z
ĐỀ TÀI
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON
NGƯỜI MỚI
CHƯƠNG 1
CÁI NHÌN BAO QUÁT VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CH Í MINH
1.1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm sâu sắc và toàn
diện về cách mạng Việt Nam từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên
cách mạng XHCN, là kết quả của một quá trình nhận thức và vận dụng sáng
tạo, phát triển chủ nghĩa Mac – Lênin trong điều kiện của cách mạng Việt
Nam, là sự kết tinh tinh hoa của dân tộc với tinh hoa của thời đại nhằm giải
phóng dân tộc, giai cấp và xã hội loài người.
Cũng như mọi tư tưởng khác, tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc
thực tiễn của nó. Các nguồn gốc tư tưởng chủ yếu ảnh hưởng đến sự hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh là:
a.Truyền thống lịch sử và văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam
đã tạo lập cho dân tộc một nền văn hóa đặc sắc, phong phú và bền vững với
nhiều truyền thống tốt đep và cao quý. Những truyền thống tư tưởng và văn
hóa này đã góp phần tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bât khuất đấu tranh để
dựng nước và giữ nước. Đó là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt lịch sử Việt
Nam từ cổ đại đến hiện đại, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng giá trị
văn hóa- tinh thần Việt Nam.
Thứ hai tinh thần nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái trong
hoạn nạn khó khăn là truyền thống văn hóa quý báu của dân tộc ta. Là người
Việt Nam ai cũng thuộc, cũng nhớ những câu tục ngữ như “ Lá lành đùm lá
rách” hoặc câu ca dao:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ.
Tiếp theo là chủ nghĩa Mac- Lênin: từ một người yêu nước thành môt
người cộng sản là kết quả của sự tác động biện chứng giữa mối quan hệ cá
nhân với dân tộc và thời đại trong con người của Hồ Chí Minh. Nhờ phép
biện chứng Người đã tiếp trhu những yếu tố tích cực, kết hợp chặt chẽ
những yếu tố ấy để chuyển hóa và tạo lên hệ tư tưởng của mình. Vì vây có
thể nói , tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm
phong phú chủ nghĩa Mac- Lênin ở thời đại các dân tộc áp bức vùng lên
giành độc lập, tự do và xây dựng xã hội mới.
Cuối cùng là những nhân tố chủ quan thuộc phẩm chất cá nhân của
Hồ Chí Minh. Bản thân Hồ Chí Minh là người tự chủ sáng tạo, độc lập trong
tư duy. Người đã có một quá trình khổ công học tập, rèn luyện để tiếp thu có
chọn lọc những tinh hoa tri thức nhân loại, sớm vươn tới đỉnh cao tri thức
nhân loại để tạo nên tri thức và kinh nghiệm của mình. Người là một nhà
yêu nước chân chính, một người cộng sản nhiệt tình cách mạng, yêu nước
thương dân, yêu thương người cùng khổ, một tinh thần sẵn sàng hi sinh vì
độc lập , vì tự do, vì hạnh phúc của đồng bào, vì sự nghiệp giải phóng con
người, giải phóng loài người.
1.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.Nội dung nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các quan điểm cơ bản về giải phóng
dân tộc, giai cấp và con người, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về sức mạnh của nhân
dân và khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng
nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng
lực lượng vũ trang nhân dân; tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tư tưởng
về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tư tưởng về
chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; tư tưởng về xây dựng
Đảng Cộng Sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là
Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng ta và nhân dân ta trên con
đường thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh,xã hội công bằng,văn minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cách mạng nước
ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta nhận
thức đúng vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo vệ nền độc lập dân tộc,phát
triển xã hội và đảm bảo quyền con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi sống với chúng ta vì đã thấm sâu vào
quần chúng nhân dân,chỉ đạo thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đối với
thời đại.qua thực tiễn cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng toả
sáng,chiếm lĩnh trái tim, khối óc của hàng triệu con người.
b, Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển thế giới[1]
- Phản ánh khát vọng thời đại
Hồ Chí Minh là nhân vật lịch sử vĩ đại,không chỉ là sản phẩm của dân
tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam,mà còn là sản phẩm của thời đại,của
nhân loại tiến bộ.
Hồ Chí Minh đã có những cống hiến xâu sắc về lí luận cách mạng
giải phóng dân tộc thuộc địa dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mac-Lênin và từ
đó góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin.
Việc xác định đúng đắn những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh,trong đó có cả những vấn đề về chủ nghĩa
xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội,về hoà bình hợp tác hữu nghị giữa các
dân tộc có giá trị to lớn về mặt lý luận và đang trở thành hiện thực của
nhiều vấn đề quốc tế ngày nay.
