Tiểu luận tư tưởng hồ chí minh về con người và vai trò của con người - Pdf 14

Mục lục
Trang
Lời nói đầu
Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, ruộng đất
canh tác bình quân đầu người thấp, tài nguyên khoáng sản tuy đa dạng phong phú, song trữ lượng
không lớn như nhiều nước khác, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề,
đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế, khoa học, kỹ thuật so với các nước phát
triển. Vì vậy, nền kinh tế muốn phát triển nhanh, mạnh và bền vững, thì phải phát huy tốt mọi nguồn
lực, nhưng quan trọng nhất là phải biết phát huy nguồn lực con người. Ngày nay, nhiều nước đang tiến
vào làn sóng văn minh mới, với nền sản xuất hiện đại, khoa học, kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Nhiều
nước cách đây mấy chục năm có điểm xuất phát thấp hơn Việt Nam, nhưng họ đã phát triển nhanh
chóng nhờ có chiến lược phù hợp, có những chính sách khôn ngoan, năng động. Nhiều quốc gia vốn
cũng nghèo về tài nguyên khoáng sản, nhưng nhờ biết phát huy yếu tố con người, đặt con người ở vị trí
trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, nên đã vươn lên đuổi kịp và vượt các nước khác.
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, đảng ta xác định nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là nhiệm vụ hàng đầu thì vai trò của con người là quan trọng nhất. Con người là chủ thể sáng
tạo của lịch sử. Trong CMXHCN con người là yếu tố quyết định vừa là điểm xuất phát vừa là mục đích
của một chính sách kinh tế - xã hội. Xây dựng xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội mà ở đó có đủ
những điều kiện vật chất và tinh thần.
Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con người tại hội nghị lần thứ tư
của ban chấp hành trung ương khoá VII, Đảng ta đã đề ra và thông qua nghị quyết về việc phát triển con
người Việt Nam toàn diện với tư cách là “động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội”. Đó là “con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong
phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
Chương I. Lý luận chung về con người
1. Quan điếm của các nhà triết học trước Mác về con người
Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học đều tự hỏi: Thực chất con
người là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn
troch chính con người. Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một
1
tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là

nghĩa duy vật trực quan thì tuyệt đối hoá phần xác thành con người trừu tượng. Sinh học, tuy nhiên họ
vẫn còn nhiều hạn chế, các quan niệm nói trên đều chưa chú ý đầy đủ đến bản chất con người.
2. Quan điếm chủ nghĩa Mác về con người
2.1.Con người là một thực thể sinh học xã hội
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người là khái niệm chí những cá thể người như một chính thể
trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó.
Con người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật. Do vậy nhiều
quy luật sinh vật học cùng tồn lại và tác động đến con người. Để tồn tại với tư cách là một con người
trước hết con người cũng phải ăn, phải uống
Điều đó giải thích vì sao Mác cho rằng co người trước hết phải ăn, mặc ở rồi mới làm chính trị.
2.2.Con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội
Mác và Anghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm của những nhà triết học đi trước rằng. Con
người là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật xã hội, nhưng khác với họ, Mác, Anghen; xem
xét mặt tự nhiên của con người, như ăn, ngủ, đi lại, yêu thích Không còn hoàn mang tính tự nhiên như
ở con vật mà đã được xã hội hoá. Mác viết: “Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoà của
những mối quan hệ xã hội”
1
con người là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội nên Mác nhiều lần
đã so sánh con người với con vật, so sánh con người với những con vật có bản năng gần giống với con
người Và để tìm ra sự khác biệt đó. Mác đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ có con người làm
ra tư liệu sinh hoạt của mình, con người biến đổi tự nhiên theo quy luật của tự nhiên, con người là thước
đo của vạn vật, con người sản xuất ra công cụ sản xuất Luận điểm xem con người là sinh vật biết chế
tạo ra công cụ sản xuất được xem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác về con người.
Luận điểm của Mác coi “Bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã hội” Mác hoàn toàn
không có ý phủ nhận vai trò của các yếu tố và đặc điểm sinh học của con người, ông chỉ đối lập luận
điểm coi con người đơn thuần như một phần của giới tự nhiên còn bỏ qua, không nói gì đến mặt xã hội
của con người. Khi xác định bản chất của con người trước hết Mác nêu bật cái chung, cái không thể
thiếu và có tính chất quyết định làm cho con người trở thành một con người. Sau, thì khi nói đến “Sự
định hướng họp lý về mặt sinh học” Lênin cũng chỉ bác bỏ các yếu tố xã hội thường xuyên tác động và

