Phần 1: Qúa trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Ngoại thương
Hà Nội
I. Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Ngoại thương Việt nam
Lịch sử 44 năm xây dựng, trưởng thành của Ngân hàng Ngoại thươngViệt
Nam là một chặng đường đầy gian nan thử thách nhưng cũng rất đỗi hào hùng và
gắn với từng thời kỳ lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và xây dựng đất
nước của dân tộc Việt Nam
Hoà mình trong dòng chảy của dân tộc, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã
góp phần vào việc khôi phục, phục hồi kinh tế sau chiến tranh, thực hiện kế
hoạch năm năm lần thứ nhất (1957 – 1965); Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng CNXH, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc, chi viện
cho miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1965- 1975); Xây dựng và phát
triển kinh tế đất nước (1975-1989) và Thực hiện công cuộc đổi mới hoạt động
ngân hàng phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước (1990 – nay). Dù ở bất
cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, các thế hệ cán bộ nhân viên Vietcombank
cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình – là người lính xung kích của Đảng trên
mặt trận tài chính tiền tệ, phục vụ đầu tư phát triển của đất nước
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, NHNT chính thức được thành lập theo Quyết
định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962
trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương
(nay là NHNN). Theo Quyết định nói trên, NHNT đóng vai trò là ngân hàng
chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động
trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các
dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm ), thanh toán quốc tế, kinh
doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại
lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã
hội chủ nghĩa (cũ) Ngoài ra, NHNT còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về
các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và
về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ
quốc tế.
2
Năm 1994, NHNT thành lập Công ty Thuê mua và Đầu tư trực thuộc NHNT nay
là Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản.
Năm 1995, NHNT được tạp chí Asia Money – tạp chí tiền tệ uy tín ở Châu Á
bình chọn là Ngân hàng hạng nhất tại Việt Nam năm 1995.
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, Thống đốc NHNN ra Quyết định số 286/QĐ-NH5
về việc thành lập lại NHNT trên cơ sở Quyết định số 68/QĐ-NH5 ngày 27 tháng
3 năm 1993 của Thống đốc NHNN. Theo đó, NHNT được hoạt động theo mô
hình Tổng công ty 90, 91 quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng
03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ với tên giao dịch quốc tế: Bank for
Foreign Trade of Viet Nam, tên viết tắt là Vietcombank.
Năm 1996, NHNT thành lập Văn phòng đại diện tại Paris – Cộng hòa Pháp, tại
Moscow – Cộng hòa liên bang Nga.
Năm 1996, NHNT khai trương Công ty liên doanh Vietcombank Tower 198 với
đối tác Singapore.
Năm 1997, NHNT thành lập Văn phòng đại diện tại Singapore.
Năm 1997, NHNT đăng ký nhãn hiệu kinh doanh độc quyền tại Cục sở hữu Công
Nghiệp, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.
Năm 1998, NHNT thành lập Công ty cho thuê tài chính NHNT – VCB Leasing.
Năm 2002, NHNT thành lập Công ty TNHH Chứng khoán NHNT – VCBS.
Năm 2003, NHNT được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Năm 2003, NHNT được tạp chí EUROMONEY bình chọn là ngân hàng tốt nhất
năm 2003 tại Việt Nam.
Năm 2003, sản phẩm thẻ Connect 24 của NHNT là sản phẩm ngân hàng duy nhất
được trao giải thưởng "Sao vàng Đất Việt".
Năm 2004: NHNT được tạp chí The Banker bình chọn là "Ngân hàng tốt nhất
Việt Nam" năm thứ 5 liên tiếp.
