-1-
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM.
Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan đến hoạt động dịch vụ của Ngân hàng
thương mại các nước tiên tiến trên thế giới cho thấy các khuynh hướng ảnh hưởng
đến hoạt động dịch vụ ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.1 Các khuynh hướng ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng thương mại Việt
Nam:
* Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ. Như chúng ta đã thấy ở phần
trước, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang mở rộng danh mục dịch vụ tài chính
mà họ cung cấp cho khách hàng. Quá trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc
trong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính
khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ.
Nó cũng làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các dịch
vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những
nguồn thu mới cho ngân hàng – các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ
phận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi
cho vay.
* Sự gia tăng cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày
càng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục
dịch vụ. Các ngân hàng thương mại địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết
kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu
dùng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp và
người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp
từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, các công ty kinh doanh chứng khốn như
Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm như
Prudential. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch
vụ cho tương lai.
* Phi quản lý hóa. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng cũng được
thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định – giảm bớt sức mạnh kiểm sốt của Chính phủ.
Điều này bắt đầu từ hai thập kỷ trước, xu hướng nới lỏng các quy định đã được bắt
thu nhập thay đổi thoe điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang
-3-
phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các
khoản tiền gửi “ trung thành ” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên
phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơi với ý thích thay
đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.
* Cách mạng trong công nghệ ngân hàng. Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn,
từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt
động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là
trong công việc nhận tiền gửi, thanh tốn bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi bật
nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, ở Mỹ có hơn 100.000 chiếc, cho phép
khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24 / 24 giờ; Máy thanh tốn tiền POS
được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện
thanh tốn hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng
ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên tồn thế giới.
Do đó, ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định;
sử dụng ít lao động và chi phí biến đổi. Nhiều chuyên gia tin rằng các tòa nhà ngân
hàng và các cuộc mít tinh gặp mặt trực tiếp giữa các nhà ngân hàng và khách hàng
cuối cùng sẽ trở thành những di tích của quá khứ và bị thay thế bởi các cuộc liên
quan và giao tiếp điện tử. Sản xuất và cung cấp dịch vụ sẽ hồn tồn tự động. Những
bước đi đó sẽ giảm đáng kể chi phí nhân công hóa ngân hàng và gây ra tình trạng mất
việc làm khi máy móc thay thế người lao động. Tuy nhiên, những kinh nghiệm gần
đây gợi ý rằng một ngành ngân hàng hồn tồn tự động có thể vẫn còn là điều xa vời.
Một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ của con người và những cơ hội
để nhận được sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính.
* Sự củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý. Sử dụng có hiệu quả quá trình tự
động hóa và những đổi mới công nghệ đòi hỏi các hoạt động ngân hàng phải có qui
mô lớn. Vì vậy, ngân hàng cần phải mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới
các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài khoản. Kết quả là hoạt động mở
chi nhánh ngân hàng diễn ra. Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân
càng tăng trên thị trường tồn cầu về dịch vụ ngân hàng. Ngày nay, Canada, Mỹ và
Mexico đã thực hiện Hiệp ước mậu dịch tư do Bắc Mỹ ( NAFTA ) điều mà cho phép
ngân hàng ở những nước này sở hữu và quản lý các chi nhánh ngân hàng ở nước kia
-5-
và sức mạnh dịch vụ của các chi nhánh loại này hồn tồn so sánh được với những chi
nhánh sở hữu bởi các ngân hàng trong nước.
* Rủi ro vỡ nợ gia tăng và sự yếu kém của hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Trong khi
xu hướng hợp nhất và bành trướng về mặt địa lý đã giúp nhiều ngân hàng ít tổn
thương trong điều kiện kinh tế trong nước thì sự đẩy mạnh cạnh tranh giữa các ngân
hàng và các tổ chức phi ngân hàng kèm theo các khoản tín dụng có vấn đề một nền
kinh tế luôn biến động đã dẫn tới sự phá sản ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Xu hướng phi quản lý hóa trong lĩnh vực tài chính đã mở ra cơ hội cho các nhà ngân
hàng, nhưng cũng chỉ tạo ra một thị trường tài chính xảo trá hơn, nơi mà sự phá sản,
thôn tính và thanh lý ngân hàng dễ xảy ra hơn.