sử của mình, lịch sử 7của xã hội loài ngoài. Từ đó quan niệm đó Mác khẳng định sự phát triển của lực
lượng sản xuất xã hội có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản chất con người, coi như là một mục
đích tự thân. Bởi vậy theo Mác ý nghĩa lịch sử mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là phát triển
con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, giải phóng con người, loại trừ ra khỏi
cuộc sống con người để con người được sống với cuộc sống đích thực. Và bước quan trọng nhất trên
con đường đó là giải phóng con người về mặt xã hội.
2.3.Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Con người tồn tại qua những cá nhân người, mỗi cá nhân người là một chỉnh thể đơn nhất gồm
một hệ thống những đặc điểm cụ thể không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác về cơ chế, tâm lý,
trình độ
Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành. Những cá nhân này sống và hoạt động trong
những nhóm cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do điều kiện lịch sử quy định. Trong mối quan hệ
với giống loài, tức là trong mối quan hệ với xã hội, cá nhân biểu hiện ra với tư cách sau:
1 C.Mác và Ph. ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.29
4
- Cá nhân là phương thức tồn tại của giống loài "người". Không có con người nói chung, loài người nói
chung tồn tại cảm tính.
- Cá nhân là cá thể người riêng rẽ, là phần tử tạo thành cộng đồng xã hội, là một chỉnh thể toàn vẹn có
nhân cách.
- Cá nhân được hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội. Nhưng xã hội thay đổi theo tiến trình
lịch sử cá nhân là một hiện tượng có tính lịch sử. Mỗi thời kỳ lịch sử có một "kiểu xã hội của cá nhân"
mang tính định hướng về thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động của con người trong thời kỳ
lịch sử cụ thể
Nếu như cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với giống loài, sự khác biệt
biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân khác thì nhân cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt
những yếu tố bên trong riêng biệt với toàn bộ hoạt động sống của nó, của cá nhân này với cá nhân khác.
Nhân cách là nội dung, trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân. Đó là thế
giới của "cái tôi" do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội riêng biệt tạo nên. Mỗi cá nhân
"dấn thân" vào cuọc sống, tiếp thu và chuyển những giá trị văn hoá của xã hội vào bên trong mình, thực
hiện quá trình so sánh lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế giới riêng của mình. Đây là quá trình kép, xã

lãnh tụ do chính quan hệ lợi ích quy định. Lợi ích biểu hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: lợi ích kinh
tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hoá .Quan hệ lợi ích là cầu nối liền, là nội lực để liên kết các cá nhân
cũng như quần chúng nhân dân và lãnh tụ với nhau thành một khối thống nhất về ý chí và hành động.
Lợi ích đó vânj đọng phát triển tuỳ thuộc vào thời đại, vào điẹa vị lịch sử của giai cấp cầm quyền mà
lãnh tụ là đại biểu, phụ thuộc vào khả năng nhận thức và vận dụng đeer giải quyết mối quan hệ giữa các
cá nhân, các giai cấp và tầng lớp xã hội. Từ đó, có thể thấy rằng, mức độ thống nhất về lợi ích là cơ sở
quy định sự thống nhất về nhận thức và hành động giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử.
Thứ ba, sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ biểu hiện trong vai trò khác nhau của
sự tác động đến lịch sử. Tuy cùng đóng vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội,
nhưng quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển, còn lãnh tụ là người định hướng, dẫn
dắt phong trào, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử.
Bởi vậy, quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân lãnh tụ là biện chứng, vừa thống nhất vừa
khác biệt.
Chương II. Vai trò của con người
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh vê con người và vai trò của con người
- Con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ
không phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chũng ta phải yêu dân, quý dân, trọng dân, vì “có
dân là có tất cả”. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì
mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.
(l)
Do đó, “trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng
phục vụ cho lợi ích của nhân dân”.
6
Từ đó, ta thấy nổi lên ờ Hồ Chí Minh một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người, một
niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, một ý chí kiên quyết đấu tranh để giải phóng
con người khỏi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu. Cũng có thể coi đó là những nội dung cơ bản của
chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.
- Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người hoàn toàn xa lạ với các quan điểm xem con người như là công cụ,