Năm 2005: NHNT được trao giải thưởng Sao Khuê 2005 – do Hiệp hội doanh
nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) tổ chức dưới sự bảo trợ của Ban chỉ đạo
quốc gia về công nghệ thông tin và Bộ Bưu chính Viễn thông. NHNT là đơn vị
dịch. Cho đến nay, mạng lưới của Vietcombank đã vươn rộng ra nhiều địa bàn và
lĩnh vực, bao gồm: 01 Sở giao dịch, 58 chi nhánh và 87 Phòng giao dịch trên
toàn quốc; Công ty con ở trong nước (Công ty Cho thuê Tài chính Vietcombank -
4
VCB Leasing, Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank –VCBS, Công ty
Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản Vietcombank - VCB AMC, Công ty TNHH
Cao ốc Vietcombank 198 -VCB Tower, 1 Công ty con ở nước ngoài: Công ty Tài
chính Việt Nam – Vinafico Hongkong, 2 Văn phòng đại diện tại Singapore và
Paris, 3 Công ty liên doanh (Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank – VCBF, Ngân
hàng Liên doanh ShinhanVina, Công ty Liên doanh TNHH Vietcombank –
Bonday - Bến Thành)
Hoạt động của Vietcombank còn được hỗ trợ bởi mạng lưới giao dịch
quốc tế lớn nhất trong số các ngân hàng Việt Nam với trên 1.300 ngân hàng đại
lý tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. Bên cạnh các hoạt động kinh doanh,
Vietcombank còn tích cực tham gia các hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Ngân
hàng Châu Á, Asean Pacific Banker’s Club và là một trong những thành viên đầu
tiên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam.
Năm 2008, sẽ mở ra một chương mới trong lịch sử hoạt động của
Vietcombank với việc chuyển đổi hoạt động sang cơ chế cổ phần. Những thay
đổi về quản trị ngân hàng hiện đại theo thông lệ quốc tế, mở rộng loại hình kinh
doanh, phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, đầu tư vào công
nghệ sẽ góp phần trong việc Vietcombank thực hiện mục tiêu trở thành một trong
những tập đoàn tài chính đa năng hàng đầu trong khu vực trong giai đoạn năm
2015 – 2020.
Với thế mạnh hàng đầu trong thanh toán quốc tế và mạng lưới ngân hàng đại
lý rộng khắp toàn cầu, mặc dù phải đương đầu với sức ép cạnh tranh ngày càng
gia tăng từ các ngân hàng thương mại khác, Vietcombank tiếp tục duy trì vị trí số
1 vững chắc trong thanh toán xuất nhập khẩu với doanh số 22,8 tỷ USD, tăng
8,6% so với năm 2005, chiếm 27% thị phần cả nước. Đặc biệt, doanh số thanh
toán hàng xuất khẩu đạt 12,7 tỷ USD, tăng 35% so với năm trước, cao hơn nhiều
nhiều địa bàn và lĩnh vực, bao gồm:
01 Sở giao dịch, 58 chi nhánh và 87 Phòng giao dịch trên toàn quốc;
4 Công ty con ở trong nước:
Công ty Cho thuê Tài chính Vietcombank (VCB Leasing)
Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank (VCBS)
Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản Vietcombank (VCB AMC)
6
Công ty TNHH Cao ốc Vietcombank 198 (VCB Tower)
1 Công ty con ở nước ngoài: Công ty Tài chính Việt Nam – Vinafico Hongkong
2 Văn phòng đại diện tại Singapore và Paris
3 Công ty liên doanh:
Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF)
Ngân hàng Liên doanh ShinhanVina
Công ty Liên doanh TNHH Vietcombank – Bonday - Bến Thành
Hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương còn được hỗ trợ bởi mạng lưới giao dịch
quốc tế lớn nhất trong
số các ngân hàng Việt Nam với trên 1300 ngân hàng đại lý tại hơn 90 quốc gia và
vùng lãnh thổ. Bên cạnh
các hoạt động kinh doanh, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn tích cực tham
gia các hiệp hội ngành
nghề như Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Asean Pacific Banker’s Club và là một
trong những thành viên đầu
tiên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam.
Năm 2007 sẽ mở ra một chương mới trong lịch sử hoạt động của Ngân hàng với
việc cổ phần hoá Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam. Những thay đổi về quản trị ngân hàng hiện đại
theo thông lệ quốc tế, mở
rộng loại hình kinh doanh, phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại,
đầu tư vào công nghệ sẽ
góp phần trong việc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện mục tiêu trở
thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng và các danh
hiệu mà các tổ chức uy tín trong giới tài chính như The Banker,The Economist,
MasterCard,Visa…trao tặng.
