NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - Pdf 63

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ VÀ XU HƯỚNG
PHÁT TRIỂN CÁC HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI

1.Sơ lược về sự ra đời phát triển của Ngân hàng

gân hàng được hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với
nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Tiền thân cuả ngân hàng là
nghề kinh doanh tiền tệ ra đời gắn liền với các quan hệ thương mại. Khi
xã hội phát triển cùng với sự giao lưu hàng hoá giữa các vùng các quốc gia với các
loại tiền khác nhau đã gây khó khăn trở ngại cho việc thanh toán, mua bán, chuyển
đổi và bảo quản tiền tệ. Vì thế đã thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức chuyên kinh
doanh tiền tệ. Nghiệp vụ đầu tiên của các tổ chức này là thực hiện việc đổi tiền
đúc, kinh doanh chế tác vàng bạc.
N

Sự phát triển của lưu thông hàng hoá cùng với nghiệp vụ đổi tiền đã kéo theo
các nghiệp vụ khác.Trước hết là nhận tiền gửi, bảo quản vàng bạc rồi tiến tới phát
hành những chứng phiếu làm phương tiện thanh toán thay cho tiền vàng. Đặc biệt
sự ra đời loại tín phiếu chứng nhận về tiền gửi và được dùng trong thanh toán chi
trả gần giống như giấy bạc ngân hàng hiện nay. Các tổ chức kinh doanh tiền tệ đã
phát triển thực hiện nhiều nghiệp vụ mới và dần dần được coi như những Ngân
hàng đầu tiên trên thế giới.

Các Ngân hàng mới này hoạt động độc lập và không ràng buộc lẫn nhau.
Sang thế kỷ XVIII lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng và phát triển.Việc các
Ngân hàng cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc Ngân hàng làm cho trong
lưu thông có nhiều loại giấy bạc Ngân hàng khác nhau gây cản trở cho quá trình
lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế. Chính điều này dẫn đến sự phân hoá trong

với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách thể hiện nhưng khi phân tích
và khai thác nội dung ta dễ dàng nhận thấy các Ngân hàng thương mại đều có
chung tính chất đó là nhận tiền gửi ký thác (tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ
hạn ) để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh
khác của chính ngân hàng

Trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước Ngân hàng thương mại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng
trong thể chế tài chính của mỗi quốc gia.

2.2: Chức năng và vai trò của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế.
*Chức năng là trung gian tín dụng
X
uất phát từ điểm tuần hoàn của vốn tiền tệ trong quá trình tuần hoàn vốn xã hội đã
phát sinh hiện tượng cùng một lúc có những doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân
có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến. Ngược lại có những doanh
nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế và các chủ thể khác lại có nhu cầu về vốn để bổ
xung vào sản xuất kinh doanh. Mâu thuẫn này cần được giải quyết để tăng hiệu quả
sử dụng vốn trong nền kinh tế và được thoả mãn bằng quan hệ tín dụng trực tiếp
Cá nhânDoanh nghiệpCác tổ chức kinh tếNgânHàngThươngMại
Cá nhân doanh nghiệpCác tổ chức kinh tế
hoặc gián tiếp. Nhưng quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các chủ thể gặp nhiều hạn
chế vì các chủ thể khó biết được nhu cầu và khả năng về vốn của nhau. Hơn nữa
giữa họ khó có đủ sự tin tưởng để thực hiện quan hệ chuyển nhượng vốn cho nhau.
Để khắc phục hạn chế này Ngân hàng thương mại đứng ra làm “ chiếc cầu
nối “ giữa người có vốn và người cần vốn
theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để
thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hay nhập vào tài khoản tiền gửi đó tiền
thu bán hàng và các khoản thu khác. Ở đây Ngân hàng đóng vai trò là "người thủ
quỹ" cho khách hàng. Nền kinh tế càng phát triển thì việc thanh toán qua ngân
hàng ngày càng mở rộng.
T

Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở nó thực hiện
chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi ngân hàng mở
cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu chi theo lệnh của chủ
tài khoản. Đó chính là cơ sở cho khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng
đặt ngân hàng vào vị trí trung gian thanh toán. Hơn nữa hàng ngày nền kinh tế xuất
hiện hàng loạt các quan hệ giao dịch với khối lượng các khoản thanh toán lớn. Nếu
việc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt trực tiếp sẽ dẫn đến các khoản chi phí
như in ấn vận chuyển bảo quản tiền mặt tăng lên. Đặc biệt khách hàng giao dịch ở
cách xa nhau có khi gặp rủi ro mất tiền trong quá trình thực hiện thanh toán….Điều
đó đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua Ngân hàng.
Ngân hàng Thương mại thực hiện chức năng này có ý nghĩa rất lớn đối với
nền kinh tế. Nó cung cấp cho khách hàng nhiều công cụ thanh toán như : uỷ nhiệm
thu, uỷ nhiệm chi, séc, thẻ thanh toán.v.v. giúp cho các chủ thể kinh tế không phải
giữ tiền hoặc mang theo tiền trong giao dịch thanh toán. Từ đó giảm lượng tiền mặt
trong lưu thông, góp phần đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn tiết
kiệm chi phí in ấn vận chuyển bảo quản tiền mặt
Với bản thân Ngân hàng chức năng này góp phần tăng lợi nhuận thông qua
việc thu lệ phí thanh toán. Ngoài ra còn làm tăng nguồn vốn cho vay của Ngân
hàng. Nhìn vào hệ thống thanh toán của Ngân hàng thương mại người ta có thể
đánh giá ngay được hoạt động của ngân hàng đó có hiệu quả không. Nó còn là cơ
sở thực hiện chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại.
* Chức năng tạo tiền


Vậy hệ số mở rộng tiền gửi của ngân hàng thương mại trong thực tế được
tính theo công thức :
1
H =
Tỷ lệ dự trữ Tỷ lệ rút tiền mặt Tỷ lệ dự
bắt buộc + so với tiền gửi thanh toán + trữ dư thừa
Như vậy khả năng mở rộng tiền gửi của các Ngân hàng thương mại phải
được thực hiện trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa nghiệp vụ cho vay và nghiệp vụ
thanh toán không dùng tiền mặt. Do đó đòi hỏi ngân hàng ngày càng hiện đại hoá
hệ thống thanh toán để tạo thành thói quen thanh toán qua ngân hàng. Đồng thời
tận dụng quỹ cho vay để giảm đến mức thấp nhất các khoản dự trữ dư thừa.

Mặt khác khả năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại có thể mang rủi ro
đến cho ngân hàng khi khách hàng có nhu cầu rút vốn ồ ạt mà ngân hàng lại thiếu
phương tiện thanh toán tiền mặt. Để giảm rủi ro ngân hàng thương mại phải gửi
tiền vào tài khoản của mình mở tại Ngân hàng Trung ương và tham gia thanh toán
ra ngoài hệ thống của mình.
Chức năng tạo tiền có ý nghĩa kinh tế to lớn. Thông qua hoạt động này
làm cho nguồn vốn Ngân hàng Thương mại tăng lên tạo điều kiện thanh toán
không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.

Hoạt động ngân hàng cùng với các chức năng của nó thể hiện sự phát
triển về mặt tài chính nói riêng và sự phát triển nền kinh tế nói chung của mỗi quốc
gia. Qua các chức năng vị trí vai trò của ngân hàngthương mại được thể hiện:
Thứ nhất Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế :

Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân doanh
nghiệp và nhà nuớc trong nền kinh tế. Muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc
dân, giảm nhịp độ tiêu dùng. Mà tăng thu nhập quốc dân tức là mở rộng qui mô cả
chiều sâu lẫn chiều rộng của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Để đẩy mạnh sự phát

doanh. Những đòi hỏi đó cần phải có một lựơng vốn đầu tư lớn nhiều khi vượt quá
khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp
tìm đến Ngân hàng để xin vay vốn. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng là
“chiếc cầu nối" giữa doanh nghiệp và thị trường. Vốn của Ngân hàng gián tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status