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.ỉO, tr.115
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.10, tr.123
7
trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một
việc rất quan trọng và rất cần thiết” (Di chúc). Quan điểm “trồng người” của Hồ Chí Minh rất toàn
diện và phong phú, ở mỗi thời kỳ cách mạng. Người nêu ra những yêu cầu khác nhau. Bước vào thời
kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nhấn mạnh đến các yêu cầu sau đây:
+CÓ đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham ô, lãng phí, quan liêu, có
ý thức làm chủ và tinh thần tập thể.
+CÓ ý chí học hỏi, không ngừng vươn lên làm chủ những thành tựu văn hoá, khoa học -kỹ thuật,
những hiểu biết mới của thời đại. có tinh thần tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, nhạy bén với cái mới,
biết vận dụng nó vào thực tế công tác để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về con ngưòi và chiến lược trồng người là một hệ thống chặt chẽ, phong phú, vừa khoa học,
vừa cách mạng, là một bộ phận hợp thành của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, một đóng góp quan
trọng vào việc làm phong phú triết học về con người của chủ nghĩa Mác-Lênin.
2. Vai trò của con người Việt Nam hiện nay
Sự thành công của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta đòi hỏi ngoài môi trường chính trị
ổn định, phải có những nguồn lực cần thiết như : nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên,
cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tham
gia vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng với mức độ khác nhau trong đó nguồn lực
con người là yếu tố quyết định.
Vai trò nguồn lực con người quan trọng như thế nào đã được chứng minh trong lịch sử
kinh tế của những nước tư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ.
Ngày nay, đối với nhũng nước lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp
thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật- công nghệ hiện đại của các nước phát triển. Nhưng không phải
cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người, còn nhớ rằng
công nghệ tiên tiến của nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí thậm
chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi của con người khi sử dụng chúng. Đó là một điều
rất đáng lưu ý.
Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam cũng phải phụ

cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên sẽ có hại cho quá trình phát triển kinh tế đất
nước.
Qua toàn bộ phân tích trên đây, ta có thể đi đến kết luận rằng nguồn lực con người có vai trò quyết
định cho sự thành công của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Do vậy, muốn phát trriển kinh tế thành
công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hóa, y tế, giáo dục ở
Việt Nam nhằm phát triển nguồn lực con người. Đây là nhiệm vụ lớn nhất và cũng được coi là khó khăn
nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.
2.1.Mặt tích cực của con người Việt Nam
Thứ nhất, theo kết quả điêu tra của Bộ LĐ TBXH công bố ngày 25 tháng 10 cả nước hiện có
39.489 nghìn người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm ổn định, khu vực thành thị 9.182 nghìn người,
9
khu vực nông thôn có 30.307 nghnf người. Như vậy tỉ lệ lao đoọng có việc làm: 97,24% tỉ lệ thất nghiệp
2,76%.
Thứ hai, Việt Nam có tỷ trọng tương đối cao về lao động trẻ, phần lớn có ọc vấn phổ thông, ngay
cả ở nông thôn. Đây là một tiền đề quan trọng tạo điều kiện tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp,
kể cả những ngành nghề mới. Lực lượng lao đoọng có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo
tưong đối lớn (so với các nước có thu nhập như nước ta). Tính đến năm 2001 lực lượng lao động có
chuyên môn kỹ thuật lên tới 22,2% có khoảng gần 1 triệu người tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng đó còn
chưa kể tới 120.000 người có bằng thạc sỹ và tiến sỹ.
Thứ ba, chúng ta có một lượng tương đối lớn người Viẹt soóng ở nước ngoài, tập trung chủ yếu ở
châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; tron đó tỉ lệ người cóc trình độ cao về chuyên môn và nghiệp vụ là
đáng kể (trên 300000 người). Đây là một nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nước, là cầu nối
giữa Việt Nam và thế giới về mặt chuyển giao tri thức, công nghệ và các quan hệ quốc tế.
Thứ tư, đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con người Viẹt Nam. Truyền
thống đó cần được nuôi dưỡng va phát huy làm cơ sở cho việc nắm bắt, tiếp thu và vận dụng một cách
nhanh chóng, sáng tạo nhũng phát minh, sáng kiến khoa học của nhân lợi phục vụ cho sự nghệp phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tính cộng đoòng, ý thức trách nhiệm với coọng đoòng được phát huy
mạnh mẽ sẽ có thể hỗ trợ đắc lực không chỉ cho việc truyền bá tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp, hỗ
trợ nhau tìm kiếm công ăn việc làm, góp phần làm giảm sức ép về lao động hiện nay. Dân tộc Việt Nam
còn có truyền thoống biết chịu đượng gian khổ để tiết kiệm, tích luỹ cho đầu tư mở rộng, tạo dựng cơ đồ