- Tìm ra giải pháp đấu tranh giải phóng loài người
Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề làm cách nào để giải phóng
các dân tộc thuộc địa. Người đã xác định chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù lớn
nhất của dân tộc bị áp bức và để chiến thắng chủ nghĩa đế quốc, cần phải
thực hiện đại đoàn kết, đại hoà hợp.Đây là một đóng góp to lớn của Hồ Chí
phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Đó là một chủ nghĩa nhân văn
cộng sản trong cốt cách của một hiên triết phương đông.
Người xem xét con người như một chỉnh thể thống nhất về tâm lực,
thể lực và các hoạt động của nó.con người luôn hướng đến cái Chân- Thiện-
Mỹ, mặc dù “có thế này, thế khác”.
Người nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia
đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa
là cả loài người”. Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn
nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã
hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan
tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem
lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự
nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không
được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy
được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người
viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích
cá nhân". Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng
của bản thân và của gia đình mình"Trong quan điểm về thực hiện một nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính,
không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được
đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật.
Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại
trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người
trên toàn thế giới.[7]
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm
trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến
một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận,
xem xét con người trong tính đa dạng của nó: đa dạng trong các mối quan hệ
xã hội; đa dạng trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả năng; mấy mươi
triệu người viêt nam có người thế này, thế khác, nhưng đều cùng là nòi
giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình
đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam
giới?" Niềm tin của Bác hướng vào nhân dân. Cuộc chiến đấu chống áp bức
sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không "dựa vào lực lượng của toàn dân". Tấm
lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người,
tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao
động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, "lòng thương
yêu nhân dân, thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thay đổi".[3]
Quan điểm tin vào dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương
yêu nhân dân của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống
dân tộc, truyền thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao
nhà Nho yêu nước khác có cùng quan điểm "ái quốc là ái dân", nhưng điểm
khác cơ bản trong tư tưởng "ái dân" của Người là tình thương ấy không bao
giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện
đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân
loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và
giá trị làmngười cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó
không tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như
toàn bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa
dân tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề
dân tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam,
Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế
giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức
mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm
châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng
của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu
tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.
Có thể nói Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người luôn gắn liền với lịch
sử, ý thức nhân dân gắn liền với độc lập dân tộc.Theo quan điểm của Hồ Chí
Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là "đầy tớ trung thành" có sứ mệnh
mạng[6]
Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra,
chứ không phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chúng ta phải yêu
dân, quý dân, trọng dân, vì "có dân là có tất cả". Người nói: "Trong bầu trời
không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng
đoàn kết của nhân dân". Do đó, "trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang
bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân". Từ đó, ta thấy nổi lên ở Hồ Chí
Minh một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người, một niềm tin
mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, một ý chí kiên quyết đấu
tranh để giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu.
Cũng có thể coi đó là những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ
Chí Minh. Lòng thương người của Hồ Chí Minh đồng nghĩa với tình yêu
thương dành cho các dân tộc bị áp bức. Tình yêu thương đó luôn đi cùng với
triết lý hành động vì con người. Đi tìm và khai phá con đường cách mạng,
Nguyễn Ái Quốc luôn đặt vấn đề tự do song hành với hạnh phúc của dân
tộc. Có người Mỹ nói: “Cụ Hồ vừa là Washington, vừa là Lincoln”[3]. Cuộc
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa non trẻ phải trải qua nạn đói khủng khiếp do Pháp – Nhật gây ra.
Trong tình cảnh khó khăn ấy, Người chủ trương phát động nhân dân tăng gia
sản xuất và thực hành tiết kiệm. Bản thân Người gương mẫu mỗi tháng nhịn
ăn ba bữa để góp gạo cứu đói. Ngay cả khi đi chiến dịch Biên giới, Người
không chịu cưỡi ngựa mà cùng đi bộ với các cán bộ, chiến sĩ để ngựa thồ
hành lý cho anh em. Khi đi thăm trại tù binh về, Người không còn áo khoác
vì Người đã cho một tên tù binh bị rét cóng. Tình yêu thương của Hồ Chí
Minh dành cho mọi kiếp người, mọi số phận. Một trong những học trò xuất
sắc của Người là Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng viết “Những tư
tưởng lớn của Hồ Chí Minh là những tình cảm lớn. Trong đời hoạt động
cách mạng của Bác, cũng như trong đời sống hàng ngày của mình, Hồ Chí
Minh luôn đối xử với người có lý, có tình. Trong tình yêu đó có chỗ cho mọi
người, không quên sót một ai và sắp xếp cho mọi người vị trí chiến đấu,
nói: "Mọi quyền hạn đều của dân". Cán bộ từ Trung ương đến cán bộ ở các
cấp các ngành đều là "đầy tớ" của dân, do dân cử ra và do dân bãi miễn.