Với công nghệ hiện đại và đội ngũ nhân viên trẻ,năng động chuyên dộng
chuyên nghiệp,thân thiện,Vietcombank Hà nội mong muốn cung cấp các dịch vụ
ngân hàng-tài chính tốt nhất đến khách hàng.
Cùng với hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt nam hướng tới trở thành tập
đoàn tài chính đa năng trong khu vực và trên Thế giới bằng việc ứng dụng công
nghệ hiện đại,áp dụng các mô thức quản trị theo thông lệ quốc tế,mở rộng các
8
điểm giao dịch…Vietcombank Hà nội sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách
hàng.
Mục tiêu phía trước còn nhiều khó khăn và thách thức, nhưng với sự quan
tâm của lãnh đạo Thành Phố Hà Nội, lãnh đạo Ngân hàng Ngoại Thương Việt
Nam…Vietcombank Hà Nội sẽ vượt qua những thử thách cam go để thực hiện sứ
mệnh của mình.
2.2 các nhiệm vụ của ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
Với mục tiêu trở thành một tập đoàn tài chính hàng đầu Việt Nam và trở thành
ngân hàng tầm cỡ quốc tế ở khu vực trong thập kỷ tới, hoạt động đa năng, kết
hợp với điều kiện kinh tế thị trường, thực hiện tốt phương châm “Luôn mang đến
cho khách hàng sự thành đạt” trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và
hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói riêng đang trong quá trình hội nhập, Ngân
hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đã xây dựng cho mình một
chiến lược phát triển từ nay đến 2010 với những nội dung chính như sau:
Nâng cao năng lực, nâng cao sức cạnh tranh bằng việc phấn đấu nâng
chỉ số CAR đạt 10-12% và các chỉ số tài chính quan trọng khác theo chuẩn quốc
tế, phấn đấu đạt mức xếp hạng “AA” theo chuẩn mực của các tổ chức xếp hạng
quốc tế.
Hoàn thành quá trình tái cơ cấu ngân hàng để có một mô hình tổ chức
hiện đại, khoa học, phù hợp với mục tiêu và bảo đảm hiệu quả kinh doanh, kiểm
Phòng Kế toán - Dịch vụ
Phòng Hành chính - Ngân quỹ
12. Chi nhánh cấp 2 - Chương Dương Phòng Tín dụng - Thanh toán
Phòng Kế toán - Dịch vụ
Phòng Hành chính - Ngân quỹ
13. Chi nhánh cấp 2 - Ba Đình Phòng Tín dụng - Thanh toán
Phòng Kế toán - Dịch vụ
Phòng Hành chính - Ngân quỹ
10
14. Phòng giao dịch số 1 - Hàng Bài
15. Phòng giao dịch số 2 - Trần Bình
Trọng
16. Phòng giao dịch số 3 - Hàng Đồng
17. Quầy giao dịch Nội Bài
III. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
1. Dịch vụ Ngân hàng
2. Mua bán ngoại tệ
3. Huy động vốn
4. Tín dụng
5. tài trợ Thương mại
6. Bảo lãnh
7. Dịch vụ ngân hàng hiện đại
8. Thẻ tín dụng-Thẻ ghi nợ trong nướcvà quốc tế
9. Dịch vụ ngân quỹ
10. Liên kết sản phẩm
11
Phần 2. Thực trạng tình hình hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương
Hà Nội
I. Thực trạng tình hình hoạt động
1. Dịch vụ ngân hàng:
Ngoại thương. Công tác dịch vụ ngân hàng phát triển là một trong những yếu tố
quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Chi nhánh.
Không ngừng mở rộng dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm nâng cao
doanh thu từ dịch vụ là mục tiêu được Chi nhánh đặt lên hàng đầu.
- Số lượng tài khoản cá nhân mở mới đạt: 29.291 tài khoản, nâng tổng số tài khoản
cá nhân mở tại Chi nhánh là 72.653 tài khoản, đạt 120% kế hoạch của năm 2007.
- Chuyển tiền trong nước đạt 322,6 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2006.