phương diện sinh lý và thể lực dường như chững lại.
Thứ năm, người lao động nước ta nói chung chưa có nếp lao động công nghiệp, quen theo kiểu
sản xuất nhỏ, lao động giản đơn còn gò bó trong nếp sống phương đông, cha truyền con nối. Chính vì
thế mà cho tới tận thế kỷ 20 công cụ làm việc ở các bễ lò rèn Bắc Ninh vẫn không khác bao nhiêu với
công cụ đã rèn cày cuốc và vũ khí đánh giặc Ân thời Thánh Gióng, các cô gái Ilà Đông vẫn dệt lụa trên
các khung cửi mà cách đây 900 năm các cô gái triều Lý đã sử dụng.
2.3.Giải pháp phát triển con người Việt Nam trong thời đại mới
2.3.1. Khai thác hợp lý và có hiệu quả nguồn lực con ngời
a) Tạo việc làm cho người lao động
- Trước hết thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần và thúc đẩy nó phát triển
là điều kiện tiên quyết để tạo việc làm.
- Đặc biệt quan tâm tạo việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.
b) Tổ chức lao động xã hội hợp lý, khai thác tốt năng lực ngời lao động
Chính sách tuyển dụng và sử dụng phải gắn với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tăng vốn đầu tư tạo việc làm, phát triển thị trường lao động và mở rộng xuất khẩu lao động.
-Mục tiêu xã hội phải tạo ra đợc những điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi để mọi
người đều có cơ hội tìm kiếm việc làm.
1
-Chính sách tuyển dụng và sử dụng lao động phảỉ gắn với cơ chế thị trường có sự hớng dẫn quản
lý của nhà nước
-Có chính sách hữu hiệu để thu hút lao động đã qua đào tạo đến làm việc ở các vùng nông thôn
và miền núi.
-Thực hiện chính sách cầu hiền khai thác triệt để lao động trí tuệ.
-Bảo đảm sự phù hợp chính xác trong tuyển dụng, đánh giá sắp xếp đề bạt cán bộ, vì cán bộ là
cáí gốc của công việc.
2.3.2. Đào tạo trước đòi hỏi của kinh tế tri thức
Cuộc cách mạng khoa học — kỹ thuật hiện đại với đặc trưng là cách mạng tri thức, cách mạng
thông tin phát triển như vũ bão, đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong mọi hoạt động của
xã hội loài người, từ cách sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, đến quan hệ xã hội, văn hóa, lối sống,
làm thay đổi cả những khái niệm và phương pháp tư duy. Xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức đang

thông tin, cách mạng tri thức quá trình tạo ra tri thức, truyền bá tri thức và sử dụng tri thức không còn là
quá trình kế tiếp nhau mà trở thành đan xen nhau, tương tác nhau; và cái quan trọng nhất là sử dụng tri
thức, biến tri thức thành giá trị. Giáo dục phải tạo ra con người có tri thức và biết sử dụng tri thức trong
hoạt động thực tiễn để tạo ra nhiều giá trị mới.
2.3.3. Cải cách giáo dục để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đảng ta từ rất sớm đã quan tâm đến sự nghiệp giáo dục - đào tạo, coi giáo dục - đào tạo cùng với
khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đến nay đã có hơn 20% số người lao động qua đào tạo
trong số đó có khoảng 1,5 triệu người tốt nghiệp đại học và cao đẳng: 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc
sĩ. Trình độ học vấn của đội ngũ công nghiệp kỹ thuật được nâng cao khá nhanh. Nguồn nhân lực ấy đã
góp phần lớn cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên trước
yêu cầu hội nhập nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa, yêu cầu “đi tắt đón đầu”, đẩy nhanh và rút ngắn quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nhân lực hiện có của nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập. So
với các nước trong khu vực, nguồn nhân lực của nước ta còn thua kém về số lượng, cơ cấu cũng như về
trình độ, năng lực.
Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, trước hết Nhà nước phải có chính sách trọng dụng
nhân tài, thực sự coi “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng
lực của những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực (khoa học — công nghệ, quản lý kinh doanh, văn
học — nghệ thuật, các nghệ nhân ). Thực hiện việc đánh giá đúng và trả thù lao xúng đáng với kết quả
lao động sáng tạo của đội ngũ tri thức, không để lẫn lộn người có tài với kẻ bất tài;
có chính sách tích cực để khuyên khích cán bộ khoa học tiến thân bằng những cống hiến do năng lực
chuyên môn của mình. Xây dựng và thực hiện cơ chế đánh giá, tuyển chọn, sử dụng, sàng lọc họp lý;
thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức, không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ trí
thức. Có sử dụng tốt thì mới có giáo dục tốt. Có trọng dụng người tài thì mới có nhiều người tài.
Nền giáo dục nước ta phải thực sự đổi mới để đảm bảo đào tạo được một thế hệ trẻ có đủ năng
lực làm chủ đất nước. Không có nền giáo dục tốt thì không tạo dụng được nội sinh về khoa học — công
nghệ để trụ vững trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay nhằm phát triển nhanh đất nước.
1
Nền giáo dục phải thực hiện được ba nhiệm vụ cơ bản.
Một là, nâng cao mặt bằng dân trí, mỗi người dân đều có khả năng nắm bắt và vận dụng những
tri thức mới cần thiết cho công việc của mình. Mặt bằng dân trí phải theo kịp mức các nước tiên tiến