Để phát huy vai trò động lực của con người, Hồ Chí Minh đã đề cập
đến một hệ thống nội dung và biện pháp (vật chất và tinh thần) nhằm tác
động vào các động cơ thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người. Đồng
thời, cũng chỉ ra những nội dung và biện pháp làm triệt tiêu các trở lực nhằm
thúc đẩy sự phát triển theo hướng tiến bộ.
Trong hệ thống các động lực chính trị - tinh thần, Hồ Chí Minh chú
trọng trước hết đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa,
đạo đức cách mạng đồng thời không coi nhẹ vai trò tác động của các nhân
tố tinh thần khác, như văn hoá, khoa học, pháp luật đặc biệt, Người chú
trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi "thực hành dân chủ là cái
chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn".
Là nhà duy vật macxít, Hồ Chí Minh hiểu hành động của con người
luôn gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ, vì vậy, đi đôi với các biện pháp
chính trị - tinh thần, Hồ Chí Minh không coi nhẹ hay bỏ qua các động lực
vật chất, khéo léo kết hợp các loại động lực với nhau, tạo sức mạnh tổng
hợp, thúc đẩy tính năng động cách mạng của con người. Người tôn trọng và
khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, chủ trương kết
hợp hài hoà ba lợi ích, sao cho "Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có
lợi". Nhưng muốn khai thông động lực thì phải khắc phục trở lực kìm hãm
sự phát triển của con người, trong đó "căn bệnh mẹ" cực kỳ nguy hiểm là
chủ nghĩa cá nhân phải được phê phán mạnh mẽ, kiên quyết tẩy trừ[7].
3.2 CHIẾN LƯỢC HỒ CHÍ MINH VỀ QUAN ĐIỂM “TRỒNG NGƯỜI”
a. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người:
Trong sự nghiệp trồng người của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa
ra một định nghĩa vô cùng giản dị mà đúng đắn về “con người”. Theo quan
điểm của Người, “người” ở đây có ý nghĩa chính là gia đình, anh, em , bạn
bè, cũng có nghĩa là cả dân tộc hay sâu xa hơn là cả thế hệ của loài người
khắp thế giới và châu lục. Hồ Chí Minh không thừa nhận con người trừu
thành hiện thực[3]. Chính vì những lẽ đó nên từ khi có chính quyền, người
đã chủ động thực hiện nhiệm vụ khai trí cho dân dù cho đất nước có đang
gặp rất nhiều khó khăn từ những cuộc chiến khốc liệt. Hồ Chí Minh đã từng
nói rằng “giặc dốt” là vô cùng nguy hiểm, được xếp trên cả giặc ngoại xâm
vì vậy nên chiến dịch “chống giặc dốt” đã được phát động một cách mạnh
mẽ và được toàn dân hưởng ứng, đó là bước khởi đầu và cũng là nhiệm vụ
thường xuyên của sự nghiệp mở mang dân trí của đảng ta. Người chỉ rõ:
"Dốt nát cũng là kẻ địch Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành
chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa dân ta vào
nơi mù quáng Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.
Từ đó sự nghiệp giáo dục là của toàn thể dân tộc và đối tượng cũng là
toàn thể dân tộc. Người đã cần cù mở từng lớp nhỏ, chắt chiu rèn luyện từng
con người với cả một tấm lòng của sự nhiệt tình, kiên nhẫn và tràn ngập yêu
thương. Ngoài ra người còn luôn luôn lắng nghe tiếp thu và học hỏi nhiều ý
kiến của dân, Người viết “Dân rất thông minh, quần chúng kinh nghiệm,
sáng kiến rất nhiều, chỉ cần mình có biết học hay biết lợi dụng mà thôi".
Người căn dặn: “Phải học, học ở nhà trường, học trong sách vở, học ở quần
chúng nhân dân, không học quần chúng là một sai lầm lớn”.
