TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VÀ KẾT QUẢ HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ
TRƯNG
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG ( NHCT_HBT)
1. Qúa phát triển và mô hình tổ chức của NHCT-HBT
HCT_HBT là Ngân hàng cấp quận trực thuộc NHCT Việt nam
thành năm 1988 có trụ sở tại 306 Bà Triệu _ quận Hai Bà Trưng
_Hà nội. Quận Hai Bà Trưng là một quận có địa bàn rộng lớn với
diện tích tự nhiên khoảng 1300 ha và 35 vạn dân. Đây là nơi tập
trung nhiều doanh nghiệp nhà nước, các công ty lớn, tổ chức sản xuất,các hợp tác
xã thủ công nghiệp, các hộ công thương như : tổng công ty giấy Việt nam, tổng
công ty lâm sản Việt nam, tổng công ty dệt Việt nam, may thăng long, sợi Hà
nội,công ty giầy thăng long, nhà máy đóng tàu Hà nội … Ngoài ra còn các tổ chức
kinh tế tư nhân, cá thể. Hầu hết các công ty trên đều đặt quan hệ với chi nhánh, qua
đó ta thấy thành phần khách hàng của Ngân hàng rất đa dạng,nguồn vốn trong dân
cư dồi dào. Những yếu tố đó tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng khối lượng và
qui mô kinh doanh trên các lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán các dịch vụ ngân
hàng.
N
Từ khi thành lập đến nay NHCT _ HBT luôn là một trong những Ngân hàng
lớn mạnh, kinh doanh có lãi đó là do Ngân hàng luôn bám sát và thực hiện những
định hướng của ngành. Đặc biệt từ khi ngành Ngân hàng nước ta chuyển từ Ngân
hàng một cấp sang hai cấp đòi hỏi các Ngân hàng thương mại phải tự phấn đấu tồn
tại và phát triển. Để đứng vững trong cơ chế thị trường NHCT _HBT đã luôn tự
đổi mới mình gắn liền với sự đổi mới của NHCT Việt nam và của nền kinh tế.
Thể hiện ở chỗ NHCT thường xuyên củng cố và xây dựng hệ thống tổ chức
phù hợp với mục tiêu kinh doanh trong từng giai đoạn khác nhau. Hiện nay với
tổng số cán bộ công nhân viên 335 người được bố trí sắp xếp thành những phòng
ban sau :
9 phòng nghiệp vụ :
doanh của Ngân hàng.
Mặt khác với địa bàn rộng và tiềm năng như quận Hai Bà Trưng thì
NHCT_HBT không tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt của các Ngân hàng khác như
Ngân hàng Sài gòn công thương,ADB,Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát
triển.v.v.
Ngoài ra Ngân hàng còn chịu sức ép từ nhiều phía như chế độ chính sách,
yêu cầu thị trường. Nhưng do nắm bắt được tính phức tạp của địa bàn hoạt động
NHCT_HBT đã có những chính sách điều hành linh hoạt, đáp ứng yêu cầu của
khách hàng. Một mặt duy trì tốt các quan hệ sẵn có một mặt tích cực tìm kiếm
khách hàng mới nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, khai thác lợi thế một cách có
hiệu quả. Tiếp tục thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ, các dịch vụ Ngân hàng đi
đôi với nâng cao chất lượng và phong cách phục vụ của cán bộ công nhân viên
trong Ngân hàng. Mọi hoạt động của NHCT_HBT đều tuân thủ đúng pháp luật nhà
nước các thông lệ điều ước quốc tế về lĩnh vực Ngân hàng.Từ đó tạo tiền đề cho
những bước tiến xa hơn trong những năm tới.
2. Kết quả kinh doanh của NHCT_HBT
rong những năm gần đây hoạt động của chi nhánh gặp nhiều khó khăn
như biến động kinh tế, sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng, số
lượng nhân viên tương đối lớn trình độ bất cập với với thông tin thị
trường, cơ sở vật chất còn hạn hẹp, công nghệ hoá tin học Ngân hàng còn thấp.