- Chuyển tiền nước ngoài đi đạt 1,3 triệu USD.
- Chi trả kiều hối đạt 61,7 triệu USD, tăng 5% so với năm 2006. Trong đó,
chuyển tiền qua hệ thống Money Gram đạt hơn 300.000 USD. Mặ dù con số này
chưa cao so với lượng tiền nước ngoài chuyển đến qua tài khoản hoặc CMT…
tuy nhiên sự mở rộng dịch vụ chuyển tiền sẽ góp phần nâng cao thương hiệu cho
Vietcombank.
- Doanh số bán ngoại tệ tài các bàn thu đổi đạt 6,4 triệu USD, tăng 201% so với
năm 2006.
Với nỗ lực của các cán bộ, Chi nhánh hiện có 40 đơn vị đăng ký tham gia sử
dụng dịch vụ ngân hàng điện tử VCB Money và 450 đơn vị, 3.000 lượt đăng ký
truy vấn thông tin qua Internet i-b@nking, sử dụng dịch vụ sms-banking
2.Mua bán ngoại tệ
Năm 2006 :Doanh số mua bán ngoại tệ của Chi nhánh trong năm
2006 đạt 896 triệu USD, tăng 4% so với năm 2006. Ngoại tệ mua được phần lớn
từ nguồn các Tổ chức kinh tế đáp ứng cho nhu cầu thanh toán nhập khẩu tại Chi
nhánh.
Doanh số mua vào: 448,7 triệu USD
Doanh số bán ra : 447,3 triệu USD
Trong năm 2006, lượng ngoại tệ bán cho VCBTW tăng 88% so với cùng kỳ năm
trước. Chi nhánh đã giảm lệ thuộc tối đa vào nguồn mua từ Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam, góp phần hỗ trợ cho nguồn ngoại tệ của hệ thống. Lãi kinh
13
doanh ngoại tệ trong năm 2006 đạt gần 8 tỷ đồng, tăng 17% so với năm 2005.
năm 2006 đạt 10.830 tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2005 và vượt 12% kế hoạch
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giao cả năm 2006 cho Chi nhánh. Trong đó
nguồn vốn huy động đạt 9.673 tỷ, tăng 31% so với cuối năm 2005.
• Phân theo loại tiền huy động: Huy động USD và VND có tỷ trọng
dao động từ 49% - 51% trên tổng nguồn vốn trong những năm gần đây.
- Huy động VND đạt 5.584 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ năm trước,
chiếm 51,6% tổng vốn huy động.
- Huy động ngoại tệ đạt 5.246 tỷ quy đồng, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước,
chiếm 48,4% tổng nguồn vốn huy động.
• Phân loại theo đối tượng huy động:
- Huy động từ các tổ chức kinh tế đạt 2.415 tỷ đồng, tăng 51% so với năm 2005 và
chiếm 25% tổng nguồn vốn huy động, thay cho tỷ trọng 19%-23% cùng kỳ các năm
trước.
- Huy động từ dân cư đạt 7.257 tỷ đồng, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2005 và
chiếm 75% tổng nguồn vốn huy động.
Công tác quản lý & sử dụng vốn của Chi nhánh tiếp tục được thực hiện theo
phương châm hiệu quả và an toàn, đảm bảo cân đối giữa khả năng sinh lời và khả
năng thanh khoản cho đồng vốn của ngân hàng.
Tổng mức sử dụng vốn sinh lời chiếm 98,7% tổng nguồn vốn. Trong đó, đầu tư
tín dụng chiếm 44%, phần còn lại thực hiện điều chuyển vốn nội bộ, tăng năng
lực nguồn vốn cho toàn hệ thống, đáp ứng nhu cầu cung ứng vốn lưu động và
vốn cho các dự án sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản.
Năm 2007
Công tác huy động vốn của Chi nhánh trong năm 2007 đã duy trì kết quả tốt.