Hồ Chí Minh luôn đề cao việc giáo dục trong sự nghiệp xây dựng đất
nước, xây dựng CNXH. “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm
trồng người”. Người luôn đặt niềm tin tuyệt đối vào khả năng giáo dục nước
nhà. Người chỉ rõ Tiền đồ của dân tộc chúng ta sẽ ra sao, một phần quan
trọng lŕ do sự nghiệp giáo dục trực tiếp quyết định:
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền
Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên".[8]
Đặc biệt Hồ Chí Minh luôn tin tưởng vào các thế hệ thanh thiếu niên và đặt
rất nhiều hy vọng vào những người chủ tương lại của đất nước, như người
từng nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt
• Thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tinh
thần nhân ái, khoan dung.
• Chú trọng phát triển đồng đều cả tri thức, tình cảm, ý chí.
• Phải có sự thống nhất giữa khối óc, trái tim và đôi bàn tay.
Người dạy: “Những gương người tốt làm việc tốt muôn hình, muôn vẻ
là vật liệu quý để các chú xây dựng con người… Lấy gương người tốt, việc
tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây
dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc
sống mới”.
e. Bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau:
Người đã từng viết trong di chúc của mình “Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc rất quan trong và rất cần thiết”.Trong việc giáo
dục, bồi dưỡng những người kế tục ý tưởng của cách mạng, phải quan tâm
đến đức và tài là điều vô cùng quan trọng. Người rất quan tâm tới những
chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung
phong và căn dặn: “Đảng và chính quyền cần chọn một số ưu tú nhất, cho
các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ
và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững
chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi của chủ
nghĩa xã hội ở nước ta”. Điều này thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Hồ
Chí Minh trong công cuộc lựa chọn rèn luyện các nhân tố của con người.
Người rất quan tâm “chiêu hiền đãi sĩ”, “cầu người hiền tài” và luôn
nhắc nhở phải “khéo dùng cán bộ”, phải “hiểu và đánh giá đúng cán bộ”, “có
gan cất nhắc cán bộ”, muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt
hay kém. Trong cách sử dụng con người trong bộ máy nhà nước, người luôn
cân nhắc một cách hợp lý để đạt hiệu quả tốt nhất, không lãng phí nhân tài.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong chiến lược “trồng người”
chính là sự kết tinh những tinh hoa cao đẹp của truyền thống dân tộc, nhân
loại và tư tưởng của thời đại: Tư tưởng nhân đạo cộng sản. Ngày nay, trong
sự nghiệp đổi mới của đất nước, cùng với những mặt tích cực của cơ chế thị
nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã chỉ
rõ, chưa đáp ứng kịp thời những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực
cho công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nghị quyết hội nghị đã chỉ ra 5 yếu kém
(về quy mô cơ cấu, về đội ngũ giáo viên, về chất lượng và hiệu quả, về kỷ
cương trong giáo dục, về thực hiện công bằng xã hội) của ngành giáo dục và
đào tạo của nước ta. Số liện thống kê xác nhận, chúng ta có hơn 10.000 giáo
sư, PGS, Tiến sĩ, Thạc sĩ chiếm 2,3% tổng số lao động xã hội. Trong đó lĩnh
vực khoa học công nghệ chiếm 15,4%, nhưng 67,5% của tổng số cán bộ kỹ
thuật ấy lại làm việc trong lĩnh vực phi vật chất, còn sản xuất kinh doanh chỉ
chiếm 32,7% (cán bộ khoa học - kỹ thuật cao trực tiếp làm việc trong các
lĩnh vực sản xuất của Thái Lan là 58,8%, Hàn Quốc 48%, Nhật 64,4%).
Trong khi cơ cấu và phân bổ cán bộ khoa học và công nghệ chưa cân đối,
còn nhiều bất hợp lý, thì cán bộ có trình độ cao, giỏi chỉ lại tập trung làm
việc chủ yếu ở cấc cơ quan trung ương. Rõ ràng ở cơ sở và các đơn vị sản
xuất kinh doanh lại đang rất thiếu cán bộ có trình độ cao. Bộ giáo dục và đào
tạo nhận định: để có mức tăng trưởng 9-10% GDP thì tốc độ tăng trưởng
nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật phải đạt từ 4-5%/năm. Trên thực tế, mặc
dù đã có rất nhiều nỗ lực nhưng đào tạo chuyên gia trình độ cao mới chỉ đạt
từ 2-3%/năm.
Về văn hoá, cơ bản chúng ta đã phổ cập được ở diện rộng, nhưng trình
độ chung của người lao động vẫn còn ở mức thấp, lao động có trình độ cấp 1
chiếm 12,72%, cấp 2 có hơn 40%, cấp 3 vào khoảng 30%, trung học chuyên
nghiệp 6,84%, đại học 11%.[4]