Mặc dù vậy chi nhánh NHCT_HBT đã phát huy sức mạnh nội lực, thực hiện
nghiêm túc sự chỉ định sát sao của NHCT VN và Ngân hàng nhà nước thành phố
Hà Nội.Tranh thủ sự giúp đỡ của Quận uỷ,UBND quận Hai Bà Trưng đã thực hiện
T
tốt các mục tiêu nhiệm vụ, kế hoạch đề ra, từ đó khẳng định vị thế vai trò của mình
trong hoạt động kinh doanh.
Chính vì vậy đến nay chi nhánh NHCT_HBT đã thu hút được số khách hàng
đến giao dịch với chi nhánh tương đối lớn. Đến cuối năm 2001 số khách hàng có
quan hệ giao dịch tiền gửi là 2470 tài khoản bằng VNĐ và ngoại tệ, 1201 tài khoản
Qua số liệu trên cho thấy NHCT_HBT rất quan tâm đến công tác huy động
vốn. Do đó làm cho nguồn vốn luôn tăng trưởng. Năm 1999 tổng vốn Ngân hàng
huy động tại chỗ là 932 tỷ đồng.Năm 2000 chi nhánh huy động được 1211 tỷ đồng
tăng 297 tỷ đồng so với năm 1999 bằng130%. Đến năm 2001 tổng số vốn huy
động đã nên tới 1363 tỷ đồng tăng so với năm 2000 là 152 tỷ đồng bằng 113%.
Nhưng để hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng phải kiểm soát được
chi phí của các nguồn vốn huy động để có chính sách cho vay và đầu tư hợp lý từ
đó mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng Điều đó thể hiện qua cơ cấu nguồn vốn
huy động của chi nhánh.
Xét cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh ta thấy vốn tiền gửi là chủ yếu (tiền
gửi của các tổ chức tín dụng,tiền gửi tiết kiệm ) chiếm đến 95% tổng nguồn vốn
huy động. Trong đó vốn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng rất lớn
Năm 1999 chiếm 53%/ tổng nguồn vốn.
Năm 2000 chiếm 57%/ tổng nguồn vốn.
Năm 2001 chiếm 67%/ tổng nguồn vốn.
Đây là nguồn vốn quan trọng và tương đối ổn định mặc dù lãi suất phải trả
cho nguồn này tương đối cao. Nhưng nguồn vốn này vẫn gia tăng hàng năm với con
số tuyệt đối. Năm 2000 nguồn tiền gửi tiết kiệm là 712 tỷ đồng tăng 200 tỷ đồng so
với năm 1999. Đến năm 2001 vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm là 966 tỷ đồng tăng
254 tỷ đồng so với năm 2000 (bằng 136%). Điều đó chứng tỏ chi nhánh đã thực
hiện tốt chiến lược khách hàng và đã thu hút được một lượng tiền nhàn rỗi rất lớn
trong dân cư vào Ngân hàng.
Bên cạnh đó chi nhánh còn đặc biệt quan tâm đến những khách hàng truyền
thống có uy tín và doanh số bán hàng bằng tiền mặt cao. Các cán bộ Ngân hàng
luôn bám sát hoạt động kinh doanh của các đơn vị tổ chức có quan hệ với Ngân
hàng. Vì vậy chi nhánh luôn giữ được mối quan hệ tốt với khách hàng. Cho nên
Ngân hàng luôn có số dư tiền gửi của các tổ chức kinh tế lớn và ổn định. Số dư tiền
gửi của các tổ chức kinh tế năm 2000 là 416 tỷ chiếm 33% tổng nguồn vốn huy
động tăng 74 tỷ so với năm 1999.Tuy năm 2001 số dư tiền gửi của các tổ chức
kinh tế có giảm nhưng vẫn chiếm 27,5% tổng nguồn vốn huy động được của Ngân
tắc “đi vay để cho vay “. Vì vậy để hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả cao chi
nhánh không những chú trọng đến công tác huy động vốn mà phải đặc biệt quan
tâm đến việc sử dụng vốn của Ngân hàng. Bởi hoạt động sử dụng vốn đem lại thu
nhập chính cho Ngân hàng.
