.
Tạo vốn cho Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước chính là một
trong những giải pháp khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước, trước hết là
các nước trong khu vực. Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng là
ngành chủ yếu làm cho cung cầu tiền tệ gặp nhau.
Các ngân hàng thương mại (NHTM) muốn tồn tại phát triển và đóng
góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước, không có cách nào khác là phải bằng
mọi biện pháp để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Tuy trong hệ
thống ngân hàng đã có nhiều đổi mới về mọi phương diện song nó chỉ đóng
một vai trò khá “khiêm tốn” trong việc tập trung nguồn vốn tiết kiệm để phân
phối vào các hoạt động tăng trưởng kinh tế. Vậy làm thế nào để người dân gửi
tiền vào ngân hàng?. Cách tốt nhất để huy động vốn, đặc biệt là vốn trung và
dài hạn?. Đây là vấn đề mà tất cả các ngân hàng đều quan tâm. Vì vậy em đã
chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Biện pháp nâng cao hiệu quả huy
động vốn của NHTM
Việt Nam
”.Với đề tài này, chỉ nghiên cứu ở phạm vi:
+Phạm vi không gian: Nghiên cứu hệ thống ngân hàng thương mại Việt

động giao thương được diễn ra nhanh chóng và thuận lợi. Đã hình thành nên
các tổ chức thu đổi tiền. Hình thức này là khi các thương gia vào lãnh địa họ
sẽ đổi tiền của mình lấy tiền lưu hành trong lãnh địa, và chịu một phần chi phí
thu đổi. Việc đổi tiền này lấy tiền khác dựa vào tiềm lực kinh tế của những
lãnh địa có đồng tiền đó. Dần dần tổ chức thu đổi này lớn mạnh và kiêm luôn
việc giữ hộ tiền và thanh toán hộ. Trong khi giữ số tiền nhàn rỗi (do chưa đến
thời hạn thanh toán hộ) nhằm thu lợi, họ tiến hành cho vay lấy lãi. Việc cho
vay này có căn cứ trên đặc tính "vô danh" của đồng tiền. Tức là họ hoàn toàn
có thể lấy số tiền người gửi chưa đến thời hạn thanh toán và thanh toán cho
người rút tiền. Cùng với thời gian, hoạt động sản xuất kinh doanh giao thương
ngày càng phát triển, tổ chức này cũng ngày càng lớn mạnh và hình thành các
loại hình thương mại đầu tiên.
Tóm lại, Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính ra đời dựa
trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa và dựa trên sự khác
biệt về tiền tệ giữa các vùng, các khu vực.
3.Các chức năng của NHTM:
Ngân hàng thương mại ra đời do yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế. Cơ
sở nền sản xuất và lưu thông hàng hóa, và nền kinh tế ngày càng phát triển
càng cần đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại. Thông qua việc thực
hiện các chức năng, vai trò của mình nhất là chức năng trung gian tín dụng
Ngân hàng thương mại đã trở thành một bộ phận thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Sự đóng góp này thể hiện như sau:
* Thứ nhất: Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Nền kinh tế phát triển càng cao, thì nhu cầu về vốn càng lớn. Vốn đóng
vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng như duy trì chính hoạt động đó nhằm đảm bảo hiệu quả của
doanh nghiệp.
Chịu trách nhiệm với nhiệm vụ này. Ngân hàng thương mại đã đứng ra
huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mọi tổ chức, cá nhân mọi
thành phần kinh tế (vốn tạm thời nhàn rỗi được giải phóng từ quá trình sản

thế đó đã khiến các quốc gia tuy cách xa nhau về mặt địa lý vẫn xích lại gần
nhau hơn. Bởi sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát
triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận không thể thiếu, cấu thành
nên sự phát triển đó. Ngân hàng thương mại với các hoạt động nhận tiền gửi,
cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác đã
góp phần thúc đẩy ngoại thương mở rộng. Cũng thông qua các hoạt động
thanh toán, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với Ngân hàng nước ngoài,
hệ thống Ngân hàng đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước
phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế
4. Các loại hình Ngân hàng thương mại.
a. Chia theo tính chất hoạt động.
* Ngân hàng chuyên doanh và đa năng.
- Ngân hàng chuyên doanh: là Ngân hàng ngày chỉ tập trung cung cấp
một số dịch vụ Ngân hàng. Ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản,
hoặc đối với nông nghiệp, hoặc chỉ cho vay (không bảo lãnh hoặc cho thuê)...
Tính chuyên môn hóa cao cho phép Ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu
kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ. Tuy nhiên, loại Ngân hàng này thường
gặp rủi ro lớn khi ngàng hoặc lĩnh vực hoạt động mà Ngân hàng phục vụ sa
sút.
- Ngân hàng đa năng: là Ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ Ngân hàng
cho mọi đối tượng. Đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các
Ngân hàng thương mại. Ngân hàng đa năng thường là Ngân hàng lớn (hoặc sở
hữu Công ty). Tính đa dạng sẽ giúp Ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi
ro.
* Ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ.
- Ngân hàng bán buôn là Ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho
các Ngân hàng, các Công ty tài chính, cho Nhà nước, cho các doanh nghiệp
lớn. Ngân hàng bán buôn thường là Ngân hàng lớn hoạt động tại các trung
tâm tài chính quốc tế, cung cấp các khoản tín dụng lớn.
- Ngân hàng bán lẻ là Ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp

trợ bị giảm sút, đất nước đã chịu sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, chuyển
đổi sang một cơ chế kinh tế mới khi chiến tranh kết thúc... Ngân hàng Nhà
nước phải in tiền để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của các doanh nghiệp, các
đơn vị hành chính sự nghiệp. Lượng tiền cung ứng gia tăng trong điều kiện
sản lượng không tăng kịp đã đẩy lạm phát lên cao trong những năm 80. Lạm
phát gia tăng làm xói mòn tiết kiệm, khuyến khích tích trữ và đầu cơ dẫn đến
gia tăng mạnh nhu cầu vay vốn từ Ngân hàng. Lãi suất thực âm, tỷ giá bị bóp
méo, tiền lương không đủ trang trải các chi phí tối thiểu... nên Ngân hàng
càng phải in nhiều tiền. Ngân hàng đã không bảo đảm được vốn, không tính
toán được hiệu quả kinh tế, bị kéo vào vòng xoáy của siêu lạm phát.
b. Hệ thống Ngân hàng trong chuyển đổi cơ chế kinh tế.
Mô hình tổ chức đã được thay đổi căn bản tách chức năng quản lý hoạt
động tiền tệ, tín dụng đối với chức năng kinh doanh tiền tệ, đa dạng các loại
hình Ngân hàng, từng bước xóa bỏ độc quyền, chuyển sang cạnh tranh có sự
quản lý của Nhà nước.
Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng (pháp lệnh Ngân hàng Nhà
nước, pháp lệnh Ngân hàng HTX tín dụng và Công ty tài chính) ra đời là
bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của toàn hệ thống Ngân hàng là hệ
thống Ngân hàng hai cấp bao gồm Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng
thương mại, HTX tín dụng, Công ty tài chính... pháp lệnh đã khẳng định tính
đa hình thức sở hữu, đa loại hình, đa thành phần và kinh doanh đa năng của
hệ thống Ngân hàng thương mại. Pháp lệnh đã mở đường cho quá trình phát
triển các loại hình Ngân hàng tại Việt Nam, bao gồm Ngân hàng quốc doanh
Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và
nước ngoài, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Hiện nay, Quốc hội đã thông qua Luật về Ngân hàng Nhà nước và Luật
về các tổ chức tín dụng. Luật các tổ chức tín dụng đã tạo môi trường pháp lý
mới cho sự phát triển của các Ngân hàng.
6.Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại.
6.1. Nghiệp vụ huy động vốn.

* Một là, Ngân hàng tiến hành cho vay.
Cho vay là một hoạt động quan trọng bậc nhất của Ngân hàng thương
mại. theo thống kê, khoảng 60 - 70% thu nhập của Ngân hàng là từ các hoạt
động cho vay. Thành công hay thất bại của một Ngân hàng tuy thuộc chủ yếu
vào thực hiện, kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ
chính sách cho vay của Ngân hàng. Các loại cho vay có thể phân loại bằng
nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và
phương pháp hoàn trả...
* Hai là tiến hành đầu tư.
Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện hàng loạt những nhu
cầu khác nhau. Với tư cách là chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi
hỏi Ngân hàng phỉa luôn nắm baét được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ đẻ
cung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ
biến là cho vay, Ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có hai hình thức chủ
yếu mà các Ngân hàng thương mại có thể tiến hành là:
- Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp
vốn vào các doanh nghiệp, các Công ty khác.
- Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng.
* Ba là nghiệp vụ ngân quỹ.
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến
hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu lớn lao ấy là hàng
loạt các nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố ấy là tính an toàn.
Nghề Ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của
mình Ngân hàng không thể bỏ qua sự "an toàn". Vì vậy, ngoài việc cho vay
và đầu tư để thu được lợi nhuận, Ngân hàng còn phải sử dụng một phần
nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán về thực
hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Trung Ương đề ra.
6.3. Nghiệp vụ khác.
Là trung gian tài chính Ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong

Nếu coi cơ chế thị trường là cơ thể sống thì ngân hàng là huyết mạch
của cơ thể sống đó.
Lật lại lịch sử phát triển, chúng ta có thể thấy, sự ra đời và phát triển
của hệ thống Ngân hàng gắn với tư bản hoá tiền tệ, mà tiền thân của nó là tư
bản cho vay nặng lải đã từng tồn tại trong thời kì phân rả của chế độ nguyên
thuỷ. Sự phát triển mạnh của quan hệ hàng hóa-tiền tệ đã đòi hỏi khách quan
sự ra đời của các tổ chức và họat động Ngân hàng . Lúc này tư bản tiền tệ
nhàn rổi đã bắt đầu xuất hiện phục vụ tư bản công nghiệp với lải suất thấp.
Như vậy, tư bản công nghiệp đã trả một phần lợi thu được cho người
cho vay do việc sử dụng vốn vay vào sản xuất dưới hình thức lợi tức. Cơ chế
phân chia lợi tức và lợi nhuận lúc đàu kinh doanh là ngẩu nhiên, nhưng khi tư
bản hoạt động và tư bản sở hửu được phân định rỏ ràng thì cơ chế phân chia
được đIều chỉnh, một nhóm tư bản nhận lợi tức và bên kia nhận lợi nhuận. Sự
phát triển trong quan hệ hàng-tiền trong công nghiệp tạo điều kiện cho phát
triển Ngân hàng, tư bản trong thương nghiệp. Tư bản trong thương nghiệp là
tiền thân của tư bản có khả năng đem lại lải xuất. Tuy buôn bán tiền tệ là chức
năng chủ yếu, các chức năng khác của ngân hàng được bổ sung dầnvới sự
phát triển của quan hệ hàng-tiền và của nền kinh tế hàng hoá.
Theo Mác, các bộ phận cấu thành tư bản Ngân hàng bao gồm: vàng,
giấy bạc và các chứng khoán. Đến lược mình ngân hàng lại phân thành vốn tự
có và vốn đi vay. Chính vì lí do đó mà có thể kết luận rằng tiền gửi là yếu tố
cấu thành nghiệp vụ tín dụng-ngân hàng. Các thành phần của nền tảng trên
bao gồm:
- Vốn nhàn rổi
- Các loại quỉ được huy động
- Thanh toán trung gian cho khách hàng trên tài khoản
- Vốn tự có của ngân hàng
Hoạt động huy động vốn từ tiền của công chúng là đặc trưng cơ bản
nhất của hoạt động Ngân hàng, là tiêu thức để đánh giá và phân biệt Ngân
hàngvới các tổ chức tài chính khác. Do đặc trưng này mà chức năng cơ bản

giữa người vay tiền, người gửi tiền và Ngân hàng. Đồng thời, Ngân hàng còn
có ý nghĩa quyết định việc kích thích tăng trưởng nguồn vốn huy động vào
Ngân hàng thông qua giải quyết tốt mối quan hệ và quyền lợi của cả ba bên
III. MỘT SỐ HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN
1.Tiền gửi có thể phát séc
Đây là những tài khoản ở một ngân hàng, người sở hữu chúng có quyền
được phát séc cho những người thuộc bên thứ 3. Các khoản tiền gửi có thể
phát séc gồm tất cả các tài khoản sau : tài khoản séc không có lãi (tiền gửi
không kỳ hạn), các tài khoản NOW có lãi (NOW-negotiable order of
withdrawal-lệnh thu hồi có thể mua bán ), các tài khoản super-NOW, và các
tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ (MMDA). Tiền gửi có thể phát séc là
nguồn vốn quan trọng của ngân hàng.
Tiền gửi có thể phát séc là tiền gửi có thể được thanh toán theo yêu
cầu; tức là , nếu người gửi tới ngân hàng gửi vừa đòi thanh toán bằng cách
viết ra một giấy rút tiền, ngân hàng đó sẽ thanh toán cho khách hàng đó ngay
lập tức. Tương tự, nếu một người nhận được một tấm séc phát theo một tài
khoản ở một ngân hàng, khi ngân hàng đó nhận được tấm séc này, ngân hàng
đó phải chuyển ngay lập tức số tiền ấy vào tài khoản của người đó.
Tiền gửi có thể phát séc là một tài sản có đối với người gửi nó, bởi vì
nó là một phần của cải của người gửi nó. Ngược lại, bởi vì người gửi tiền này
là có thể rút vốn khỏi tài khoản của ông ta, vốn đó ngân hàng có nghiã vụ
thanh toán, do đó các tiền gửi có thể phát séc là một tài sản nợ của ngân
Người gửi
tiền
Người vay
tiền
Ngân h ngà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status