Phát huy thế mạnh về uy tín, thương hiệu gần 45 năm của Vietcombank và với các
phương pháp huy động hiệu quả, thực hiện thành công việc đưa các sản phẩm mới
về huy động vào thị trường theo chủ trương của Ngân hàng Ngoại thương Việt
nam, tổng nguồn vốn của Chi nhánh tính đến 31/12/2007 đạt 7.088 tỷ đồng, tăng
5% so với năm 2006, trong đó nguồn vốn huy động đạt 6.270 tỷ, tăng 12% so với
15
vốn HĐ
16
Tính đến 31/12/2008, thị phần huy động VNĐ, USD, quy VNĐ chiếm tương ứng
là 1,13% - 2,28% - 1,48% trên địa bàn.
Huy động vốn được thực hiện dưới các hình thức:
• Tiết kiệm lãi định kỳ
• Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức cá nhân
• Chứng chỉ tiền gửi ngoại tệ
• Các loại kỳ phiếu,trái phiếu
• Tiền gửi thanh toán
4. Tín dụng:
Năm 2006:Công tác Tín dụng của Chi nhánh trong năm
2006 tiếp tục thực hiện với phương châm “Hiệu quả & an toàn”. Với nỗ lực của
các cán bộ Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, tính đến 31/12/2006, dư nợ tín
dụng của Chi nhánh đạt 4.274 tỷ đồng, tăng 21,5% so với cuối năm 2005, vượt
kế hoạch TW giao cho Chi nhánh năm 2006. Số lượng khách hàng là các doanh
nghiệp có vay vốn tại Chi nhánh hiện là 275 khách hàng
- Thực hiện Quy trình tín dụng mới theo Quyết định 90/QĐ.NHNT.QLTD ngày
26/05/2006 của Ngân hàng Ngoại thương Việt nam áp dụng đối với khách hàng là
doanh nghiệp, Phòng Quản lý rủi ro tín dụng đã từng bước góp phần nâng cao chất
lượng tín dụng, tạo đà phát triển bền vững cho Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội,
góp phần làm cho hoạt động cấp tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp của
Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội tiếp cận với tập quán quốc tế về quản lý trong hoạt
động ngân hàng.
Để mở rộng quan hệ khách hàng và đẩy mạnh công tác tín dụng, đội ngũ cán bộ
VCBHN đã chủ động tìm kiếm các khách hàng tiềm năng, các dự án, các phương
án sản xuất kinh doanh khả thi, tạo điều kiện hỗ trợ kịp thời nhu cầu vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Ngân hàng Ngoại
thương Hà Nội luôn quan tâm duy trì và củng cố đội ngũ khách hàng truyền
thống. Phong cách giao dịch của cán bộ tín dụng và chất lượng các sản phẩm tín
hấp dẫn: mua ôtô mới, sửa chữa nhà, phát triển kinh tế tư nhân - gia đình, du học,
mua biệt thự tại khu biệt thự, đầu tư xây dựng văn phòng… Đến 31/12/2007, dư
18
nợ tại bộ phận tín dụng thể nhân đạt 145 tỷ đồng, chiếm 5,7% tổng dư nợ. Nhìn
chung, các khoản vay cá nhân có chất lượng tốt, đảm bảo khả năng trả nợ ngân
hàng
Hoạt động tín dụng được thực hiện dưới các hình thức:
• Cho vay vốn lưu động: Khách hàng có thể lựa chọn theo từng lần
hoặc vay theo hạn mức tín dụng
• Cho vay dự án đầu tư để đổi mới công nghệ,đáp ứng nhu cầutái sản
cố định hoặc bất động sản của khách hàng
• Cho vay chiết khấu bộ chứng từ
.
Năm 2008:Trong bối cảnh chung của nền kinh tế, hoạt động
kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Hà Nội đã đạt được
kết quả tốt. Công tác Tín dụng của Chi nhánh trong năm 2008 bị tác động và phụ
thuộc rất nhiều từ những biến động trên thị trường tiền tệ và những quyết sách
mới về kiềm chế lạm phát của NHNN. Trong đó có lộ trình cắt giảm dư nợ được
chỉ đạo từ NHNN Việt nam và NHTMCPNT Việt Nam, VCBHN vẫn tiếp tục
duy trì mục tiêu trong công tác cho vay theo phương châm “Hiệu quả & an toàn”.