Trong công tác sử dụng vốn NHCT - HBT đã đặt ra phương châm “ ổn định
- an toàn - hiệu quả -phát triển". Trong những năm qua Ngân hàng đã chú trọng
đến việc nâng cao chất lượng công tác tín dụng. Kết quả hoạt cho vay của chi
nhánh có nhiều khởi sắc, nhịp độ tín dụng tăng trưởng lành mạnh, chất lượng tín
dụng nâng lên.
Tìm hiểu tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng sẽ có cái nhìn thấu đáo về
hoạt động Ngân hàng, biết được Ngân hàng đang ở tình trạng nào và thực sự nguồn
vốn huy động được sử dụng vào mục đích gì.
Bảng 2: Bảng cơ cấu dư nợ
(trích nguồn báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh 2000, 2001)
Đơn vị : Tỷ đồng
Cơ cấu dư nợ phân theo thành phần kinh tế
Năm 2000 : 336 tỷ đồng Năm 2001 : 413 tỷ đồng
Cơ cấu dư nợ phân theo kỳ hạn
Năm 2000 : 336 tỷ đồng Năm 2001 : 413 tỷ đồng
Cơ cấu dư nợ phân theo nội tệ và ngoại tệ
Năm 2000 : 336 tỷ đồng Năm 2001 : 413 tỷ đồng
Phân tích cơ cấu dư nợ cho thấy NHCT - HBT đã theo đúng định hướng
của NHCT VN là đảm bảo tăng trưởng dư nợ. Tổng dư nợ của chi nhánh đến
31/12/2001 đạt 413 tỷ đồng tăng so với năm 2000 là 76 tỷ tốc độ tăng 22,7 %.
Trong đó NHCT - HBT chú trọng mở rộng cho vay đầu tư vào thành phần kinh
tế quốc doanh chiếm >90% tổng dư nợ. Kinh tế ngoài quốc doanh chỉ chiếm 10%
nhưng so vói năm 2000 cũng có chiều hướng tăng. Tuy tỷ trọng dư nợ ở thành phần
này thấp song nhìn chung an toàn và hiệu quả.
trọng
Số tiền Tỷ
trọng
Tổng dư NQH 21370 6,1 15018 4,66 15016 3,6
Phân theo thời gian
_NQH dưới 6 tháng 3255 15 1627 11 867 5,8
_NQH từ 6-12 tháng 3587 17 1936 13 1047 7
_NQH trên 12 tháng 14528 68 11455 76 13102 87,2
Phân theo nguyên nhân
_nguyên nhân khách quan 1349 6,3 2062 14 1907 13
_nguyên nhân từ phía khách
hàng
20021 93,7 12956 86 13109 87
Qua số liệu trên ta thấy tình hình NQH của chi nhánh có những tiến bộ rõ
rệt. NQH năm 1999 là 21.370 triệu đồng chiếm 6,1% trong tổng dư nợ. Năm 2000
NQH giảm xuống còn 15.018 triệu đồng chiếm 4,46% tổng dư nợ. Và đến năm
2001 tỷ trọng NQH/ tổng dư nợ còn 3,6%. Có nghĩa là NHCT-HBT đã giảm thấp
được NQH xuống dưới 5% theo qui định của nhà nước. Điều đó chứng tỏ sự tăng
trưởng dư nợ của chi nhánh là lành mạnh. Nhưng cũng qua số liệu trên cho thấy
NQH trên 12 tháng càng ngày càng tăng. Chi nhánh nên có biện pháp đôn đốc thu
nợ nếu không Ngân hàng sẽ bị rủi ro mất vốn rất cao. Mà nguyên nhân chủ yếu do
khách hàng, chứng tỏ khi cho vay Ngân hàng không tìm hiểu kiểm tra chặt chẽ
khách hàng cũng như quá trình sử dụng vốn của họ. Tuy nhiên trong quá trình cho
vay của Ngân hàng thì vấn đề NQH vẫn là mối hiểm hoạ đe doạ hoạt động kinh
doanh của hệ thống Ngân hàng thương mại thì với tỷ trọng NQH của chi nhánh
như trên rất đáng được khích lệ. Chi nhánh nên có những biện pháp tích cực hơn
trong quá trình xử lý NQH để hoạt động của chi nhánh ngày càng có hiệu quả và
phát triển.