* Đối với các dịch vụ tín dụng, dịch vụ thanh tốn, các hoạt động quản lý và
hoạt động hỗ trợ khác:
- Tham gia thị trường mua bán nợ thông qua hình thức chứng khốn nợ;
- Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động ứng dụng công nghệ điện tử - tin học trong quản lý
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, quản trị ngân hàng; lưới kênh phân phối
cả về lượng và về chất nhằm mở rộng địa bàn hoạt động, phát triển thêm các kênh
phân phối mới ( qua ATM, Internet, điện thoại,…) giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận
với các dịch vụ ngân hàng.
- Phát triển các dịch vụ tài chính phái sinh như: giao dịch mua bán giao ngay,
tương lai, quyền chọn tiền tệ ( currency option ), quyền chọn vàng (gold option ), hốn
đổi lãi suất,…
- Phát triển dịch vụ bảo hiểm, hoạt động đầu tư… để từng bước thành lập tập đồn
ngân hàng đa năng;
- Thực hiện tốt các giao dịch thanh tốn điện tử, chuyển tiền điện tử, giao dịch tại
nhà; các giao dịch thanh tốn thẻ;
- Phát triển dịch vụ thanh tốn và quyết tốn các tài sản tài chính. Bao gồm các
giảm thiểu chi phí và đổi mới công nghệ nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh. Cạnh
tranh giữa các ngân hàng thương mại ngày càng gay gắt, nhất là tại các đô thị loại đặc
biệt, lọai 1 và loại 2, nơi tập trung khách hàng có tiềm năng tài chính lớn và mật độ
ngân hàng tăng mạnh. Trong số các ngân hàng nước ngồi đang hoạt động tại Việt
Nam, HSBC và Citibank là hai ngân hàng nổi tiếng tồn cầu về kinh doanh ngân hàng
-7-
bán lẻ, trong đó HSBC đã có chiến lược cụ thể để phát triển kinh doanh ngân hàng
bán lẻ.
Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ gắn liền với tăng cường năng lực cung cấp
dịch vụ ngân hàng trên cơ sở đổi mới tồn diện và đồng bộ hệ thống ngân hàng, đồng
thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và mở cửa thị trường tài chính trong nước.
Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ phải được thực hiện từng bước vững chắc nhưng
cũng cần có bước đột phá để tạo đà phát triển nhanh trên cơ sở giữ vững được thị
phần đã có, phát triển và mở rộng thị trường mới để phát triển thị trường trong tương
lai. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ phải được phát triển theo hướng kết hợp hài hòa giữa
lợi ích của khách hàng với lợi ích của ngân hàng và mang lại lợi ích cho nền kinh tế.
Đầu tư để phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ yêu cầu vốn lớn trong khi môi trường
kinh tế xã hội chưa phát triển, nhu cầu sử dụng dịch vụ chưa cao, đòi hỏi các ngân
hàng phải hướng tới lợi ích lâu dài, kết hợp hài hòa giữa lợi ích của ngân hàng và của
tồn bộ nền kinh tế. Trong giai đoạn đầu tiên, cần phải chấp nhận chi phí đầu tư để
mang đến cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ tiên tiến với mức phí đảm bảo bù
đắp được một phần vốn đầu tư nhưng đủ để thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị
trường. Hồn thiện và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ phải được tiến hành đồng
bộ với các dịch vụ ngân hàng khác, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng truyền
thống và chủ động mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng mới dựa trên nền tảng
công nghệ hiện đại, phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực của tổ chức tín dụng
nhằm tạo nhiều tiện ích cho người sử dụng dịch vụ. Cần phối hợp các bộ phận chức
năng khác như bộ phận phục vụ doanh nghiệp để phát huy hiệu quả của dịch vụ ngân
hàng, thu hút thêm khách hàng, tăng lợi nhuận cho ngân hàng và tạo mối liên kết chặt
chẽ giữa khách hàng và ngân hàng.