Tổng dư nợ của Chi nhánh tính đến 31/12/2008 đạt 2.524 tỷ đồng, bằng 98,9% so
với năm 2007, vượt 3% so với kế hoạch 2.450 tỷ đồng đồng mà NHNT Việt Nam
đã điều được chỉnh ngày 05/11/2008. Bám sát định hướng của NHNT Việt Nam
về nâng cao chất lượng và phát triển thị trường mới, tín dụng, cụ thể là mở rộng
hoạt động tín dụng bán lẻ, cho vay các Doanh nghiệp nhỏ và vừa, NHTMCP NT
Hà Nội đã tích cực triển khai, với các kết quả cụ thể dưới đây:
- Dư nợ nhóm khách hàng SMEs đạt 1200 tỷ đồng, chiếm 47,5% tổng
dư nợ.
- Dư nợ nhóm khách hàng thể nhân đạt 181,4 tỷ đồng, chiếm 7,2% tổng
dư nợ.
triệu USD, với các sản phẩm chính là nông-lâm sản.
• Dịch vụ thông báo và thông báo sửa đổi LC
• Dịch vụ xác nhận LC
20
• Dịch vụ nhận bộ chứng từ gửi đi thanh toán theo LC,nhờ thu
• Dịch vụ thanh toán tiền hàng xuất khẩu
• Dịch vụ chiết khấu try đòi
• Dịch vụ chiết khấu miễn tru đòi
• Dịch vụ chuyển nhượng LC
• Dịch vụ phát hành LC
• Dịch vụ thanh toán LC
• Ký hậu vận đơn/ ủy quyền nhận hàng theo LC,nhờ thu
• Bảo lãnh nhận hàng
• Thông báo và thanh toán nhờ thu
6. Bảo lãnh:
Dư nợ bảo lãnh đến 31/12/2007 đạt 113 tỷ đồng
• Bảo lãnh vay vốn
• Bảo lãnh thanh toán/Thư tín dụng dự phòng
• Bảo lãnh dự thầu
• Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
• Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm
• Bảo lãnh thanh toán tiền ứng trước
• Bảo lãnh khoản tiền giữ lại
• Bảo lãnh đối ứng
• Xác nhận bảo lãnh
7. Dịch vụ ngân hàng hiện đại:
Dịch vụ ngân hàng điện tử VCBMoney giúp khách hàng thực hiện các giao
dịch khách hàng ngay tại trụ sở làm việc của mình thông qua đường truyền điện
thoại. Dịch vụ ngân hàng trực tuyến I-b@nking giúp khách hàng truy vấn thông
tin tài khoản và tín dụng qua đường truyền internet.
Cho vay nhu cầu tiêu dùng cá nhân mua nhà ô tô,du học…
Thanh toán hóa đơn điện nước, điện thoại,bảo hiểm …qua máy rút tiển tự
động ATM
Đại lý cho các công ty bảo hiểm lớn như BẢO VIỆT, AIA, Prudential…
22
II. Đánh giá chung về tình hình hoạt động Ngân hàng Ngoại thương Hà nội
1. Tổng quan tình hình kinh tế xã hội năm 2008 trên địa bàn
Với những thắng lợi kinh tế được cho là cao nhất trong 10 năm trở lại đây, năm
2007 đã đưa ra những mục tiêu rất cao cho năm 2008 như: tăng trưởng GDP từ
8,5-9%, lạm phát ở mức 11-12%. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế xã hội thực tế
năm 2008 của nước ta chịu tác động lớn từ những bất ổn của kinh tế thế giới, đặc
biệt khủng hoảng tài chính kéo theo sự suy giảm của nhiều nền kinh tế; thiên tai,
dịch bệnh trong nước liên tiếp xảy ra gây thiệt hại nhiều cho sản xuất và đời sống
dân cư, có thể thấy rõ mục tiêu trên khó mà thực hiện được: GDP năm 2008 tăng
trưởng 6,23% so với cùng kỳ năm 2007, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2008 đạt
21,47%, tăng 22,97% so với cùng kỳ năm 2007.