Chiến lược huy động vốn và chiến lược sử dụng vốn là hai mặt hữu cơ
không thể tách rời trong hoạt động Ngân hàng.NHCT_HBT với chiến lược huy
Chỉ tiêu
Năm 2000 Năm 2001
Số món Số tiền Số món Số tiền
Thanh toán bằng tiền
mặt
41.147 3.365,314 43.325 7.561,069
Thanh toán không
dùng tiền mặt
130.303 10.927,822 156.232 17.848,832
Thông qua thanh toán liên hàng điện tử và thanh toán bù trừ chi nhánh đã
thực hiện 100% qua mạng vi tính đảm bảo cho khách hàng thực hiện thanh toán
qua Ngân hàng ngày một tăng. Đặc biệt là thanh toán không dùng tiền mặt chiếm
tỷ trọng lớn. Năm 2000 là 75%, năm 2001 là 70,2% góp phần giúp các doanh
nghiệp thúc đẩy luân chuyển hàng hoá, vật tư, tăng nhanh vòng quay của vốn.
Bên cạnh quá trình thanh toán qua Ngân hàng diễn ra thuận lợi NHCT_HBT
còn đáp ứng kịp thời nhu cầu thu chi tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ. Tổ chức màng
lưới thu chi nhanh chóng cho khách hàng. Cụ thể năm 2001.
*Tổng thu tiền mặt là :1830 tỷ đồng tăng so với 2000 là 35%
* Tổng chi tiền mặt là :1640 tỷđồng giảm so với 2000 là 1,8%
*Thu ngoại tệ là 13,838,062 USD
Thực tốt công tác kế toán thanh toán không những giúp cho quá trình luân
chuyển vốn vào nền kinh tế đạt hiệu quả mà từ đó còn nâng cao vị thế uy tín của
Ngân hàng đối với khách hàng.
2.4 Thu nhập, chi phí và lợi nhuận của NHCT_HBT
rong hoạt động kinh doanh cũng như trong công tác kế toán tài chính
NHCT_HBT luôn chấp hành đúng chế độ quy định của nhà nước và
chế độ của ngành, phối hợp chặt chẽ giữa các phòng nghiệp vụ đảm
bảo thu nợ gốc kịp thời, hạch toán chính xác, thực hiện tiết kiệm chi
tiêu theo nội dung kế hoạch của NHCT VN.
T
hàng. Vậy tình hình thực hiện các dịch vụ Ngân hàng tại NHCT_HBT thì như thế
nào ?
II. HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ TẠI NHCT_HBT :
ối với Ngân hàng thương mại Việt Nam thì phần lớn lợi nhuận thu
được là nhờ thực hiện các nghiệp vụ tín dụng. Bên cạnh đó hoạt
động đầu tư đảm bảo cho Ngân hàng một khoản thu nhập bổ sung
và cho phép hạn chế rủi ro.Ngoài ra còn một loại sản phẩm cũng
mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng mà chứa đựng rất ít rủi ro đó là dịch vụ
Ngân hàng.
Đ
Trong cơ chế thị trường và xu hướng hoạt động của các Ngân hàng hiện đại
thì các dịch vụ Ngân hàng được xem như là một hoạt động kinh doanh thu lãi cao
nhất. Nó là lĩnh vực kinh doanh giành giật thu nhập qua sự phục vụ tận tình chu