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 5 năm tới chỉ vào khoảng 100 triệu USD /
ngân hàng, đây là khoảng cách rất xa so với mức trung bình 1 - 2 tỷ USD / ngân hàng
ở các nước trong khu vực. Thứ hai, các ngân hàng nước ngồi có thế mạnh về cung
cấp dịch vụ, trong khi đó các ngân hàng nội địa chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực tín
dụng. Theo HSBC, doanh thu từ thanh tốn quốc tế chiếm 1/3 tổng doanh thu của
ngân hàng này, khách hàng là các công ty Việt Nam cách đây 3 năm chỉ chiếm 3%,
nay đã chiếm 50% trên tổng số khách hàng của HSBC, dự đốn 3 năm nữa tăng lên
-9-
70%. Thứ ba, là vấn đề công nghệ. Các ngân hàng nước ngồi vượt khá xa về trình độ
công nghệ ngân hàng với các hệ thống máy móc thiết bị cũng như các ứng dụng công
nghệ thông tin trong nghiệp vụ ngân hàng. Và thứ tư là trình độ quản lý. Yếu tố này
liên quan đến vấn đề nhân sự. Việt Nam còn thiếu rất nhiều các chuyên gia cao cấp
trong lĩnh vực ngân hàng. Điều này không những đáng lo ngại cho các ngân hàng nội
địa trong vấn đề quản lý ngân hàng mà còn là nguy cơ cạnh tranh nhân lực giữa các
ngân hàng sẽ đẩy chi phí tiền lương, tiền công lao động lên cao. Các ngân hàng trong
nước sẽ gặp khó khăn và phải đối mặt với sự chảy máu chất xám. Bên cạnh những
điểm hạn chế hay còn gọi là những nguy cơ tiềm ẩn nêu trên, các ngân hàng trong
nước còn gặp phải vấn đề đáng lo ngại nữa là thị phần co hẹp.
Các động thái chuẩn bị cho một cuộc đua mới: Bức tranh về áp lực cạnh tranh
trong ngành ngân hàng trước sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã hiện rõ :
Thứ nhất, các ngân hàng nội địa đã tăng vốn điều lệ. Giải pháp này nhằm nâng cao
khả năng cạnh tranh, giảm rủi ro, nâng cao tiềm lực tài chính. Theo dự báo của các
chuyên gia, trong năm 2007, các ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ 1.000
tỉ đồng sẽ chiếm trên 80% tổng số ngân hàng đang hoạt động. Bên cạnh giải pháp
tăng vốn điều lệ, một số ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn trong năm 2006 đã
được Ngân hàng Nhà nước cho phép chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng
thương mại cổ phần nông thôn sang ngân hàng thương mại cổ phần đô thị. Tuy nhiên,
giải pháp tăng vốn điều lệ không tránh khỏi tình trạng các ngân hàng tận dụng cơ hội
để phát hành cổ phiếu ồ ạt. Việc này có thể không tốt nếu tỉ lệ an tồn vốn quá cao
( được tính bằng tỉ lệ vốn điều lệ trên tổng tài sản ).
hướng đến mục tiêu trở thành những tập đồn tài chính đa năng. Độ sâu tài chính của
các ngân hàng thương mại đã tăng rất đáng kể, thể hiện ở các chỉ số tổng tiền gửi /
GDP và tổng dư nợ / GDP ngày càng tăng. Nếu năm 2006 tổng tiền gửi / GDP là
78,4% so với mức 66,7% năm 2005 ( tăng khoảng 12% ), tín dụng / GDP tăng
khoảng 5% thì năm 2007 tốc độ tăng này đã mạnh hơn nhiều, chỉ số tăng lần lượt là
khoảng 92,4% và 84,6%. Xét về năng lực tài chính thể hiện ở quy mô vốn điều lệ,
cũng có tốc độ tăng nhanh hơn năm 2006 ( năm 2006 vốn điều lệ của hệ thống ngân
hàng tăng 44% so với năm 2005, thì năm 2007 tăng 54% so với năm 2006, nhất là
khối ngân hàng thương mại nhà nước tăng 59%, vượt xa con số 2% của năm 2006 so