nghiệm.
1
Kết luận
Tóm lại, vai trò của con ngưòi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là
vô cùng quan trọng. Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ, vì nguồn
tài nguyên trí tuệ không có giới hạn. Tính vô tận của nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng
để con người nhận thức tính vô tận của thế giới vật chất, tiếp tục nghiên cứu những
nguồn tài nguyên thiên nhiên còn vô tận nhưng chưa được khai thác và sử dụng, phát
hiện ra những tính năng mới của nhữn dạng tài nguyên đang sử dụng hoặc sáng tạo ra
những nguồn tài nguyên mới vốn không có sẵn trong tự nhiên, nhằm phục vụ cho sự phát
triển của xã hội trong những điều kiện mới. Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người là nguồn
lực vô tận của sự phát triển xã hội.
Đồng thời, nguồn lực phát triển của xã hội, trước hết và quan trọng hơn cả cũng chính là
con người - nguồn tiềm năng sức lao động. Con người đã làm nên lịch sử của chính mình
bằng lao động được định hướng bởi trí tuệ đó. Ta đã biết rằng, “tất cả cái gì thúc đẩy con
người hoạt động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”, tức là phải thông qua trí tuệ
của họ. Trước tiên, những nhu cầu về sinh tồn đã thúc đẩy con người hoạt động theo bản
năng như bất kỳ một động vật nào khác. Nhưng rồi “bản thân con người bắt đầu tự phân
biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình -
đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định”. Sự khác biệt căn bản về
mặt “tổ chức cơ thể” giữa con người và con vật chính là bộ óc và đôi bàn tay. Bộ óc điều
khiển đôi bàn tay, nghĩa là bằng trí tuệ (bộ óc) và lao động (đôi bàn tay) con người đã
tiến hành hoạt động biến đổi tự nhiên làm nên lịch sử xã hội, đồng thời trong quá trình đó
đã biến đổi cả bản thân mình.
Cho đến khi lực lượng sản xuất phát triển, đánh dấu bởi những phát minh khoa học,
những công nghệ hiện đại thì trí tuệ con người vẫn có sức mạnh áp đảo. Những tư duy
máy móc, trí tuệ nhân tạo dù rộng lớn đến đâu, dù dưới hình thức hoàn hảo nhất cũng
chỉ là một mảng cực nhỏ, một sự phản ánh rất tinh tế thế giới nội tại của con ngưòi, chí là
kết quả của quá trình phát triển khoa học kinh tế, của hoạt động trí tuệ của con người.
Mọi máy móc dù hoàn thiện, dù thông minh đến đâu cũng chỉ là kẻ trung gian cho hoạt

• Nguyễn Hữu Liêm - Vấn đề con người trong chiến lược kinh tế quốc gia- Nxb.
Chính trị quốc gia Hà Nội-1995
• Nguyễn Trọng Hoàng - Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH-
Tạp Chí Cộng Sản-số 3/2006
• Triết học cổ điển Đức - Nxb. Thế Giới-1998
• Triết lý phát triển con người Việt Nam, mấy vấn đề cốt yếu - Tạp Chí con người-
Nxb. Khoa học xã hội-2007
• Vấn đề con người và sự nghiệp CNH_ HĐH - Nxb. Chính trị quốc gia-2001
1
V.I.Lênin: Toàn tập- Nxb. Tiến bộ, Matxcơva-1978.
1
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9, tr.114


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status