Tình hình kinh tế-xã hội của Thủ đô trong năm 2008 gặp nhiều khó khăn, chịu
ảnh hưởng từ những diễn biến bất lợi về kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính tiền tệ
trong nước. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn Hà Nội năm 2008 đạt
11,2%, trong khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế đặt ra cho Hà Nội năm 2008 từ
12,5-13%. Tuy nhiên trong bối cảnh khó khăn chung, hoạt động ngân hàng và thị
trường tiền tệ vẫn ổn định, thể hiện ở số vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng cuối
năm đang dư thừa ở mức khá lớn khoảng 50.000 tỷ đồng (Theo Vụ CSSTT,
25.10.2008). Hoạt động ngân hàng trên địa bàn Hà Nội năm 2008 vẫn phát triển
khá ổn định, các chỉ tiêu đều ở mức cao so với toàn quốc và cuối năm 2007.
Thuận lợi, khó khăn trong môi trường hoạt động kinh doanh
• Thuận lợi:
NHNT Việt Nam đã chính thức trở thành NHTM cổ phần từ 02/06/2008,
nền tảng cơ chế quản trị và điều hành ngân hàng có sự thay đổi. Thực tế là một số
chủ trương biện pháp tổ chức chỉ đạo trong kinh doanh từ NHNT VN đã có sự
do uy tín, thương hiệu Vietcombank được tạo dựng hơn 45 năm qua. Các sản phẩm
huy động vốn so với các ngân hàng bạn nhìn chung không mới mẻ, lãi suất chưa
hấp dẫn, các sản phẩm đơn lẻ, không mang tính chất ‘gối vụ’: khi sản phẩm này đến
hạn, khách hàng không có sản phẩm khác để lựa chọn thay thế.
• Các giải pháp đã áp dụng:
24
Trong thời gian qua, Chi nhánh Hà Nội đã tích cực triển khai phát triển dịch vụ
ngân hàng bán lẻ, thu hút thêm khách hàng trong mảng hoạt động này: tạo không
gian giao dịch đồng bộ, mang hình ảnh chung cho các Phòng giao dịch, phát triển
các sản phẩm của Vietcombank, nghiên cứu đề xuất các sản phẩm mới, thực hiện
các chính sách chăm sóc khách hàng (tặng quà sinh nhật khách hàng VIP, khuyến
mại khách hàng nhân dịp khai trương các PGD, tặng quà khách hàng thân thiết
nhân dịp Hội nghị khách hàng, giao lưu với các khách hàng…), đổi mới phong
cách giao dịch hướng tới khách hàng, tạo không khí giao dịch thân thiện như :
luyện kỹ năng nhớ khách hàng, tư vấn thay vì thụ động làm theo yêu cầu của
khách, giao mỗi giao dịch viên tạo dựng 10 khách hàng thân thiết… Tuy nhiên,
các sản phẩm của Vietcombank chưa đủ hấp dẫn về ‘chất’ để thu hút khách hàng
nên công tác marketing và khuếch trương dù cố gắng cũng chưa đủ mạnh để thu
hút khách hàng, phát huy được hết lợi thế thương hiệu Vietcombank.
Chi nhánh đã và sẽ từng bước áp dụng mô hình quản lý và tổ chức giao dịch
trong khối Ngân hàng bán lẻ theo chuẩn mực của một ngân hàng thương mại hiện
đại.
Một trong những nguyên nhân quan trọng trực tiếp của việc giảm sút lượng
vốn huy động là do sự biến động ngoại tệ rất phức tạp trên thị trường trong năm
qua. Hơn nữa, do tình hình kinh tế Việt Nam năm 2008 gặp nhiều khó khăn, bất
ổn, diễn biến trên thị trường tiền tệ khó lường…nên khách hàng hiện tại chủ yếu
lựa chọn kênh gửi tiết kiệm ngân hàng làm giải pháp tạm thời trong ngắn hạn chờ
khi thị trường nhà đất, chứng khoán, ngoại tệ và vàng có các dấu hiệu “sáng sủa”
hơn sẽ chuyển sang đầu tư. Chính vì vậy, việc huy động nguồn tiền gửi này thường